1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoạch lớp CCLLCT, môn KTCT, tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và ứng dụng với việt nam

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu hoạch lớp CCLLCT, môn KTCT, tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và ứng dụng với Việt Nam
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Lý luận giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác. Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”. Nhưng, để nhận thức đúng bản chất khoa học của lý luận này cần đặt nó trong những điều kiện cụ thể của từng quốc gia, dân tộc, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Cho nên, chính Mác chứ không phải ai khác, là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường. Thực chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao. Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hiện nay gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù nền kinh tế thị trường ở nước ta có tính đặc thù của nó, song đã là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư. Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu những phạm trù, công cụ và việc sử dụng chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ di sản lý luận của Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lý luận giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác” Nhưng, để nhận thức đúng bản chất khoa học của lý luận này cần đặt nó trong những điều kiện cụ thể của từng quốc gia, dân tộc, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Cho nên, chính Mác chứ không phải ai khác, là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường Thực chất của nền kinh tế thị trường

là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao Nước ta đang phát triển kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hiện nay gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù nền kinh tế thị trường ở nước ta

có tính đặc thù của nó, song đã là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu những phạm trù, công cụ và việc sử dụng chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ di sản lý luận của Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn

Trang 2

NỘI DUNG

1 Lý luận về giá trị thặng dư của C.Mác

Trong nền sản xuất hàng hóa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ vì

nó là vật mang giá trị trao đổi

Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định, nhưng bản thân tiền không phải là tư bản Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được

sử dụng để bóc lột lao động của người khác Trong lưu thông hàng hóa gián đơn thì tiền được coi là tiền thông thường, vận động theo công thức: H T

-H, nghĩa là sự chuyển hóa của hàng hóa thành tiền rồi tiền lại chuyển hóa thành hàng hóa Ở đây tiền không không phải là tư bản mà đơn thuần chỉ là phương tiện để đạt tới một mục đích bên ngoài lưu thông Còn tiền được coi

là tư bản thì vận động theo công thức T - H - T, tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa rồi hàng hóa lại chuyển hóa ngược lại thành tiền Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng như trong lưu thông hàng hóa giản đơn mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy nếu số tiền thu

về bằng số tiền ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tư bản

là T - H - T’, trong đó T’ = T + ΔT Số tiền trội hơn so với số tiền đã ứng raT Số tiền trội hơn so với số tiền đã ứng ra cΔT Số tiền trội hơn so với số tiền đã ứng raT) được C.Mác gọi là giá trị thặng dư Số tiền ứng ra ban đầu đã chuyển hóa thành tư bản Giá trị thặng dư do đâu mà có? C.Mác đã chỉ rõ: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” Đó là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản

Trang 3

Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng:

Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản

giống như nhưng yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sủ dụng sao cho

có hiệu quả nhất

Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của tư bản, chứ không phải của

người công nhân

C.Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh là đối tượng nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giả định khoa học thông qua giả thiết chặt chẽ để tiến hành nghiên cứu: Không xét tới ngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêu dùng chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm

và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế tái sản xuất giản đơn

Từ thực tiễn nghiên cứu quá trình sản xuất đã rút ra một số kết luận sau: Một là, nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư chúng ta nhận

thấy mâu thuẫn của công thức chung của tư bản đã được giải quyết Việc chuyển hóa tiền thành tư bản diễn ra trong lĩnh vực lưu thông và đồng thời không diễn ra trong lĩnh vực đó Và chỉ có trong lưu thông nhà tư bản mới mua được một thứ hàng hóa đặc biệt, đó là sức lao động

Hai là, phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất ra chúng ta thấy có hai phần:

- Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể hóa của người công nhân

mà được bảo tồn và di chuyển vào giá trị của sản phẩm mới gọi là giá trị cũ

- Giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao động gọi là giá trị mới, phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư

Ba là, ngày lao động của công nhân trong xí nghiệp tư bản được chia

thành hai phần:

Trang 4

- Một phần gọi là thời gian lao động cần thiết: trong thời gian lao động này người công nhân tạo ra được một lượng giá trị ngang tầm với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho mình

- Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư: trong thời gian lao động thặng dư người công nhân lai tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị sức lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư

và bộ phận này thuộc về nhà tư bản

Từ đó Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:

Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt

Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản

đã trả cho họ Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó giá trị sức lao động được trả ngang giá

Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra nhiều giá trị thặng dư, do đó giai cấp tư sản đã không từ bất cứ một thủ đoạn nào để bóc lột giá trị thặng

dư Những phương pháp cơ bản để đạt được mục đích đó là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối

Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm những ưu thế, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi mà kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm vị thế chủ yếu Hai phương pháp trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân là thuê trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản

2 Vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong bối cảnh phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nên phương thức tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối ctạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời

Trang 5

gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động xã hội, giá trị sức lao động

và thời gian lao động tất yếu không thay đổi) không được sử dụng, thời gian lao động không bị kéo quá 8 tiếng một ngày hay 48 tiếng một tuần cĐiều 68

Bộ luật Lao động) Gạt bỏ đi mục đích và tính chất của tư bản thì có thể áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối ctạo ra do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ) và biến tấu của nó - giá trị thặng dư siêu ngạch cphần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó) vào nền kinh tế Việt Nam Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Nhưng, phải khẳng định rằng, điều đó không có nghĩa là lý luận giá trị thặng dư không còn giá trị, mà sự thật đó là sự vận dụng sáng tạo lý luận giá trị thặng dư nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung vào sự nghiệp phát triển kinh tế ở nước ta

Bối cảnh quốc tế và thực tiễn xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ở Việt Nam cho thấy: lý luận giá trị thặng dư của Mác cần được nhận thức một cách sâu sắc hơn và hoàn thiện hơn khi điều kiện lịch sử ngày nay đã có nhiều biến đổi, theo các hướng như sau:

Một là, khai thác học thuyết giá trị thặng dư về nền kinh tế hàng hoá.

Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Cho nên, chính Mác chứ không phải ai khác, là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường Thực chất của nền kinh tế thị trường

là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao Nước ta đang phát triển kinh

Trang 6

tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hiện nay gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù nền kinh tế thị trường ở nước ta

có tính đặc thù của nó, song đã là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu những phạm trù, công cụ và việc sử dụng chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ di sản lý luận của Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn

Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã phát triển nền kinh tế thị trường, qua thị trường, giai cấp tư sản mới mua được tư liệu sản xuất và sức lao động, mới bán được hàng hoá và do đó bóc lột được giá trị thặng dư do người lao động tạo ra Trong nền kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật giá trị thặng dư, các nhà tư bản-các doanh nghiệp đã không ngừng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, tích cực hợp lý hoá quá trình sản xuất, tiết kiệm các yếu tố đầu vào, tìm hiểu nhu cầu thị trường… để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các tiềm năng về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh… được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ,

từ đó làm cho nền kinh tế trở nên năng động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trong khu vực kinh tế nhà nước và tập thể, chúng ta cần vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư mà các nhà tư bản đã sử dụng để phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với thực hiện phân phối theo lao động và

Trang 7

hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động

Hai là, làm rõ hơn bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản ngay trong

thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay Qua nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư, chúng ta phải khẳng định rằng, sự giàu có của nhà tư bản là kết quả của sự bóc lột giá trị thặng dư Có người cho rằng, nhà tư bản thu nhiều lợi nhuận là do lao động quản lý, lao động khoa học - kỹ thuật của nhà tư bản, nhưng khi phê phán luận điểm của nhà kinh tế chính trị học J.Say cho rằng lợi nhuận doanh nghiệp là tiền công trả cho lao động quản lý của nhà tư bản, C.Mác đã chỉ rõ: Chỉ cần dành ra một khoản thù lao nhỏ mọn là nhà tư bản có thể trút gánh nặng quản lý đó cho người giám đốc làm thuê nhưng nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận doanh nghiệp Như vậy, khi quy mô kinh doanh ngày càng lớn, nhà tư bản đã hiện rõ sự bóc lột của mình đó là có một khoản lợi nhuận lớn nhưng không phải bỏ sức lao động mới có được mà chỉ cần là người sở hữu tư bản

Ba là, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không phải là để kỳ thị

thành phần kinh tế tư bản tư nhân mà để khuyến khích nó phát triển, bởi vì có hiểu rõ bản chất của nó mới có chính sách đúng đắn với nó Chẳng hạn, hiểu

rõ mục đích và động cơ của sản xuất TBCN là thu càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, thì muốn khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển

và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta phải có chính sách như thế nào

để họ thu được lợi nhuận thoả đáng, thậm chí cao hơn lợi nhuận thu được khi học đầu tư vào các nước láng giềng của ta Mặt khác, phải có biện pháp điều tiết bớt sự chênh lệch quá đáng giữa người giàu và người nghèo, đồng thời có các chính sách xã hội để giảm bớt bất công

Bốn là, khai thác những luận điểm của Mác nói về qúa trình sản xuất,

thực hiện, phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện

Trang 8

pháp, thủ đoạn nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản nhằm góp phần vào việc quản lý các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta sao cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng các thành phần kinh tế này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội

Năm là, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không chỉ để hiểu bản

chất của chủ nghĩa tư bản, mà còn để vận dụng vào thực hiện quan điểm, đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân để xây dựng thành công cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội hoá sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn Trên cơ sở những gì được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên, đặc biệt là về mặt tổ chức - kinh tế, vận dụng vào nền kinh tế nước ta thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn, hiện đại sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư để thực hiện nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là CNH, HĐH nền kinh tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người lao động

Trên tinh thần ấy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội X c2006): “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế ti thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH, phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao, dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức mới nhất của nhân loại.”

Trang 9

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là cơ sở lý luận của đường lối ưu tiên CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam

Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy tư bản có thể vận dụng vào việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Từ quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống cho thấy, các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh phải năng động, sáng tạo, tiết kiệm chi phí, khấu hao nhanh công nghệ để nhằm ổn định và phát triển trong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường

Như vậy hiện nay ở nước ta, mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói

chung và lý luận giá trị thặng dư nói riêng có sự thay đổi Nếu trước đây, mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị là để phê phán phương thức sản xuất TBCN, tìm ra bản chất bóc lột giá trị thặng dư của CNTB cổ điển và xu hướng thay thế CNTB bằng một xã hội tốt đẹp hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như trước, chúng ta còn có mục đích nghiên cứu, khai thác học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc về kinh tế thị trường nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh

tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới

Ngày đăng: 14/12/2022, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác-Lênin cHệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận chính trị, H2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác-Lênin hệ cao cấp lý luận chính trị
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2016
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cHệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận chính trị, H2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2005
3. Đảng Cộng sản Việt Nam c1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: c1996
4. Đảng Cộng sản Việt Nam c2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: c2001
5. Đảng Cộng sản Việt Nam c2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
6. Đảng Cộng sản Việt Nam c2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Năm: c2011
7. Đảng Cộng sản Việt Nam c2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2016

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w