Đảng ta luôn quan niệm rằng, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ và vấn đề toàn cầu hóa giai đoạn hiện nay, tất cả các nước, không phân biệt giàu hay nghèo, ph
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngay từ rất sớm, Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập với thế giới Đảng ta luôn quan niệm rằng, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ và vấn đề toàn cầu hóa giai đoạn hiện nay, tất cả các nước, không phân biệt giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, nếu muốn phát triển và không bị tụt hậu đều phải tích cực và chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế; tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trong bối cảnh nước ta đang “mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế và khu vực”, “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, xu hướng vận động cũng như hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách đối ngoại và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập
Trên cơ sở kiến thức được trang bị của môn học Quan hệ Quốc tế trong chương trình học Hoàn thiện kiến thức để cấp bằng Cao cấp lý luận chính trị, em
xin đề cập tới một số nội dung cơ bản về “Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay”.
Đây là một chủ đề lớn, đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu, nên trong phạm vi bài thu hoạch của mình, em chỉ xin phép được khái quát, tổng hợp nhằm củng cố kiến thức, nâng cao trình độ lý luận chính trị về vấn quan hệ quốc
tế, quan điểm, chính sách về quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 2NỘI DUNG
I CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH VÀ SỰ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Chính sách đối ngoại:
Chính sách đối ngoại của một quốc gia là tập hợp các chiến lược mà quốc
gia đó sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và tổ chức quốc
tế, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa – xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi ích của quốc gia đó Vai trò của chính sách đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, khi không quốc gia nào có thể tồn tại biệt lập và sự giao lưu, hợp tác ngày càng được chú trọng
1.2 Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình các nước tiến hành hoạt động tăng cường gắn
kết với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ luật chơi chung, dựa trên các định chế quốc tế mà các quốc gia thừa nhận Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, với tính chất, quy mô, phạm vi, hình thức rất khác nhau
2 Cơ sở hoạch định và sự hình thành chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà nước
2.1 Cơ sở để hoạch định
2.1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Chủ nghĩa Mác-Lênin cung cấp cho chúng ta thế giới quan và phương pháp luận về đường lối, chính sách đối ngoại
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là một hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế, về chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới Thực tế cách mạng nước ta chứng tỏ rằng, trên lĩnh vực đối ngoại, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng cho nhận thức và hành động của chúng ta, từ việc đánh giá
Trang 3cục diện thế giới, quan hệ với các nước lớn, đến lợi ích dân tộc, tập hợp lực lượng quốc tế, dự báo thời cơ và nắm đúng thời cơ, phương châm, phương pháp đối ngoại
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nổi bật ở một số đặc điểm sau:
- Thứ nhất, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, tự lập tự cường Đảng ta
luôn thấm nhuần quan điểm chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, xuất phát
từ thực tiễn Việt Nam để xác định phương hướng, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện trong từng giai đoạn cách mạng cho phù hợp
- Thứ hai, huy động sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức
mạnh thời đại Trong tư tưởng đối ngoại, Hồ Chí Minh quan tâm phát huy sức mạnh dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định
- Thứ ba, Hồ Chí Minh cũng đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất
cả các nước dân chủ
- Thứ tư, ngoại giao trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ngoại giao nhân văn, chính nghĩa, vì hòa bình và phát triển
- Thứ năm, phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh là “ Dĩ bất biến, ứng vạn
biến” Cái “ bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, là mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để giữ được cái “ bất biến” thì phải linh hoạt, uyển chuyển, tùy thời cơ; đó chính là cái “ vạn biến”
2.1.2 Tình hình thế giới và khu vực
- Chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, phong trào
cộng sản quốc tế lâm vào khủng hoảng toàn diện, sâu sắc; trật tự thế giới hai cực
Xô - Mỹ đổ vỡ làm đảo lộn cục diện thế giới; chiến tranh lạnh kết thúc, phương thức liên minh và tập hợp lực lượng giữa các nước thay đổi,
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt tác động sâu sắc tình hình kinh tế, chính trị xã hội và quan hệ quốc tế Quá trình toàn cầu hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ lôi cuốn ngày càng hiều nước tham gia
2.1.3 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước
Sau năm 1991, Việt Nam đứng trước những khó khăn, thử thách: Nền sản xuất trì trệ, năng suất hiệu quả kém, lạm phát tăng nhanh, khủng hoảng kinh tế
Trang 4diễn biến phức tạp Yêu cầu về cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, phát triển giáo dục, y tế, xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng đặt ra bức xúc Các thế lực đế quốc thù địch tăng cường bao vây, cấm vận kinh
tế, chống phá về chính trị, cô lập Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế Chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đổ vỡ, chủ nghĩa xã hội hiện thực thoái trào Việt Nam không còn nhận được sự viện trợ, giúp đỡ từ Liên Xô và các nước XHCN như trước đây
Mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn này là xây dựng thành công CNXH Tiến hành đổi mới, Đảng từng bước xác định các mục tiêu, nhiệm vụ: khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bị bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đưa nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020…
2.1.4 Kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc
Truyền thống ngoại giao hòa bình hữu nghị; kết hợp giữa ngoại giao với quân sự, kinh tế; tinh thần độc lập tự chủ, sự linh hoạt và sáng tạo trong hoạt động đối ngoại…
2.2 Quá trình hình thành, phát triển chính sách đối ngoại đổi mới
- Từ 1986 đến 1991: Định hình những quan điểm cơ bản của đường lối đối
ngoại đổi mới (chuyển từ tư duy chính trị sang tư duy kinh tế)
- Từ 1991 đến 1996: Hình thành về cơ bản đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế
- Từ 1996 đến nay: Hoàn thiện và phát triển đường lối đối ngoại đổi mới với nội dung chủ động và hội nhập quốc tế (tất cả các lĩnh vực).
- Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) tiếp tục bổ sung, phát triển “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế…”
- Đại hội lần thứ XII của Đảng (2016) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ công tác đối ngoại là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện
Trang 5nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế…
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1 Mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, nhiệm vụ đối ngoại
1.1 Về mục tiêu: Tạo lập được môi trường quốc tế hòa bình thuận lợi cho
công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2 Tư tưởng chỉ đạo: Giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ
nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từng đối tượng mà Việt Nam có quan hệ
1.3 Nguyên tắc đối ngoại:
- Bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu
- Bốn nguyên tắc cụ thể trong hoạt động đối ngoại là: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi
1.4 Nhiệm vụ đối ngoại:
- Củng cố và giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng XHCN Bảo vệ
độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh quốc gia, truyền
thống, bảo sắc văn hóa dân tộc và môi trường sinh thái
- Thực hiện chính sách đối ngoại góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Trang 62 Phương châm đối ngoại
- Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Thực chất phương châm này
là nhằm xử lý mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và đoàn kết quốc tế trong quan
hệ đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới
- Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại Đây là sự phát triển sáng tạo bài học của cách mạng Việt Nam về kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế trong điều kiện lịch sử mới
- Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế Trong điều
kiện mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam đứng trước những cơ hội mới, song nguy cơ và thách thức từ bên ngoài cũng gia tăng Do đó, cần phải nhận thức đúng và nắm vững vấn đề hợp tác và đấu tranh, coi đây là hai mặt gắn bó hữu cơ của quan hệ quốc tế, phải hết sức tránh hợp tác một chiều hoặc đấu tranh một chiều
- Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước Phương châm này thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần vào hoà bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới
3 Phương hướng hoạt động đối ngoại chủ yếu hiện nay
- Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển
- Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới
- Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh
- Coi trọng quan hệ với các nước lớn, đặc biệt là với Trung Quốc và Mỹ
- Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển
Trang 7- Mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương ở khu vực và thế giới.
- Coi trọng và nâng cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân
- Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đối ngoại, chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp
- Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng,
an ninh…
4 Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
4.1 Mục tiêu hội nhập: Tranh thủ các nguồn lực bên ngoài (ngoại lực), mở
rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
4.2 Quan điểm chỉ đạo hội nhập:
- Phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
- Phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo
- Cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của quá trình hội nhập
- Đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù họp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng những quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước
ta tham gia
- Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững
an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ diễn biến hoà bình
4.3 Nội dung hội nhập:
- Mở rộng các các quan hệ song phương và đa phương
- Tham gia các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới; thực hiện có hiệu quả những cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập
Trang 8III THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI TẠI VIỆT NAM
1 Những thành tựu đạt được
- Triển khai đường lối, chính sách của Đảng về mở rộng quan hệ đối ngoại
và hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định an ninh quốc gia, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế Trong quan hệ song phương, nước ta đã củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với các nước láng giềng Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào tiếp tục có nhiều bước phát triển mới Quan hệ Việt Nam - Campuchia được thúc đẩy
trên cơ sở phương châm chỉ đạo “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài" Hai nước đã ký nhiều hiệp định hợp tác trong các
lĩnh vực, trong đó quan trọng nhất là việc Campuchia cam kết công nhận và tôn trọng các hiệp ước, hiệp định biên giới đã ký với Việt Nam những năm 80 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh và toàn diện Việt Nam
và Trung Quốc có quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống lâu đời, mặc dù trong lịch sử có những lúc thăng trầm, nhưng hợp tác và hữu nghị vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ hai nước Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đều trong thời kỳ rất quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, sự phát triển của mỗi bên đều là cơ hội cho bên kia; giữa hai Đảng, hai nước có rất nhiều lợi ích chung
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của hoà bình, ổn định và hội nhập khu vực, từ sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã ngày càng tham gia tích cực và đầy đủ vào mọi hoạt động của ASEAN Mặt khác, Việt Nam còn tham gia với tinh thần trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác đa phương của ASEAN với các đối tác bên ngoài như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hợp tác Á - Âu (ASEM), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á…
- Bên cạnh sự phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, Việt Nam năng động cải thiện quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn và các tổ chức quốc tế trong quá trình hội nhập
Trang 9- Quan hệ Việt - Mỹ được bình thường hoá có ý nghĩa chiến lược đối với yêu cầu an ninh và phát triển của nước ta, tác động mạnh đến quan hệ của Việt Nam
với tất cả các nước khác, nhất là các nước phương Tây Đối với Liên bang Nga,
Việt Nam đã chủ động đề ra những biện pháp nhằm duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh quốc phòng Với quan hệ chính trị phát triển tốt đẹp, hợp tác về kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ có bước phát triển thể hiện sự tin cậy lẫn nhau Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản, nhất
là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, văn hoá, du lịch, chuyển giao công nghệ Với Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã ký với hầu hết các nước EU Hiệp định khung về hợp tác, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Tây Ban Nha, Anh, Đức, Hà Lan Phát triển quan
hệ song phương đã góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU
- Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 nước, quan hệ kinh tế với hơn 224 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 10 nước; là thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực
và quốc tế quan trọng với vị thế và vai trò ngày càng được nâng cao: ra nhập ASEAN (1995), tham gia AFTA (1996), là thành viên sáng lập ASEM (1996), gia nhập APEC (1998), trở thành thành viên thứ 150 của WTO (2007), tham gia TPP (2015), v.v Hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm thúc đẩy Đến nay, Việt Nam đã thu hút được gần
20 nghìn dự án FDI với tổng số vốn đăng ký vượt trên 240 tỷ USD Bên cạnh các thị trường chủ lực là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, ASEAN, Australia, v.v hiện nay hàng hóa Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như Nga, Trung Đông, Mỹ Latinh
và châu Phi
- Hoạt động ngoại giao đa phương có sự trưởng thành rõ rệt Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEAN,
Trang 10ARF, ASEM, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp , Việt Nam đã phối hợp với nhiều nước, trước hết là các nước đang phát triển đấu tranh bảo vệ hoà bình, bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng chấp hành Tổ chức Kinh tế - Xã hội, trở thành uỷ viên hội đồng điều hành của nhiều tổ chức quan trọng trực thuộc Liên hợp quốc như UNDP, UNFPA, UNICEF, Uỷ ban Giải trừ quân bị Đặc biệt, thành tựu ấn tượng nhất trên lĩnh vực ngoại giao đa phương là việc Việt Nam được bầu làm uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 với số phiếu áp đảo, đánh dấu quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã trở nên sâu rộng
- Những thành tựu to lớn mà nước ta đạt được trong hội nhập quốc tế, trước hết trên lĩnh vực kinh tế, là kết quả của cả một quá trình thực hiện nhất quán đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới Những thành tựu đó đã tạo thêm niềm tin để nước ta càng vững bước trên đường hội nhập quốc tế, tận dụng tốt nhất những cơ hội mới đang mở ra
2 Một số khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những thành tựu lớn, quá trình thực hiện chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta cũng còn những khó khăn, hạn chế nhất định Trong một số lĩnh vực quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế vào những thời điểm cụ thể, sự đổi mới tư duy còn chậm, chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu phát triển trong nước và phù hợp với những chuyển biến của tình hình thế giới Một số mối quan hệ đối ngoại đã được xác lập nhưng vẫn còn những biểu hiện hạn chế về tính chiều sâu, vẫn còn cần có thêm các nhân tố cho sự phát triển vững chắc, ổn định, lâu dài
Mối quan hệ giữa kinh tế, an ninh, chính trị, đối ngoại trong một số trường hợp cụ thể chưa gắn kết thật mật thiết với nhau Trong công tác hội nhập quốc
tế, tiến độ của công việc chuẩn bị về pháp lý và thể chế vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu hội nhập, với những chuyển biến mới của tình hình thế giới và khu vực Nền tảng để phát triển nền kinh tế bền vững chưa vững chắc, môi trường thu hút đầu tư, năng lực giải ngân các dự án đầu tư nước ngoài và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế còn hạn chế