PHẦN MỞ ĐẦU Tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ), giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” được ra đời trong bối cảnh lịch sử đầy phức tạp như thế, với lực lượng sản xuất có sự phát triển nhảy vọt do nhiều phát minh khoa học và kỹ thuật được ứng dụng vào trong sản xuất. Chính sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền đã làm cho nền kinh tế phát triển và trở thành cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tự do cạnh tranh lúc này đã chuyển sang CNĐQ. Nhiều ý kiến đặt ra là CNĐQ có còn nằm trong phương thức TBCN hay không? bản chất của nó có còn không? có nhiều nhà tư sản đã nghiên cứu nhưng họ đều không trình bày được bản chất của CNĐQ và xu hướng vận động của nó. Bằng thực tiễn lịch sử và thực tiễn cuộc sống cùng tư tưởng của các nhà tư sản V.I.Lênin đã chỉ ra được bản chất và xu hướng vận động của CNĐQ và đã phê phán quan điểm của các nhà tư sản đã bênh vực cho CNĐQ. Thời đại hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, vạn vật kết nối In ternet với xu hướng hội nhập, quốc tế hoá mạnh mẽ mang tính toàn cầu. Sự vận động của các dòng vốn đầu tư diễn ra với quy mô và chất lượng ngày càng lớn và cùng với xu hướng đó sự phân công lao động quốc tế cũng ngày càng sâu sắc. Các quốc gia muốn phát triển kinh tế không thể thực hiện chính sách “đóng cửa” mà phải đề ra chính sách kinh tế hợp lý, kết hợp một cách tối ưu các yếu tố phát triển bên ngoài và bên trong, đưa nền kinh tế hòa nhập với nền kinh tế thế giới. Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nhân tố hết sức quan trọng, là xu hướng tất yếu khách quan đối với tất cả các nước trong đó có Việt Nam. Xuất khẩu tư bản ngày càng trở thành chiến lược kinh tế quan trọng và được mở rộng về quy mô với những tính chất mới so với trước. Việc xem xét trên bình diện chung nhất quá trình xuất khẩu tư bản, xu thế vận động và phát triển của nó cùng những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong gia đoạn hiện nay, thông những nhận xét cần thiết trong việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mang tính lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc. Chính vì lý do đó tôi chọn chủ đề “ Nhận thức về những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản và định hướng vận dụng vào thu hút, sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” làm bài thu hoạch hết học phần kinh tế chính trị Mác – Lênin.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ), giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa
tư bản” được ra đời trong bối cảnh lịch sử đầy phức tạp như thế, với lực lượng sản xuất có sự phát triển nhảy vọt do nhiều phát minh khoa học và kỹ thuật được ứng dụng vào trong sản xuất Chính sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền đã làm cho nền kinh tế phát triển và trở thành cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tự do cạnh tranh lúc này đã chuyển sang CNĐQ Nhiều ý kiến đặt ra
là CNĐQ có còn nằm trong phương thức TBCN hay không? bản chất của nó có còn không? có nhiều nhà tư sản đã nghiên cứu nhưng họ đều không trình bày được bản chất của CNĐQ và xu hướng vận động của nó Bằng thực tiễn lịch sử
và thực tiễn cuộc sống cùng tư tưởng của các nhà tư sản V.I.Lênin đã chỉ ra được bản chất và xu hướng vận động của CNĐQ và đã phê phán quan điểm của các nhà tư sản đã bênh vực cho CNĐQ
Thời đại hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, vạn vật kết nối In ternet với xu hướng hội nhập, quốc tế hoá mạnh mẽ mang tính toàn cầu Sự vận động của các dòng vốn đầu tư diễn ra với quy mô và chất lượng ngày càng lớn
và cùng với xu hướng đó sự phân công lao động quốc tế cũng ngày càng sâu sắc Các quốc gia muốn phát triển kinh tế không thể thực hiện chính sách “đóng cửa”
mà phải đề ra chính sách kinh tế hợp lý, kết hợp một cách tối ưu các yếu tố phát triển bên ngoài và bên trong, đưa nền kinh tế hòa nhập với nền kinh tế thế giới Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nhân tố hết sức quan trọng,
là xu hướng tất yếu khách quan đối với tất cả các nước trong đó có Việt Nam Xuất khẩu tư bản ngày càng trở thành chiến lược kinh tế quan trọng và được mở rộng về quy mô với những tính chất mới so với trước Việc xem xét trên bình diện chung nhất quá trình xuất khẩu tư bản, xu thế vận động và phát triển của nó cùng những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong gia đoạn hiện nay, thông những nhận xét cần thiết trong việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mang tính lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc Chính vì lý do đó tôi
chọn chủ đề “ Nhận thức về những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản và định hướng vận dụng vào thu hút, sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Trang 2Việt Nam” làm bài thu hoạch hết học phần kinh tế chính trị Mác – Lênin.
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
1 Lý luận về xuất khẩu tư bản và những biểu hiện mới của xuất khẩu
tư bản và những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản.
1.1 Tính tất yếu của xuất khẩu tư bản
Ngay khi bắt đầu phân tích V.I.Lênin đã khẳng định: “Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó sự cạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống trị,
là việc xuất khẩu hàng hoá Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới nhất,
trong đó các tổ chức độc quyền thống trị, là việc xuất khẩu tư bản”1 Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh là xuất khẩu hàng hoá còn đặc điểm của CNĐQ là xuất khẩu tư bản Do vậy xuất khẩu tư bản khác về chất so với xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu tư bản nhằm làm mục đích bóc lột giá trị thặng dư ở nước ngoài Còn xuất khẩu hàng hoá nhằm thực hiện giá trị hàng hoá đã được sản xuất ra ở trong nước mà thôi Đồng thời, sự thống trị của độc quyền dưới hình thái tư bản tài chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến, điển hình trong chủ nghĩa tư bản độc quyền và đó là một quá trình phát triển tất yếu khách quan của nền sản xuất TBCN Bởi vì:
Thứ nhất, sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển Đến giai đoạn độc
quyền, có nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật được áp dụng vào quá trình sản xuất làm cho sản xuất và trao đổi hàng hoá được phát triển và mở rộng phạm vi của mỗi quốc gia, do đó tạo cơ sở khách quan cho việc xuất khẩu tư bản Ông viết: “Sự phát triển của trao đổi ở trong nước, và đặc biệt là trên quốc tế, là một đặc điểm tiêu biểu của chủ nghĩa tư bản Sự phát triển không đều và có tính chất nhảy vọt của các doanh nghiệp khác nhau của các ngành công nghiệp khác nhau
và của những nước khác nhau là điều không tránh khỏi trong chế độ TBCN”2
Thứ hai, do hiện tượng “thừa tư bản” Sự thống trị của tư bản độc quyền
và tư bản tài chính dưới tác động chi phối của quy luật giá trị thặng dư đã làm gia tăng giá trị thặng dư ngày càng lớn, từ đó đưa tới tích luỹ tư bản tăng Vì vậy, dẫn đến hiện tượng “thừa tư bản” Tuy nhiên, số tư bản thừa này không phải
11, 2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.941.
Trang 4dùng để nâng cao mức sống của quần chúng trong các nước tư bản, số tư bản này cần phải đầu tư ra nước ngoài nhằm đem lại lợi nhuận cao hơn Hiện tượng “thừa
tư bản” ở đây là “thừa tương đối” nghĩa là nếu đem số tư bản này đầu tư trong nước sẽ đem lại lợi nhuận rất thấp mà do đó cần có nơi đầu tư để đem lại lợi nhuận cao hơn Do đó, xuất khẩu tư bản là đem “tư bản thừa” của các tổ chức độc quyền các tư bản tài chính sang các nước khác nhằm mục đích mở rộng sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản Lênin chỉ rõ: “Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn
là chủ nghĩa tư bản, số tư bản thừa vẫn còn được dùng không phải là để nâng cao mức sống của quần chúng trong nước đó, vì như thế thì sẽ đi đến kết quả là làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản, - mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu”1
Do một số nước kinh tế kém phát triển đã bị lôi cuốn vào guồng máy của chủ nghĩa tư bản thế giới Ở các nước này giá thuê đất, thuê công nhân rẻ, còn giá mua nguyên vật liệu cũng rất rẻ so với chính quốc cho nên đây là nơi đầu tư béo bở nhất Hơn nữa các nước này muốn phát triển kinh tế để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì yêu cầu đầu tiên là phải có vốn cho nên đã tạo khả năng thực hiện cho tư bản tài chính mang “tư bản” sang đầu tư Ngoài ra, cần phải lưu ý rằng để “tư bản thừa” và khu vực thiếu tư bản có thể “gặp nhau” thì cần phải có một điều kiện tiền đề tối thiểu quan trọng là hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật phải hoàn thành về cơ bản Vì thế, Lênin không quên nhắc nhở: “Sở dĩ
có thể xuất khẩu được tư bản là vì một số nước lạc hậu đã bị lôi cuốn vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản thế giới, những tuyến đường sắt chính đã được xây dựng xong hoặc đã bắt đầu được xây dựng, đã có những điều kiện tối thiểu để phát triển công nghiệp,…”2
Thứ ba, “Sở dĩ cần phải xuất khẩu tư bản là vì trong một số ít nước chủ
nghĩa tư bản đã "quá chín", và tư bản thiếu địa bàn đầu tư "có lợi" (trong điều kiện nông nghiệp lạc hậu, quần chúng nghèo khổ)”3
11, 2, 3 Xem V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.942.
2
Trang 5Chính vì vậy, “xuất khẩu tư bản chỉ đạt tới mức phát triển rất lớn vào hồi đầu thế kỷ XX, khi mà tư bản tài chính đã trở thành thế lực thống trị tại các nước
tư bản phát triển Lợi nhuận từ xuất khẩu tư bản đã trở thành cơ sở chắc chắn để cho bọn đế quốc áp bức và bóc lột phần lớn các dân tộc và các nước trên thế giới, và là cơ sở cho sự ăn bám có tính chất TBCN của một nhúm quốc gia hết sức giàu có”1
1.2 Các hình thức của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới hai hình thức: Hình thức đầu tư kinh doanh hay còn gọi là đầu tư trực tiếp và hình thức đầu tư cho vay hay còn gọi là hình thức đầu tư gián tiếp
1.2.1 Hình thức đầu tư kinh doanh (đầu tư trực tiếp)
Đầu tư trực tiếp là hình thức đưa tư bản vào để xây dựng các xí nghiệp, công ty mới hoặc mua lại những xí nghiệp công ty làm ăn thua lỗ ở các nước khác để đầu tư kỹ thuật mới hoặc hùn vốn liên kết, liên doanh cùng sản xuất kinh doanh Người đầu tư trực tiếp quản lý vốn và tổ chức kinh doanh nên việc lỗ hay lãi phải chịu và phải nộp một phần lợi nhuận cho nước nơi mình đầu tư Các lĩnh vực đầu tư thường là kết cấu hạ tầng kinh tế như đường xá cầu cống và các nhà máy thuỷ điện Ngoài ra còn đầu tư vào một số cơ sở nông nghiệp và khách sạn
Ví dụ, các hình thức và khu vực xuất khẩu ở nước Anh Nước Anh là nước
có nhiều thuộc địa nhất bao gồm châu Á, châu Âu và châu Mỹ Tư bản mà đế quốc Anh xuất khẩu rãi rác đều các châu Hình thức xuất khẩu tư bản là để kinh doanh Hình thức đầu tư trực tiếp là hình thức chủ yếu của nước Anh đối với các nước khác Lênin viết: “Đối với nước Anh, những thuộc địa của nó chiếm vị trí hàng đầu, những thuộc địa này ở Châu Mỹ cũng rất lớn (như Canada chẳng hạn),
đó là chưa nói đến châu Á ở Anh, số tư bản xuất khẩu rất lớn có quan hệ mật thiết nhất với các thuộc địa rất rộng lớn”2
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr 37-38.
2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.944.
Trang 6Vì vậy, hình thức đầu tư trực tiếp này đã mang lại cho những nước xuất khẩu một số lợi nhuận cao Đúng như câu nói: “Mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh” “Do đó ta thấy rằng việc xuất khẩu tư bản chỉ đạt tới mức phát triển rất lớn vào hồi đầu thế kỷ XX Trước chiến tranh số tư bản do ba nước chính đầu
tư ở nước ngoài là từ 175 – 200 tỷ Frăng cứ tính lợi suất thấp là 5% thì số tư bản
đó cũng phải mang lại một khoản thu nhập từ 8 đến 10 tỷ Frăng mỗi năm Đó là
cơ sở chắc chắn để cho bọn đế quốc áp bức và bóc lột phần lớn các nước và các dân tộc trên thế giới”1
1.2.2 Hình thức đầu tư cho vay (đầu tư gián tiếp)
Đây là hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay lấy lãi Thông qua các ngân hàng tư nhân hoặc trung tâm tín dụng quốc gia và quốc tế do các nước khác vay to kỳ hạn như: 1 năm, 3 năm, 10 năm, và với các nước lãi xuất khác nhau Theo V I Lênin điển hình cho đầu tư gián tiếp này là ở nước Pháp Nước Pháp khác nước Anh chủ yếu xuất khẩu tư bản bằng hình thức cho vay lấy lãi Còn ở nước Anh thì hình thức đầu tư là kinh doanh Ông chứng minh rằng: “Về nước Pháp thì lại khác Số tư bản xuất khẩu của nước này đầu tư chủ yếu ở Châu
Âu và trước hết ở Nga (ít ra là 10 tỷ frăng) hơn nữa chủ yếu là tư bản cho vay, dưới dạng là công trái quốc gia, chứ không phải là tư bản đầu tư vào các xí nghiệp, công nghiệp”2
Cũng như vậy Đức lại là một loại thứ ba “thuộc địa của nó không nhiều lắm và số tư bản của nó đầu tư ở nước ngoài được phân bố một cách đều nhau nhất giữa Châu Âu và Châu Mỹ”3 Vậy số tư bản đầu tư ra nước ngoài ấy được phân phối giữa các nước như thế nào? đầu tư ở đâu? Xét về chủ sở hữu tư bản có
thể phân chia thành xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân
Xuất khẩu tư bản nhà nước là do nhà nước thực hiện, lấy nguồn quỹ ra để kinh doanh xuất khẩu ra nước ngoài để nhằm mục đích kinh tế – chính trị vì khi xuất khẩu ra nước ngoài thì nước đó phải phụ thuộc một số điều kiện ở nước xuất khẩu Thông thường xuất khẩu tư bản nhà nước nhằm đầu tư vào các lĩnh
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.943-944.
2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.946.
3 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.945.
Trang 7vực kết cấu hạ tầng kinh tế nhằm để tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho tư bản tư nhân đầu tư Việc xuất khẩu này không chỉ nhằm ở các nước đang phát triển mà còn xuất khẩu tư bản nhà nước ở các nước tư bản
Xuất khẩu tư bản tư nhân là do độc quyền tư nhân thực hiện và đây là hình thức xuất khẩu chủ yếu dưới hình thức đầu tư các nhánh dưới hình thức các công
ty xuyên quốc gia Mục đích của nó chủ yếu là vì lợi nhuận nên thường đầu tư vào những ngành chu chuyển vốn nhanh và lãi xuất cao như khách sạn, công nghiệp nhẹ
1.3 Hậu quả của xuất khẩu tư bản
Đối với các nước nhập khẩu và các nước xuất khẩu họ đều có cùng mục đích là phát triển Nếu như các nước xuất khẩu tư bản với mục đích là thu được lợi nhuận cao hơn bằng cách đưa “tư bản thừa” ra nước ngoài còn các nước kém phát triển thì nhập khẩu tư bản để có được vốn, máy móc công nghệ phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì cần phải có nhiều vốn cũng như máy móc kỹ thuật giúp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nhanh hơn Dù vậy, xuất khẩu tư bản cũng mang lại một số mặt hạn chế ở cả nước nhập khẩu và các nước xuất khẩu
1.3.1 Đối với những nước xuất khẩu tư bản
Việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, để tăng thêm lợi nhuận cao hơn “sở
dĩ cần phải xuất khẩu tư bản là vì trong một số ít nước chủ nghĩa tư bản đã “quá chín”, và tư bản thiếu địa bàn đầu tư “có lợi” Đã làm cho các tổ chức độc quyền
cả tư nhân và nhà nước ngày càng trở nên giàu có Mở rộng thị trường cho các nước TBCN trên phạm vi thế giới đã làm cho nền kinh tế của các nước TBCN có điều kiện phát triển nhanh, từ đó tập trung sản xuất ngày càng được đẩy mạnh và trên qui mô lớn làm cho chủ nghĩa tư bản mở rộng quan hệ bóc lột ra phạm vi quốc tế Vì ở các nước này giá thuê công nhân rẻ có thể tận dụng bóc lột được rất nhiều công nhân Bóc lột sức lao động của họ mà tiền lương thì rất rẻ mạt
Trang 8Chính vì thế, xuất khẩu tư bản đã đem lại cho tư bản tài chính một món lợi nhuận kếch xù trong việc vơ vét tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động ở các nước khác Đây là công cụ chủ yếu để bành trướng, thống trị của bọn tư bản tài chính ra toàn thế giới Hệ thống kinh tế TBCN thế giới hình thành trước hết dưới tác động của xuất khẩu tư bản, đã trở thành hệ thống nô dịch của bọn tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới V.I Lênin đã coi xuất khẩu tư bản là sự “ăn bám bình phương”
Mặt khác, xuất khẩu tư bản cũng tạo ra sự ngưng trệ tương đối về sản xuất
ở trong nước vì một lượng lớn tư bản được sản xuất ở nước ngoài Việc này đã làm cho sản xuất trong nước bị ngưng trệ, công nhân bị thất nghiệp dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, cùng cực đói khổ ngay cả ở những nước xuất khẩu phát triển Làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản ngày càng phát triển và ngày càng trở nên gay gắt kịch liệt
Lênin khẳng định: “Việc xuất khẩu tư bản ảnh hưởng đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và thúc đâỷ hết sức nhanh sự phát triển đó trong những nước đã được đầu tư” Chính vì ở các nước nhận đầu tư có sự phát triển nhanh nên ở các nước chính quốc đã tạo ra sự “ngưng trệ nào đó trong sự phát triển của các nước xuất khẩu tư bản”1 Các nước xuất khẩu tư bản bao giờ cũng thu được một khoản lợi nhuận nào đó “ngày nay, tình hình thị trường tiền tệ không được sáng sủa lắm
và triển vọng chính trị cũng không phải là lạc quan gì Tuy thế, không một thị trường tiền tệ nào lại dám từ chối không nhận cho nước ngoài vay… trong việc
ký kết quốc tế như thế, người cho vay hầu như bao giờ cũng kiếm chác được một cái gì: một khoản nhượng bộ trong hiệp ước thương mại…”2 Điển hình như nước Pháp trong những năm gần đây (1890 - 1910) “việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài trở thành một thủ đoạn kích thích việc xuất khẩu hàng hóa… nước Pháp, khi cho nước Nga vay… đã “bắt ép” nước Nga phải thỏa thuận chịu cho Pháp một số nhượng bộ nhất định cho đến năm 1917”3
1.3.2 Đối với các nước nhập khẩu tư bản
11, 2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.945.
2
3 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.946 -947.
Trang 9Các nước nhập khẩu tư bản thường là các nước chậm phát triển và đang phát triển vì vậy cần vốn, thiết bị máy móc để phục vụ cho sự nghiệp kinh tế –
xã hội nước mình Họ nhập khẩu từ các nước xuất khẩu và đã tạo được những điều kiện thuận lợi như có điều kiện tham gia vào thị trường thế giới
Góp phần thúc đẩy các nước nhập khẩu phát triển sản xuất, đẩy mạnh quá trình tập trung, kích thích tiêu dùng, mở rộng thị trường tăng cường đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật Đẩy mạnh cạnh tranh phát triển kinh tế, đẩy mạnh phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, Các chuyên gia tổ chức kinh doanh
để góp phần phát triển kinh tế đất nước Tất nhiên bên cạnh những mặt tích cực của xuất khẩu mang lại thì những nước nhập khẩu cũng chịu một số khó khăn và hạn chế như sau:
Sự lệ thuộc về kinh tế, vốn, kỹ thuật công nghệ ở các nước xuất khẩu “bản báo cáo của viên lãnh sự áo – Hung ở Sanpaulo (Brazin) nói rằng: “việc xây dựng đường sắt ở Brazin được thực hiện chủ yếu là nhờ có vốn của Pháp, Bỉ, Anh và Đức, trong các hoạt động tài chính có liên quan tới việc xây dựng đường sắt các nước này đều giành được quyền bán những vật liệu xây dựng đường sắt”1
Chính vì có sự đầu tư như ví dụ trên đây để thấy rằng các nước nhập khâủ luôn bị phụ thuộc về cơ cấu kinh tế, vốn, kỹ thuật…thậm chí phải nhập ở những nước xuất khẩu những máy móc công nghệ cũ, kỹ thuật thấp, sản phẩm chất lượng thấp…nên gây ra nạn ô nhiễm môi trường, tài nguyên thiên nhiên bị vơ vét cạn kiệt dần…an ninh trật tự tệ nạn xã hội cũng tăng lên và mang tính quốc
tế Các nguyên tắc, bản sắc văn hoá dân tộc bị xói mòn lung lạc do sự xâm nhập
ồ ạt của văn hoá nước ngoài tràn vào nhất là đối với giới trẻ hiện nay
Tóm lại, thông qua xuất khẩu tư bản đã làm cho các nước chậm phát triển biến thành con nợ, trở thành đối tượng bị bóc lột về kinh tế và nô dịch về chính trị dưới những hình thức và mức độ khác nhau Việc xuất khẩu tư bản về khách quan cũng có những tác động tích cực đến nền kinh tế các nước nhập khẩu, biến các nước này thành những nước có nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, gia
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.946 -947 (phần chú thích).
Trang 10nhập thị trường thế giới…tuy nhiên những sự phụ thuộc về kinh tế về vốn, thị trường hay những máy móc cũng như những hậu quả của ô nhiễm môi trường, tài nguyên, tha hoá về con người, tệ nạn xâm nhập là những điều không thể tránh khỏi Làm thế nào để các nước này vừa phát triển kinh tế vừa hạn chế được những mặt tiêu cực do xuất khẩu tư bản mang lại là một điều thật khó Điều đó phụ thuộc ở mỗi quốc gia, ở mỗi nước
2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với Việt Nam
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận.
Sự vận động của xuất khẩu tư bản không những thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức độc quyền của từng quốc gia với nhau, mà còn thể hiện quan hệ giữa các tổ chức độc quyền thuộc các quốc gia khác nhau Trong cuộc tranh giành lợi ích của mình, các tổ chức độc quyền buộc phải thỏa hiệp với nhau trong chừng mực nhất định việc phân chia lãnh thổ, lĩnh vực đầu tư, nguồn nguyên, nhiên liệu
và thị trường tiêu thụ sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới Do vậy, trong chiến lược thu hút đầu tư của nước ngoài bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua hai hình thức xuất khẩu tư bản chủ yếu đã phân tích ở trên, cần nắm bắt cơ hội sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức độc quyền nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho đất nước Đồng thời, cũng hết sức cảnh giác, đề phòng và kiên quyết không chấp nhận việc để cho các nước tư bản, các tổ chức độc quyền, bọn đầu sỏ tư bản tài chính lợi dụng để “mặc cả trên lưng” chúng ta, biến lợi ích dân tộc thành vật trao đổi hay tranh giành
2.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Từ sự nhận thức vai trò quan trọng của kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã sớm có những chuyển biến về cơ chế quản lý kinh tế, nhất quán chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã phát triển không ngừng cùng với những chiến lược kinh tế, chính sách kinh tế ngoại giao Việt Nam đã hoà mình cùng với sự phát triển của thế giới