Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học hay chủ nghĩa cộng sản khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung với tính cách là sự luận toàn diện triết học, kinh tế chính trị và xã hội –
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
BÀI TẬP LỚN
Đề tài: Phân tích luận điểm của Ăngghen: “Chủ nghĩa xã hội muốn trở thành khoa học thì phải đặt nó trên mảnh đất hiện thực” Làm rõ ý nghĩa luận điểm đối với Việt
Nam.
Họ và tên: LÊ HOÀNG ANH Lớp tín chỉ: 30
Mã SV: 11190169
Hà Nô ̣i, năm 2021
Trang 2I MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1 Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài 3
2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đóng góp của đề tài 3
II NỘI DUNG 4
1 Chủ nghĩa xã hội khoa học là gì? 4
3 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Chủ nghĩa xã hội khoa học từ lý luận đã trở thành hiện thực ở Việt Nam 7
III KẾT LUẬN 11
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài
- Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, Việt Nam đã dần tiến tới hình thái Xã hội Chủ nghĩa như bài học của các vị lãnh tụ xưa đã truyền lại
Và để hoàn thiện hình thái đó, đất nước ta đã, đang và sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, từ đó rút ra được những bài học thực tế kinh nghiệm từ chính đất nước ta và cả từ những người lãnh đạo của đất nước khác đã đi trước Để làm được điều ấy, chúng ta cần phải nắm rõ được mục tiêu, sứ mệnh, nhiệm vụ của ta trong thời kì đổi mới hiện nay và tự rút ra những bài học, những đường lối chính sách đúng đắn từ những trải nghiệm, kinh nghiệm thực tế và phải dựa vào những lý luận, tư tưởng của chủ nghĩa
xã hội khoa học Như nhà hiền triết Ăng-ghen đã có câu nói “CNXH muốn
trở thành khoa học phải đặt nó trên mảnh đất hiện thực” Từ câu nói đó, ta
phải áp dụng vào xã hội Việt Nam và làm rõ được sự quan trọng của luận điểm đó đối với đất nước
2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nằm trong phạm vi nghiên cứu về ý nghĩa lý luận trong câu nói
“CNXH muốn trở thành khoa học phải đặt nó trên mảnh đất hiện thực” của Ăng-ghen và ý nghĩa của luận điểm đó đối với đất nước ta
3 Phương pháp nghiên cứu
- Tim hiểu khái quát đề tài
- Tra cứu trên mạng về đề tài
4 Đóng góp của đề tài
- Thông qua đề tài này chúng ta chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về luận điểm của Ăng-Ghen trong câu nói “CNXH muốn trở thành khoa học phải đặt nó trên mảnh đất hiện thực” và ý nghĩa đối với Việt Nam ta
Trang 4II NỘI DUNG
1 Chủ nghĩa xã hội khoa học là gì?
Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học (hay chủ nghĩa cộng sản khoa học)
là chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung với tính cách là sự luận toàn diện (triết học, kinh tế chính trị và xã hội – chính trị) về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản, là sự biểu hiện khoa học những lợi ích cơ bản và những nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp công nhân Điều ấy nói lên sự thống nhất, tính hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác – Lênin Chủ nghĩa xã hội khoa học là bộ phận thể hiện tập trung nhất tính chính trị - thực tiễn sinh động của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học về các quy luật xã hội – chính trị, là học thuyết về những điều kiện, con đường giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, về cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, về các quy luật, biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của chính đảng mácxít nhằm thưc hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Với tư cách là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học có những đặc điểm đáng chú ý:
Một là, chỉ rõ con đường hiện thực dựa vào khoa học để thủ tiêu tình trạng
người bóc lột người và đưa ra một tổ chức xã hội mới không biết đến những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản mà những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đã hằng mơ ước
Trang 5Hai là, dựa vào những kết luận của hai bộ phận hợp thành khác của chủ nghĩa
Mác-Lênin là triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và kinh tế học chính trị
Ba là, chủ nghĩa xã hội khoa học là thế giới quan, hệ tư tưởng chính trị của giai
cấp công nhân, biểu hiện những lợi ích của giai cấp này trong nhiệm vụ xây dựng lại xã hội một cách cách mạng
Bốn là, chủ nghĩa xã hội khoa học tổng kết không những kinh nghiệm đấu tranh
giai cấp của giai cấp công nhân, kinh nghiệm cách mạng xã hội chủ nghĩa mà cả kinh nghiệm của những phong trào dân chủ của quần chúng, của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản và giải phóng dân tộc
2 Những điều kiện và tiền đề khách quan dẫn đến sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học:
- Điều kiên kinh tế xã hội:
Vào những năm 40 thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã đạt được những bước phát triển rất quan trọng trong kinh tế Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ nhất đã thúc đẩy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ Chính sự phát triển đó làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa Chính vì vậy mà chủ nghĩa tư bản tạo ra những khả năng hiện thực cho những nhà dân chủ cách mạng tiến bộ nhận thức đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, để đề ra lý luận khoa học và cách mạng
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân hiện đại trưởng thành bước lên vũ đài đấu tranh chống giai cấp tư sản với tư cách là một lực lượng xã hội độc lập Giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có khả năng giải quyết những mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra
Trang 6Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, đã bắt đầu có
tổ chức và trên quy mô rộng khắp Nó đòi hỏi có một lý luận khoa học hướng dẫn Tiêu biểu cho các phong trào công nhân lúc đó là: cuộc khởi nghĩa công nhân thành phố Liông (Pháp) 1831 – 1834; cuộc khởi nghĩa công nhân dệt Xêlidi (Đức) 1844; phong trào Hiến chương (Anh) 1838 – 1848 Những phong trào đó có tính quần chúng và mang hình thức chính trị Sự lớn mạnh của phong trào công nhân đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng
Đó là những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan cho chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời để thay thế các trào lưu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đã tỏ
ra lỗi thời, không còn có khả năng đáp ứng phong trào công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, đồng thời chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời phản ánh bằng lý luận phong trào công nhân
- Những tiền đề văn hóa – tư tưởng (tiền đề lý luận)
Đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực khoa học, văn hóa và tư tưởng Về khoa học tự nhiên có: thuyết tế bào của M Sơlayđen và T Savanxơ (Đức); thuyết tiến hóa của Đ Đácuyn (Anh); thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của M Lômônôxốp (Nga) Về khoa học xã hội có: triết học cổ điển Đức (Ph Hêghen, L Phơbách,…), kinh tế chính trị học Anh (Ađam Smít, Đ Ricácđô,…), chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán (H Xanhximông, S Phuriê, R.Ôoen,…) Những thành tựu của khoa học, văn hóa,
tư tưởng đã tạo ra những tiền đề tư tưởng – văn hóa cho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng
Trang 73 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Chủ nghĩa xã hội khoa học từ lý luận đã trở thành hiện thực ở Việt Nam
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ăngghen viết tháng 02 năm
1848 cách đây đã hơn 172 năm nhưng tác phẩm kinh điển ấy vẫn còn giữ nguyên giá trị lý luận cũng như giá trị thực tiễn của nó Ngày Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời đã đánh dấu cho chủ nghĩa cộng sản từ bóng ma trở thành khoa học còn hôm nay chủ nghĩa cộng sản khoa học ấy đã thành hiện thực ở Việt Nam, đã, đang và sẽ có sức sống mãnh liệt, là lương tri, là lý trí và là chân
lý của loài người tiến bộ trên toàn thế giới
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Hãy xóa
bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ” Xuất phát từ đặc điểm, tình hình thế giới, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và thực tế lịch sử dân tộc, Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nước thuộc địa nửa phong kiến Để hiện thực hóa quan điểm khoa học và cách mạng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước và đã tìm đến con đường giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”
Ở Việt Nam cuộc đấu tranh giai cấp trong thời điểm lịch sử ấy chỉ có thể là cuộc đấu tranh dân tộc chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư
Trang 8sản dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”
Trong Tuyên ngôn, C.Mác còn nhấn mạnh: “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó
sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Những luận điểm đó của C.Mác là cơ sở lý luận và phương pháp luận để soi rọi vào tiến trình phát triển không chỉ cho cách mạng Việt Nam mà còn là xu thế vận động, biến đổi, phát triển chung của thời đại, của cách mạng thế giới hiện nay
Để thực hiện quan điểm khoa học và cách mạng trên, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn
bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức, trực tiếp chủ trì thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Cách mệnh “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
Cương lĩnh đầu tiên 1930 khẳng định:“Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Đó chính là ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam luôn giương cao trong cuộc đấu tranh vì mục đích cuối cùng của quốc gia, dân tộc
Nếu như mục đích cuối cùng của những người cộng sản là thực hiện chủ nghĩa cộng sản Nhưng “bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”, là “tổ chức những người
vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” Bước thứ hai, giai cấp vô sản và nhân dân lao động sử dụng chính quyền nhà nước của mình để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Trang 9về mọi mặt, trong đó xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu, đẩy mạnh
sự phát triển của lực lượng sản xuất là nhiệm vụ cốt lõi Tuy nhiên, các tác giả của Tuyên ngôn cũng lưu ý rằng, những biện pháp để giải quyết những nhiệm
vụ của giai đoạn này cũng sẽ rất khác nhau trong những nước khác nhau
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành lấy dân chủ còn có nghĩa là giai cấp vô sản lãnh đạo Nhà nước phải chăm lo mọi mặt của đời sống Nhân dân Người đề ra chủ trương: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế… của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là không ngừng phát triển sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”
Ph.Ăngghen đã một lần nữa khẳng định: “Muốn làm cho chủ nghĩa xã hội thành một khoa học thì trước hết phải đặt chủ nghĩa xã hội trên một cơ sở hiện thực” và “ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó” Việt Nam từ thực tế lịch sử đã đặt chủ
nghĩa xã hội trên mảnh đất hiện thực và nó có sức sống, sức lôi cuốn mãnh liệt
Trong Tuyên ngôn C.Mác và Ph.Ăngghen khái quát bằng luận điểm có tính khoa học và cách mạng rất sâu sắc: “Trước hết giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
Ở Việt Nam do những đặc điểm lịch sử quy định, giai cấp công nhân ra đời và phát triển gắn bó mật thiết với nông dân và các tầng lớp lao động khác cho nên trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại và nhu cầu, khát vọng của dân tộc: Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất;
Trang 10lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng Lập hiến) thì phải đánh đổ
“Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được”
Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người mà C.Mác phát họa trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã được Đảng ta bổ sung, hoàn chỉnh bằng những nét chấm phá hình thành bức tranh chủ nghĩa xã hội hiện thực Việt Nam: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no tự
do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” Đây là tiền đề căn bản để con người từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do Đó cũng chính là sự vận dụng, sáng tạo độc đáo và phát triển đến đỉnh cao tư tưởng C.Mác về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Bác Hồ và Đảng ta
Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng
Trang 11lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta
từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới Thành quả to lớn ấy, chính là nhờ vào sự vận dụng một cách sáng tạo và phát triển những tư tưởng vĩ đại của C.Mác trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản phù hợp với xu thế vận động, biến đổi của thời đại và khát vọng, nhu cầu của dân tộc
Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng ta chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thì việc nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật
sự trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là một tất yếu Hiểu rõ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản, hiểu rõ thế giới quan và phương pháp luận khoa học mà học thuyết mácxít mang lại, đó cũng chính là cách mà mỗi cán bộ, đảng viên tự bồi dưỡng lập trường tư tưởng, quan điểm, phương pháp cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị nhằm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà lịch sử và dân tộc giao cho
III KẾT LUẬN