1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG NẤM MEN TRONG BÁNH MEN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG TRONG CHẾ BIẾN RƯỢU

114 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật Tại Tòa Án Nhân Dân Trên Địa Bàn Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Kiều
Người hướng dẫn PGS. TS Hà Thị Mai Hiên
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2000
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu.Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh vềnhững vấn đề liên quan đến đề tài như:

Trang 1

Dịch vụ viết luận văn trọn gói website: luanvantot.com Zalo/tele 0934573149

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY KIỀU

CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Dân sự

Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS HÀ THỊ MAI HIÊN

Trang 2

Dịch vụ viết luận văn trọn gói website: luanvantot.com Zalo/tele 0934573149

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thúy Kiều

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn 5

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

8 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ 7

1.1 . KHÁI NIỆM, NỘI DUNG CĂN CỨ LY HÔN 7

1.1.1 Khái niệm ly hôn 7

1.1.2 Nội dung căn cứ ly hôn 10

1.2 . KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn 17

1.3 . CĂN CỨ LY HÔN QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 19

1.3.1 Căn cứ ly hôn trong pháp luật thời phong kiến 19

Trang 5

1.3.2 Căn cứ ly hôn trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 23

1.3.3 Căn cứ ly hôn quy định trong pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam 25

Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LUẬT, CÁC ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG

VÀ VIỆC ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN QUA THỰC TIỄN

XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 30 2.1

CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 30

2.1.1 Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục

đích hôn nhân không đạt được 31

2.1.2 Vợ hoặc chồng bị tòa án tuyên bố mất tích 36

2.2

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ VIỆC ÁP DỤNG ÁP DỤNG

PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN QUA THỰC TIỄN XÉT

XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI ĐÀ NẴNG 38

2.2.1 Tổng quan về lịch sử, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của

Đà Nẵng 38

2.2.2 Lịch sử phát triển và cơ cấu tổ chức của ngành Tòa án nhân dân

thành phố Đà Nẵng 40

2.2.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết án ly hôn qua thực tiễn xét

xử tại Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm

2006 – 2011 46

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

LY HÔN TẠI ĐÀ NẴNG 83 3.1

VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ

CĂN CỨ LY HÔN 83

Trang 6

3.1.1 Một số bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ

ly hôn 83

3.1.2 Khó khăn trong việc áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn khi xét xử 88

3.1.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn 92

3.2

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ ÁP

DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT ÁN LY HÔN CỦATÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG94

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án

nhân dân thành phố Đà Nẵng nói chung và việc áp dụng pháp luậttrong giải quyết án ly hôn nói riêng 94

3.2.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ

Thẩm phán, thư ký trong giải quyết án ly hôn tại thành phố Đà Nẵng

96

3.2.3 Tăng cường hoạt động giám đốc đối với các Tòa án quận, huyện

trong việc giải quyết án ly hôn 97

3.2.4 Nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân 99

3.2.5 Tăng cường phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất cho các Tòa

án nhân dân trên địa bàn thành phố và hoàn thiện chế độ chính

sách đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án 101

KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

HN & GĐ: Hôn nhân và gia đình

TAND: Tòa án nhân dân

QTHL: Quốc triều hình luật

HVLL: Hoàng việt luật lệ

DLBK: Dân luật bắc kỳ

DLTK: Dân luật trung kỳ

DLGYNK: Dân luật giản yếu nam kỳ

BLDS: Bộ luật dân sự

HĐTP: Hội đồng thẩm phán

UBTP: Ủy ban thẩm phán

HĐXX: Hội đồng xét xử

UBND: Ủy ban nhân dân

HTND: Hội thẩm nhân dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là cái nôi sản sinh ra con người, nuôi dưỡng, giáo dục và hìnhthành nhân cách con người Vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những nămqua luôn quan tâm tới vấn đề gia đình Luật hôn nhân và gia đình ra đời có vaitrò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN và GĐ tiến bộ, nhằmxây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, bền vững Quan điểmcủa Đảng và Nhà nước ta về gia đình được ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp

năm 1992: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ HN và GĐ theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha

mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con cháu

có bổn phận chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”.

Tuy nhiên trong tình hình hiện nay các vụ án về ly hôn đang ngày càng

có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi Tòa án phải có đường lối để giải quyết cácloại án này Nghiên cứu về căn cứ giải quyết các vụ án ly hôn nhằm bảo vệquyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình Thực hiện nguyên tắc

vợ chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt đối xử, tình trạng bạo lực tronggia đình

Trong hoạt động tư pháp thì hoạt động của Tòa án là trung tâm và cóvai trò quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp Tòa án là cơ quan duynhất nhân danh nhà nước tiến hành hoạt động xét xử các loại vụ việc nóichung và án ly hôn nói riêng Trong những năm qua, việc Tòa án giải quyết

vụ án ly hôn đã góp phần giải quyết được những mâu thuẫn bất hòa trong giađình, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình,bên cạnh những mặt đã đạt được trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn

Trang 9

vẫn còn những thiếu sót, như có vụ án trong quá trình giải quyết còn để tồnđọng dây dưa kéo dài, có vụ còn bị sửa, hủy gây ảnh hưởng đến quyền lợicủa các bên đương sự.

Tại các toà án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng các vụ án về lyhôn tăng về số lượng Đối với loại án này mỗi vụ án có nội dung đa dạng vàtính phức tạp khác nhau, nên việc giải quyết gặp không ít khó khăn, trongnhận thức vận dụng pháp luật về căn cứ ly hôn cũng như những khó khăn từkhách quan mang lại Tuy vậy, quá trình giải quyết các vụ án ly hôn tại Toà ánnhân trên địa bàn TP Đà Nẵng trong những năm qua đã đạt được những kếtquả nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hòa trong hôn nhân, bảo

vệ quyền lợi các quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự

Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình giám đốc kiểm tra vàxét xử phúc thẩm của TAND TP Đà Nẵng đã phát hiện có những thiếu sóttrong quá trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị cải sửa; một số ít vụ áncòn bị dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự.Trong hoạt động xét xử, các tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵngcũng đã bộc lộ một số tồn tại, như áp dụng pháp luật sai, có vụ án vi phạmthời hạn tố tụng

Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: "Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn

nhân và Gia đình năm 2000 qua thực tiễn áp dụng pháp luật tại Toà án nhân dân trên địa bàn Tp Đà Nẵng " làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Dân Sự.

Qua đề tài này, tôi mong muốn góp phần nâng cao chất lượng giảiquyết các vụ án ly hôn của ngành Tòa án nói chung và của các TAND trên địabàn TP Đà Nẵng nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Căn cứ giải quyết các trường hợp ly hôn theo Luật Hôn nhân và Giađình năm 2000 tại Toà án đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những

Trang 10

người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh vềnhững vấn đề liên quan đến đề tài như:

Nguyễn Ngọc Điệp, Trần Đông Phong, Hồ Thị Hệ (2001), “Những điềucần biết về ly hôn”, NXB Phụ nữ TPHCM; Nguyễn Anh Tuấn (2005) “Một sốvướng mắc trong giải quyết án ly hôn với người mắc bệnh tâm thần”, Tạp chíkiểm sát, VKS nhân dân tối cao số 7; Th.s Đoàn Đức Lương (2005) “ Cần cóhướng dẫn thống nhất về thụ lý yêu cầu ly hôn hay không công nhận vợchồng và thủ tục giải quyết”, Tạp chí kiểm sát, VKS nhân dân tối cao số 9; ĐỗVăn Chỉnh (2006), “Ly hôn với người mắc bệnh tâm thần – thực tế và giảiquyết”, Tạp chí Tòa án, TAND tối cao số 9; Phạm Thị Quý (2009), “Việc lyhôn có bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện ra Tòa án ?”, Tạp

chí Dân chủ và pháp luật, số 10; TS Đặng Quang Phương (1999), "Thực trạng của các bản án hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các bản án", Tạp chí TAND số: 7, 8; Th.s Nguyễn Văn Cừ (2000), “Quyền sở hữu của

vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Tạp chí Luật học số: 4; Trần Thị Quốc Khánh (2004), “Từ hòa giải trong truyền thống dân tộc đến hòa giải ở sơ sở ngày nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11; Bùi Văn Thuấn (2002), “Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng và chung”, Nhà xuất bản Phụ nữ; Trương Kim Oanh (1996),

"Hòa giải trong tố tụng dân sự", Luận văn thạc sỹ Luật học; Th.s Nguyễn Phương Lan (2005) "Một số ý kiến về vợ chồng nhận nuôi con nuôi", Tạp chí Luật học số 2; Th.s Nguyễn Hồng Hải (2003), "Bàn về chia tài sản chung của

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam hiện nay"; Khoa Nhà nước và Pháp luật- Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2004), "Lý luận chung về nhà nước và pháp luật", Hà Nội…

Qua nghiên cứu những công trình nêu trên cho thấy, các tác giả chỉ đề

Trang 11

cập mặt này hay mặt khác trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn, màchưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về thực tiễn ápdụng pháp luật trong giải quyết các vụ án ly hôn tại TAND trên địa bàn thànhphố Đà Nẵng.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên

cứu * Đối tượng nghiên cứu:

Là thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn trong hoạt động xét xửcủa TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình giải

quyết các vụ án ly hôn của TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng, trong khoảngthời gian từ năm 2006 đến năm 2011

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích luận văn:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về khái niệm, nội dung căn cứ ly hôn

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật

+ Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án ly hôn của TAND trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

+ Đề ra những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luậttrong giải quyết các vụ án ly hôn của TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng tronggiai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện được mục đích trên luận văn có

nhiệm vụ cụ thể sau đây:

+ Xây dựng khái niệm: Áp dụng pháp luật, Hôn nhân gia đình, Ly hôn,Căn cứ ly hôn và phân tích các đặc điểm, nội dung, cũng như nêu lên các căn

cứ giải quyết cho ly hôn

+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế trong áp dụngpháp luật về giải quyết các vụ án ly hôn của TAND trên địa bàn thành phố ĐàNẵng từ đó rút ra các nguyên nhân hạn chế

Trang 12

+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể như:Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án; hoàn thiệncác QPPL nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật trong giải quyết án ly hôn; kiệntoàn tổ chức, nâng cao năng lực của Thẩm phán, cán bộ Tòa án và HTND…nhằm đảm bảo chất lượng trong giải quyết các vụ việc ly hôn của TAND trênđịa bàn thành phố Đà Nẵng.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên

cứu * Cơ sở lý luận:

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềNhà nước và pháp luật, trong đó có vấn đề về áp dụng pháp luật trong giảiquyết các trường hợp ly hôn

-* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin

về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phươngpháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống

kê, so sánh, điều tra, khảo sát

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ápdụng pháp luật trong giải quyết các vụ án ly hôn, làm rõ những đặc thù củaloại án này ở TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong áp dụngpháp luật về giải quyết các vụ án ly hôn tại TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng

và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ án

ly hôn tại TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng có hiệu quả

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về áp dụng pháp luật trong

Trang 13

giải quyết án ly hôn tại TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng Góp phần nghiêncứu những vấn đề lý luận về căn cứ giải quyết các vụ việc ly hôn nói chung,làm phong phú thêm những vấn đề lý luận trong lĩnh vực này.

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và

cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác giải quyết án ly hôn,nhằm thực hiện nghiêm chỉnh luật HN và GĐ

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ngườiđang trực tiếp làm công tác giải quyết án ly hôn tại TAND nói chung vàTAND trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn và việc áp dụng

pháp luật về căn cứ ly hôn trong thực tiễn xét xử

Chương 2 Cơ sở pháp luật, các điều kiện tác động và việc áp dụng căn

cứ ly hôn qua thực tiễn xét xử của Tòa án tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn và

một số giải pháp tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn tại

Đà Nẵng

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ LY HÔN

VÀ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN

TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ

1.1 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG CĂN CỨ LY HÔN

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Ly hôn và kết hôn là một trong những quyền dân sự cơ bản của côngdân, là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân Vì vậy mà không thể ủyquyền hay chuyển giao khi thực hiện quyền này Theo quy định tại Điều 38

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án cho chấm dứt quan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng”, và cụ thể hơn theo quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảngtrong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặtkhông thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, cònthực chất mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợchồng đã mất hết ý nghĩa và không thể tiếp tục duy trì đời sống chung Ly hônchính là khi trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâuthuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng và quan tâm lẫnnhau Và việc duy trì hay cố níu kéo cuộc hôn nhân đó chỉ làm cho vợ chồngthêm mệt mỏi và không thể hàn gắn được Mục đích của hôn nhân chính làxây dựng gia đình hạnh phúc Vợ chồng cùng chung tay nuôi dạy con cái,nhưng khi hôn nhân có sự rạn nứt, trong nội bộ đời sống vợ chồng không thểđạt được những mục đích là ý nghĩa của hôn nhân thì dù cố gắng duy trì mốiquan hệ đó cũng không thể mang lại hạnh phúc được

Trang 15

Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốcgia cũng có những điểm khác nhau Tùy theo thể chế chính trị, truyền thốngvăn hóa và quan điểm lập pháp của từng nước Trên thế giới hiện nay cónhững quốc gia quy định cấm ly hôn (như một số nước theo đạo thiên chúa),một số quốc gia khác thì hạn chế ly hôn bằng cách đặt ra những điều kiện hếtsức nghiêm ngặt đối với vợ chồng muốn ly hôn Cấm ly hôn hay hạn chế lyhôn đều là đi trái với quyền tự do dân chủ của mỗi cá nhân Theo quan điểmcủa Chủ nghĩa Mác – Lênin thừa nhận quyền tự do ly hôn của vợ chồng cũng

là thừa nhận quyền dân chủ xã hội Lênin khẳng định: “Người ta không thể là một người dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu ngay từ bây giờ, không đòi quyền hoàn toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với giới bị áp bức, đối với phụ nữ được tự do bỏ chồng, thì không phải là ta khuyên tất cả họ bỏ chồng”.

Trên quan điểm tự do hôn nhân, bao gồm cả tự do kết hôn và tự do lyhôn, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thìcũng không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họkhông còn nữa Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi cuộcsống chung đầy đau khổ và không có hạnh phúc, với những mâu thuẫn sâu sắc

mà trong một thời gian dài họ đã không giải quyết được Thừa nhận quyền tự

do ly hôn của vợ, chồng còn nhằm bảo vệ quyền lợi của những thành viên còn

lại trong gia đình Vì vậy: “Tự do ly hôn tuyệt đối không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình, mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ

đó trên cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”[11].

Xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt cácquyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng và theo quy định của pháp luật chỉ có vợ,chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn Để ly hôn vợ, chồng hoặc cả hai

Trang 16

người hoàn toàn tự do trong việc làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn của họ.

Khi vợ, chồng ly hôn không những ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệtình cảm vợ chồng, chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau,

mà còn ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viênkhác trong gia đình Tòa án với chức năng là cơ quan có thẩm quyền xem xét

và quyết định vợ, chồng có được ly hôn hay không (Tòa án có thể chấp nhậnđơn ly hôn hoặc bác đơn ly hôn của vợ, chồng) Bằng biện pháp tư pháp đó,Tòa án có thể hạn chế hoặc ngăn chặn những hiện tượng vợ, chồng lạm dụngquyền tự do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội Nhất là đối vớinhững trường hợp một trong hai bên vợ chồng có quan hệ ngoại tình, không

có trách nhiệm chăm lo cho gia đình Vì ích kỷ cá nhân họ muốn ly hôn càngsớm càng tốt để rủ bỏ trách nhiệm với gia đình để chạy theo người tình

Việc Tòa án cho vợ, chồng ly hôn hay bác đơn yêu cầu của họ phải dựavào thực chất mối quan hệ vợ, chồng Tuy nhiên, việc đánh giá thực chất mốiquan hệ vợ, chồng là một vấn đề khó khăn và phức tạp Trong những năm gầnđây, số vụ ly hôn ở nước ta nói chung và tại thành phố Đà Nẵng nói riêngngày càng gia tăng về số lượng, với những mâu thuẫn vợ chồng rất đa dạng

và phức tạp Để đánh giá thực chất mối quan hệ vợ, chồng đã thực sự rạn nứt

và có thể hàn gắn được hay không đòi hỏi bản thân những Thẩm phán trựctiếp giải quyết phải có kinh nghiệm sống và kiến thức chuyên môn vững vàng.Đồng thời phải điều tra xác minh thật kỹ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến mâuthuẫn vợ, chồng Phải tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ, chồngtrong thời gian tiến hành giải quyết vụ kiện Khi đã tìm ra nguyên nhân mâuthuẫn của vợ, chồng, mặc dù đại diện Tòa án đã tiến hành hòa giải hai bên vợ,chồng theo hướng đoàn tụ gia đình Phân tích và giải thích cho vợ, chồng vềhậu quả của ly hôn cũng như ảnh hưởng của việc cha, mẹ ly hôn đối với đời

Trang 17

sống tinh thần của con cái Nhưng vợ, chồng vẫn cương quyết ly hôn thì Tòa

án sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết

Từ những phân tích trên và theo quy định của pháp luật hiện hành có

thể hiểu: ly hôn là một sự kiện pháp lý do Tòa án công nhận bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bằng bản án để chấm dứt quan hệ vợ chồng

và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau.

1.1.2 Nội dung căn cứ ly hôn

Trong phần khái niệm ly hôn đã đề cập đến quan điểm của nhà nước tacho phép vợ chồng có quyền được tự do ly hôn Như vậy không có nghĩa làTòa án áp dụng căn cứ cho ly hôn một cách tùy tiện theo nguyện vọng của vợ,chồng Giải quyết ly hôn một mặt phải bảo đảm lợi ích của vợ chồng, mặtkhác phải bảo đảm lợi ích của con cái, của các thành viên khác trong gia đình

và lợi ích của xã hội Do đó Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn bằng cáchxác định những điều kiện cần và đủ để cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồngtrước pháp luật

Giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất mối quan hệ vợ, chồng, trên cơ

sở đánh giá một cách khách quan mà hoàn toàn không có ý chí chủ quan củacán bộ Tòa án hay các đương sự Do đó, việc giải quyết ly hôn không dựavào lỗi của vợ chồng Trên quan điểm giải quyết: “Ly hôn chỉ là việc xác nhậnmột sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nóchỉ là bề ngoài và lừa dối Đương nhiên không phải sự tùy tiện của nhà lậppháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sựkiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết Bởi vì,như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chấtcủa vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan Nhàlập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phéptan vỡ Nghĩa là trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó đã bị

Trang 18

phá vỡ rồi Việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan rã bên trong của nó [1].

Pháp luật cần dự liệu đúng và chính xác khi quy định về căn cứ ly hôn.Dựa vào những quy định đó, Tòa án có thể áp dụng đúng đắn các quy định đóvào từng trường hợp cụ thể để giải quyết ly hôn Điều này vô cùng quantrọng, bởi ly hôn chính là khi đời sống vợ chồng đã thực sự kết thúc, là giảipháp cuối cùng mà cả hai bên vợ chồng cùng hướng đến Sau ly hôn là hàngloạt những hậu quả pháp lý như: quyền nuôi con, quyền thay đổi quyền nuôicon, nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ Vì vậy, pháp luật về căn

cứ ly hôn quy định càng rõ ràng, cụ thể và thống nhất thì quá trình áp dụng sẽthuận lợi và chính xác

Từ quan điểm trên cho thấy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyđịnh căn cứ ly hôn mang tính khoa học, phản ánh thực chất mối quan hệ vợchồng đã bị phá vỡ Việc Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn chính là côngnhận một thực tế đã và đang tồn tại trong mối quan hệ vợ chồng là không cảithiện được Với những căn cứ ly hôn như vậy sẽ đảm bảo khi Tòa án chophép vợ chồng ly hôn là hoàn toàn phù hợp với thực tế mâu thuẫn trong đờisống vợ chồng Cho phép vợ chồng ly hôn trong những trường hợp hôn nhânkhông thể kéo dài và cứu vãn được chính là giải phóng cho cả vợ chồng vàcho xã hội

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, căn cứ ly hôn qua cácthời kỳ cũng có những sửa đổi, bổ sung và thay thế cho phù hợp, góp phầnkhông nhỏ trong việc giải quyết các vụ án về ly hôn

Luật HN và GĐ năm 1959 (Điều 6), Luật HN và GĐ năm 1986 (Điều40) và Luật HN và GĐ năm 2000 (Điều 89) quy định dù hai bên vợ chồngthuận tình ly hôn hoặc một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn khi mâu thuẫn

vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn

Trang 19

nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn Quy định về nội dungcăn cứ ly hôn nhằm đảm bảo quyền tự do cá nhân của vợ chồng trong quan hệgia đình Đồng thời nhằm đảm bảo sự dung hòa giữa các lợi ích trái ngượcnhau giữa vợ và chồng, trong đó có lợi ích của con cái, thể hiện ý chí của giaicấp trong hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và trong khuôn khổ quyđịnh của pháp luật Khi quy định về nội dung căn cứ ly hôn phải đảm bảo tínhpháp chế, có nghĩa là những nội dung, những điều kiện cần và đủ để giảiquyết cho vợ chồng phải được các bên chủ thể tôn trọng và triệt để thực hiện.Nếu việc quy định nội dung căn cứ ly hôn không đảm bảo tính pháp chế,không đảm bảo quyền lợi của vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình

sẽ dẫn đến việc tuân thủ pháp luật không nghiêm túc và có thể dẫn tới những

vi phạm hoặc sự tuân thủ pháp luật không mang tính tự nguyện

Bên cạnh tính pháp chế, khi quy định về nội dung căn cứ ly hôn cònphải đảm bảo tính khác quan, tính khả thi Có nghĩa là, những quy định củapháp luật về căn cứ ly hôn được quy định và áp dụng chung cho tất cả cáctrường hợp xin ly hôn Tuy nhiên, khi áp dụng vào các trường hợp ly hôn cụthể chúng ta không thể áp dụng mang tính rập khuôn máy móc Việc quy địnhnội dung căn cứ ly hôn nhằm đảm bảo sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụcủa tất cả các bên Trong đó có sự ưu tiên cho phụ nữ và trẻ em Việc quyđịnh các căn cứ cho ly hôn phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu và có thể áp dụngđược trong thực tế cuộc sống Điều này đòi hỏi nhà lập pháp khi ban hành nộidung căn cứ ly hôn phải có tính dự liệu cao về những trường hợp có thể cho

ly hôn, đảm bảo tính khả thi trong việc áp dụng pháp luật

Pháp luật nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tìm hiểu yêu đương, kếthôn của đôi bên nam nữ Đồng thời cũng tôn trọng quyền tự do ly hôn của họkhi đời sống chung không có hạnh phúc Tuy nhiên, tự do ly hôn cũng phảitrong những khuôn khổ và điều kiện nhất định mà pháp luật đã dự liệu Nhằm

Trang 20

hạn chế và tránh những trường hợp một bên vì ích kỷ cá nhân, vì hạnh phúcriêng của mình (như một bên ngoại tình) và yêu cầu ly hôn Trong những quyđịnh về ly hôn, pháp luật quy định hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi

vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Khoản 2 Điều 85)

Với các phân tích trên cơ sở các quy định của pháp luật có thể hiểu:

“Căn cứ ly hôn là những tình tiết hay những điều kiện do pháp luật quy định

mà khi có những tình tiết hay điều kiện đó thì Tòa án cho ly hôn.

Điều kiện cần trước hết là đơn xin ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc của

cả hai vợ chồng Điều kiện đủ là thực trạng đời sống chung của vợ chồngphản ánh hoặc thể hiện những mâu thuẫn gay gắt không thể giải quyết được.Đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài và mục đích của hôn nhânkhông đạt được Hay khi một trong hai bên vợ chồng bị tòa án tuyên bố mấttích, và bên kia có đơn yêu cầu thì tòa án xem xét giải quyết

Dựa trên các điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn

1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

CĂN CỨ LY HÔN

1.2.1 Khái niệm

Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu kháchquan của cơ quan quản lý nhà nước bằng pháp luật ở nước ta hiện nay Phápluật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏcông tác quản lý nhà nước kém hiệu quả Do đó, xây dựng pháp luật và thựchiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Vậy thực hiện pháp luật là gì? Thực hiện pháo luật là một quá trình hoạtđộng có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống,tạo ra cơ sở pháp lý cho hành động thực tế của chủ thể pháp luật Các quyphạm pháp luật (QPPL) rất phong phú cho nên hình thức thực hiện chúngcũng khác nhau Căn cứ vào tính chất của hoạt động, thực hiện pháp luật,

Trang 21

khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:

-Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủthể pháp luật tự kiềm chế, không tiến hành những hoạt động hay hành vi màpháp luật cấm

- Thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật quy định

- Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó cácchủ thể tích cực chủ động thực hiện các quyền chủ thể của mình theo phápluật quy định

- Áp dụng pháp luật (hiểu một cách khái quát) là một hình thức thựchiện pháp luật, trong đó nhà nước dựa vào pháp luật để trao quyền cho các cơquan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân để căn cứ vào các quy địnhcủa pháp luật ban hành các quyết định các biệt làm phát sinh, thay đổi hoặcchấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể

Quan niệm áp dụng pháp luật (ADPL) như vừa nêu trên được thể hiệnrất rõ trong cuộc sống xã hội: chẳng hạn để ADPL hình sự nhằm buộc kẻphạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự thì nhà nước đã trao quyền cho Tòa

án và Tòa án căn cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật hình sự để xét xử

ra một bản án (văn bản ADPL hình sự) buộc kẻ phạm tội phải chịu một hìnhphạt nhất định Hoặc để bảo vệ an toàn giao thông, Nhà nước bằng pháp luật

đã quy định cho các chiến sỹ cảnh sát giao thông có quyền áp dụng các quyphạm pháp luật giao thông ra các quyết định xử phạt hành chính đối với cácchủ thể có hành vi vi phạm pháp luật giao thông như vượt đèn đỏ, đi vàođường ngược chiều…Ngoài ra, trong một số trường hợp, Nhà nước cũngcho phép một số tổ chức xã hội được ADPL, như pháp luật về Hội cho phépmột số tổ chức xã hội được ADPL ra quyết định tuyển nhân viên vào làm việctrong tổ chức của mình

Trang 22

Trong các hình thức thực hiện pháp luật, thì ADPL mà một hình thứcthực hiện pháp luật đặc biệt,vì pháp luật ở đây được thực hiện bởi các chủ thểnắm quyền lực Nhà nước Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sửdụng pháp luật là những hình thức mọi chủ thể pháp luật đều có thể tự thựchiện thì ADPL là hình thức luôn có sự tham gia của Nhà nước ADPL là hìnhthức rất quan trọng của việc thực hiện pháp luật Trong đó pháp luật tác độngvào cuộc sống, vào các quan hệ xã hội để đạt hiệu quả cao nhất, các quy địnhcủa nó đều được thực hiện triệt để, bởi vì ADPL luôn có sự can thiệp của nhànước.

Trong thực tế, nếu chỉ thông qua các hình thức thực hiện pháp luậtnhư: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật, thì phápluật có lúc không được thực hiện triệt để vì các chủ thể không tự giác thựchiện, bởi các hình thức này chỉ do các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện màkhông có sự bắt buộc hay cưỡng chế thực hiện của Nhà nước

Qua phân tích cho thấy ADPL có những đặc điểm sau:

Một là, ADPL chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến

hành Pháp luật quy định cho mỗi loại cơ quan nhà nước được quyền áp dụngmột số loại văn bản pháp luật nhất định trong những trường hợp nhất định

Chẳng hạn, chỉ có các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án mớiđược ADPL hình sự để điều tra, truy tố và xét xử kẻ tội phạm

Hai là, ADPL là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, thể

hiện: Cơ quan ADPL áp dụng theo ý chí đơn phương mà không phụ thuộc và

ý chí của bên bị áp dụng Việc thực hiện các quy định trong văn bản ADPLđược đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước

Ba là, ADPL là một hoạt động được tiến hành theo một trình tự, thủ tục

tố tụng rất chặt chẽ Chẳng hạn, muốn ADPL hình sự phải thực hiện theo đúngcác quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự Muốn giải

Trang 23

quyết cho ly hôn phải căn cứ theo quy định của Luật HN &GĐ, Luật dân sự

và tuân thủ thời hạn quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự

Bốn là, ADPL là một hoạt động sáng tạo Nghĩa là, khuôn khổ của pháp

luật cho phép người ADPL phải vận dụng tri thức khoa học của mình đểADPL sáng tạo mà không rập khuôn, máy móc

Áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế bằng một chế tài

thích hợp với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Chẳng hạn khi cầncưỡng chế một hình phạt tù đối với kẻ thực hiện hành vi phạm tội thì các cơquan bảo về pháp luật như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đã dựa trên cơ sởpháp luật hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án, ấn định tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ phải chấp hành hình phạt

đã nêu trong bản án đó Hay như trong trường hợp bản án Hôn nhân gia đìnhbuộc người chồng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng họ đã không thực hiện

và khi người vợ có đơn yêu cầu thi hành án, thì cơ quan Thi hành án buộcngười chồng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như nội dung trong bản án

đã có hiệu lực quy định

Thứ hai, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên

phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước

Chẳng hạn, Điều 55 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền

và nghĩa vụ của công dân”, nhưng quyền và nghĩa vụ đó chỉ phát sinh khi có

quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân đượcnhà nước trao quyền tuyển dụng công dân vào đó làm việc

Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý

giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không tự giải quyếtđược Chẳng hạn, khi phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bêntrong hợp đồng dân sự mà hai bên không bàn bạc giải quyết được nên nhờ

Trang 24

đến Tòa án và Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra một bản ánxác định các quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết

phải tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ

đó hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc,

sự kiện thực tế Ví dụ: Việc xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp, chứngnhận đăng ký kết hôn…

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: ADPL là một hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội, các cá nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để đề ra một văn bản ADPL làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật.

1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn

Áp dụng pháp luật nói chung là hoạt động mang tính quyền lực nhànước Áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn có những đặc điểm chung của ápdụng pháp luật, ngoài ra do đặc thù về đối tượng áp dụng là quan hệ hôn nhângia đình nên có những đặc điểm riêng sau:

Áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn chỉ do cơ quan nhà nước có thẩmquyền áp dụng Cụ thể ở đây là Thẩm phán cán bộ Tòa án nhân dân được nhànước giao nhiệm vụ giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình nói chung.Trong hoạt động áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn phải được tiến hành theotrình tự thủ tục chặt chẽ Từ giai đoạn nhận đơn, thụ lý đơn, hòa giải, ra quyếtđịnh hay bản án đều phải theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, LuậtDân sự, Luật HN & GĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành Tòa áp dụngpháp luật về căn cứ cho ly hôn cũng chính là thực hiện chức năng nhiệm vụcủa mình Và theo quy định của pháp luật, hiện nay chỉ có Tòa án mới cóthẩm quyền giải quyết cho ly hôn

Trang 25

Do ly hôn là mặt trái của hôn nhân, và khi ly hôn thường kéo theonhiều hệ lụy xấu, ảnh hưởng đến nhiều thành viên trong gia đình và xã hội.

Vì vậy, ở mỗi giai đoạn tùy theo yêu cầu của tình hình thực tế và chính sáchcủa Đảng và Nhà nước mà việc áp dụng pháp luật về căn cứ cho ly hôn phảiphù hợp với chủ trương đó

Thông thường hoạt động áp dụng pháp luật thường được tiến hành theo

ý chí đơn phương của chủ thể áp dụng Tuy nhiên, đối với hoạt động áp dụngpháp luật về căn cứ ly hôn do mang tính đặc thù riêng nên pháp luật thườngtôn trọng và lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các bên chủ thể Và thườngghi nhận những sự thỏa thuận tự nguyện không trái pháp luật, không trái đạođức xã hội của các bên

Hoạt động áp dụng pháp luật về căn cứ cho ly hôn đòi hỏi phải tuântheo những trình tự thủ tục chặt chẽ Điều này được thể hiện rõ trong quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự Từ khâu nhận đơn, xử lý đơn, thụ lý vụ án

và giải quyết đều phải tuân theo những quy định về thời hạn, thời hiệu vànhững yêu cầu cụ thể khác như: cung cấp tài liệu, chứng cứ, bổ sung các giấy

tờ cần thiết theo yêu cầu của tòa án Trong đó nếu các bên đương sự khôngthực hiện đúng theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể trả đơn (nếuchưa thụ lý) hoặc đình chỉ giải quyết vụ án Ví dụ như trường hợp hết thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận giấy báo nộp tiền tạm ứng án phí mà đương sựkhông nộp biên lai thu tiền cho Tòa án thì Tòa án sẽ trả lại đơn cho ngườikhởi kiện Hay nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắngmặt không có lý do thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Đặc biệt áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn đòi hỏi tính sáng tạo cao.Bởi vì các quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn mang tính chất chungchung, khái quát, song các trường hợp xin ly hôn trong thực tế lại rất đa dạng,phong phú nên đòi hỏi mỗi Thẩm phán khi giải quyết cho ly hôn phải nhìn

Trang 26

nhận, xem xét đánh giá đúng bản chất của mối quan hệ hôn nhân để có thểđưa ra phán quyết đúng đắn, đảm bảo quyền lợi của vợ chồng và các thànhviên khác trong gia đình.

1.3 CĂN CỨ LY HÔN QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.3.1 Căn cứ ly hôn trong pháp luật thời phong kiến

Dưới chế độ phong kiến, do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng trọngnam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông theo quan niệm

“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, pháp luật bảo vệ đặc quyền của người đàn ông trong gia đình, còn phụ nữ phải sống theo đạo nghĩa “Tam tòng tứ

đức” Chế độ đa thê với những quy định hà khắc về ly hôn đã bóp méo bảnchất của một cuộc hôn nhân chân chính, khiến hôn nhân trở thành gông cùmtrói buộc người phụ nữ Họ không được quyền tự quyết bất kỳ điều gì ngay

cả việc bảo vệ hạnh phúc riêng của mình

Năm 1483, vua Lê Thánh Tông đã xây dựng và ban hành bộ “Quốctriều hình luật” hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức Quốc triều hình luật(QTHL) là bộ luật được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài đánhgiá cao về nhiều phương diện trong lịch sử phong kiến Việt Nam Đây là bộluật chịu ảnh hưởng của Nho giáo, ra đời trong thời điểm Nho giáo có phạm

vi ảnh hưởng sâu sắc nhất

Trong hôn nhân, pháp luật phong kiến thừa nhận sự bất bình đẳng giữanam và nữ Luật quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân: ly hôn, mộttrong hai người chết

Trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người chết, quan hệhôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là người vợ, còn nếu làngười chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang Quy định này đượcquy định một cách gián tiếp trong các Điều 2 và Điều 320 của QTHL Đây là

Trang 27

quy định thể hiện rõ nhất về tư tưởng trọng nam khinh nữ của pháp luậtphong kiến thời bấy giờ Cùng quy định về căn cứ chấm dứt hôn nhân, nhưngkhi áp dụng lại có sự phân biệt giữa vợ và chồng.

Pháp luật phong kiến quy định quan hệ hôn nhân có thể chấm dứt vớicác điều kiện nhất định, có thể phân chia thành các nhóm căn cứ sau:

a Trường hợp ly hôn do lỗi của người vợ

Trong việc ly hôn, pháp luật quy định các duyên cớ ly hôn là do lỗi của

vợ hoặc chồng Những lỗi này là riêng biệt của vợ chồng chứ không phải làlỗi chung của cả hai vợ chồng, trong đó các lỗi của người vợ là chủ yếu Khingười vợ phạm một trong bảy điều thất xuất thì người chồng bắt buộc phải

bỏ vợ Nếu người chồng không bỏ thì pháp luật cũng buộc họ phải bỏ vàđồng thời người chồng còn bị xử biếm Các duyên cớ để người chồng bỏ vợ

được quy định tại Điều 310 QTHL: “Vợ cả, vợ lẽ phạm phải điều nghĩa tuyệt (như thất xuất) mà người chồng chịu giấu không bỏ thì bị xử tội biếm, tùy theo nặng nhẹ” Tuy nhiên không có điều luật nào trong QTHL giải thích về

thất xuất, nhưng tại đoạn 164 Hồng Đức thiện chính thư thì thất xuất đượchiểu như sau:

- Vô tử: không có con, không có con là bất hiếu với cha mẹ nên phải

bỏ vợ

- Ghen tuông: ghen tuông cũng là một duyên cớ người chồng phải bỏ

vợ vì người đàn ông được quyền lấy nhiều vợ, sự ghen tuông gây nên sự bạihoại trật tự tư gia trong đại gia đình

- Dâm dật: người vợ có mọi hành vi lẳng lơ, dâm đãng thì người chồngbuộc phải bỏ vợ, vì hành vi này làm bại hoại trật tự gia đình phong kiến

- Lắm lời: sự lắm lời của người vợ có thể gây nên sự bất hòa giữanhững người thân thuộc trong gia đình Lắm lời cũng là một thái độ củangười đàn bà phạm vào “tứ đức” (Công – dung – ngôn- hạnh) mà người đàn

bà kiểu mẫu phải có trong xã hội phong kiến

Trang 28

- Trộm cắp: theo quan niệm cổ, các con sống trong gia đình không aiđược có tài sản, tất cả tài sản đều thuộc người gia trưởng Người vợ phạmđiều này mà người chồng không bỏ thì vạ lây đến chồng.

Các quy định trên của pháp luật nhà Lê cho thấy nhà làm luật đã đặt lợiích, danh dự của gia đình lên trên lợi ích của cá nhân vợ chồng Trong cáctrường hợp này người chồng không có quyền tự lựa chọn một cách xử sự nàokhác ngoài việc bắt buộc phải bỏ vợ, mặc dù người chồng không muốn

Tại Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL) của nhà Nguyễn, Điều 108 cũng quyđịnh tương tự về bảy trường hợp thất xuất như trong QTHL Tuy nhiên,người chồng được quyết định xem có nên bỏ vợ hay không, luật chỉ phạtngười chồng 80 trượng khi nào người vợ không phạm bảy trường hợp thấtxuất mà người chồng tự tiện rẫy vợ

Theo Điều 108 thì nghĩa tuyệt có nghĩa là đoạn tuyệt hết ân nghĩa vợchồng và là quy định được sao chép từ luật nhà Thanh (Trung Quốc) Tuykhông có điều luật nào chú thích rõ ràng về nghĩa tuyệt nhưng có thể nhậnthấy một số trường hợp nghĩa tuyệt có thể do lỗi của người vợ (mưu sátchồng), có thể do lỗi của người chồng (chồng bán vợ làm nô lệ, người chồngbán vợ cho người khác làm nô lệ, người chồng cho thuê vợ hay cầm vợ),hoặc có thể do lỗi của cả hai vợ chồng (người chồng đem vợ thông gian gảbán cho gian phu)

Có thể nhận thấy QTHL “đã giản dị hóa luật Trung Hoa bằng cáchđồng hóa các trường hợp thất xuất cổ điển với các trường hợp nghĩa tuyệt.Quy định như vậy luật Hồng Đức đã thu hẹp lại nhiều những trường hợp bỏ

vợ có tính cách bắt buộc và đó cũng là biện pháp bảo vệ quyền lợi cho ngườivợ” [16]

b Trường hợp ly hôn do lỗi của người chồng

Song song với quyền ly hôn của người chồng, trong một chừng mực

Trang 29

nhất định pháp luật thời kỳ phong kiến cũng cho phép người vợ có quyền yêucầu ly hôn với người chồng, nếu người chồng vi phạm nghĩa vụ thiết yếu củahôn nhân như nghĩa vụ đồng cư và nghĩa vụ phù trợ.

Pháp luật thời kỳ Hồng Đức cũng như pháp luật thời kỳ Gia Long đãtrừng phạt nghiêm ngặt những trường hợp chồng bỏ lửng vợ, bỏ nhà ra đi hay

đi trốn Điều 308 QTHL quy định: “Phàm người chồng đã bỏ người vợ năm tháng không đi lại thì mất vợ Nếu người vợ đã có con thì cho hạn một năm.

Vì việc quan phải đi xa thì không theo luật này Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì xử tội biếm” Điều này thể hiện địa vị tương đối bình

đẳng giữa vợ chồng Quy định này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của gia đình.Tương tự như vậy, Điều 100 HVLL cũng cho phép người vợ được ly hôn khingười chồng không đi lại với vợ phải là ba năm Trong đời sống gia đình, vợchồng phải có sự quan tâm chăm sóc nhau cả về thể chất và tinh thần Việcngười chồng bở lửng vợ coi như không còn tình nghĩa vợ chồng nữa, hơn nữakhoảng thời gian ba năm người chồng không đi lại với vợ là quá dài, điều đógây thiệt hại cho người vợ Như vậy, so với Bộ luật nhà Lê thì Bộ luật nhàNguyễn là sự thụt lùi trong việc bảo vệ quyền lợi pháp lý của người vợ [18]

Người vợ được phép ly hôn người chồng trong trường hợp chồng

mắng nhiếc cha mẹ vợ Theo Điều 333 QTHL thì: “Nếu con rể lấy chuyện thị phi mà mắng nhiếc cha mẹ vợ, đem việc thưa quan sẽ cho ly dị vợ” Trường hợp này người vợ phải thưa quan và nếu quan cho phép thì mới được ly dị.

Quy định về quyền ly hôn của người vợ nếu người chồng vi phạm cácnghĩa vụ thiết yếu của hôn nhân là điểm độc đáo và tiến bộ của pháp luật nhà

Lê “Quy định này không có trong bất kỳ bộ luật nào của Trung Quốc, nóchứng minh địa vị tương đối bình đẳng giữa vợ chồng trong gia đình” [18]

c Trường hợp ly hôn do vi phạm điều các điều kiện cấm kết hôn

Hôn nhân vi phạm các điều kiện kết hôn là hôn nhân trái pháp luật vàbuộc phải ly dị Đó là các trường hợp sau:

Trang 30

- Kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng (Điều 317 QTHL).

- Kết hôn khi ông bà, cha mẹ đang bị giam cầm tù tội (Điều 318 QTHL)

- Lấy người trong họ (Điều 319 QTHL)

- Quan lại và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ, dù là vợ

cả hay vợ lẽ (Điều 323 QTHL)

- Lấy vợ góa của anh, em, thầy học (Điều 324 QTHL)

- Con của quan ty kết hôn với con của tù trưởng địa phương nơi biên giới (Điều 334 QTHL)

Việc cấm kết hôn trong pháp luật nhà Lê được quy định xuất phát từnhiều lý do khác nhau như: vì luân thường đạo lý như ở trường hợp cấm kếthôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng, vì thuần phong mĩ tục nhưtrường hợp cấm lấy vợ góa của anh, em, thầy học Hay vì lý do sức khỏe nòigiống mà cấm lấy người trong họ

1.3.2 Căn cứ ly hôn trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc

Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, với mục đích phục vụ chochính sách chia để trị, thực dân Pháp đã chia cắt nước ta thành ba kỳ: Bắc kỳ,Trung kỳ, Nam kỳ với tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật riêng.Theo sự chia cắt đó, ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng

để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình

Ở Bắc kỳ áp dụng Bộ luật dân sự năm 1931 (Dân luật Bắc kỳ)

Ở Trung kỳ áp dụng Bộ luật dân sự năm 1936 (Dân luật trung kỳ)

Ở Nam kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (Dân luật giảnyếu Nam kỳ)

Luật pháp thời kỳ này chịu ảnh hưởng nhiều từ tư tưởng làm luật củacác nước phương tây, đặc biệt là Pháp Sự giao lưu văn hóa và hội nhập dẫnđến những yêu cầu thay đổi trong đời sống hôn nhân Quyền bình đẳng đượctôn trọng hơn so với pháp luật thời kỳ trước, phụ nữ có quyền được học hành,

Trang 31

được ly hôn, xin con nuôi, có tài sản riêng Hôn nhân lúc này mang màu sắccủa chủ nghĩa tư bản Vấn đề ly hôn chủ yếu được xây dựng trên nền tảngNho giáo phong kiến trước đây và dựa theo Dân luật của Pháp năm 1804 vớiquan điểm thuần túy coi hôn nhân là một loại hợp đồng và nó sẽ kết thúc nếumột trong hai bên phạm vào các yếu tố lỗi do luật quy định.

Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc quy định chỉ có Tòa án mới có quyền cho

vợ chồng ly hôn khi có đủ các duyên cớ cho ly hôn mà pháp luật đã quy định.Căn cứ ly hôn được quy định dựa vào lỗi của chồng hoặc của vợ

Người chồng có thể xin ly hôn với người vợ với các duyên cớ được quyđịnh tại các Điều 118 (DLBK) và Điều 117 (DLTK), đó là các duyên cớ sau:

- Vì vợ phạm gian;

- Vợ bỏ nhà ra đi, tuy đã buộc phải trở về mà không trở về;

- Vì vợ thứ đánh chửi bạo hành vợ chính

Quyền ly hôn được thừa nhận cho cả vợ và chồng Việc ly hôn do Tòa

án quyết định trong những trường hợp được Luật dự liệu Việc dự liệu cáctình huống là cơ sở để quy định căn cứ ly hôn mang tính chất liệt kê Tuynhiên, nó vẫn được xây dựng dựa trên xuất phát điểm về quyền được bìnhđẳng của cả nam và nữ

Bên cạnh đó sự quy định các duyên cớ ly hôn do lỗi của người vợ, Điều

119 (DLBK) và Điều 118 (DLTK) còn quy định các duyên cớ ly hôn do lỗi củangười chồng Người vợ có thể xin ly hôn với người chồng vì các lý do sau:

- Chồng không làm những nghĩa vụ cam kết khi kết hôn là phải nuôi nấng vợ con tùy theo kế sinh nhai;

- Chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng vợ con;

- Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mình;

- Chồng làm trái trật tự vợ chính vợ thứ

Trang 32

Ngoài việc quy định duyên cớ ly hôn do lỗi của vợ hoặc của chồng,pháp luật còn ghi nhận một số duyên cớ chung để cả hai vợ chồng có thể xin

ly hôn Điều 120 (DLBK) và Điều 119 (DLTK) có quy định như sau:

- Bên nọ hà khắc, hành hạ, chửi rủa thậm tệ đối với bên kia, hoặc với tổphụ bên kia;

- Vì một bên can án trọng tội;

- Vì một bên vô hành làm nhơ nhuốc đến nỗi bên kia không thể ở chung được;

Hành vi ngoại tình cũng được coi là một lý do - cơ sở để yêu cầu lyhôn Tại Nam kỳ áp dụng quy định của tập DLGYNK (căn cứ ly hôn đượclấy nguyên mẫu từ Bộ Luật dân sự Napoleon và thừa kế Hoàng việt Luật lệ)quy định căn cứ ly hôn Chế độ ly hôn trong DLGYNK vẫn áp dụng tam bấtkhứ để hạn chế quy định ly hôn của người chồng

1.3.3 Căn cứ ly hôn quy định trong pháp luật Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa ra đời Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Namđộc lập ra đời vào năm 1946 Trong Hiến pháp 1946, lần đầu tiên quyền bình

đẳng giữa nam và nữ được xác lập: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9 Hiến pháp 1946).

Hôn nhân trên nguyên tắc bình đẳng, một vợ một chồng và chế định về

ly hôn của pháp luật thời kỳ này là một trong những biện pháp giải phóng phụ

nữ khỏi sự kìm hãm của chế độ gia đình gia trưởng thời phong kiến Văn bảnpháp lý đầu tiên chứa đựng những quy tắc mới về ly hôn là Sắc lệnh 159 - SLngày 17.11.1950 do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành TạiĐiều 2 của Sắc lệnh quy định những duyên cớ ly hôn như sau:

- Một bên ngoại tình;

Trang 33

- Một bên can cán phạt giam;

- Một bên bỏ nhà đi quá 02 năm không có duyên cớ chính đáng;

- Một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi;

- Vợ chồng tính tình không hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được

Sắc lệnh 159/SL mang nhiều tư tưởng tiến bộ Xuất phát từ tình hình kinh

tế xã hội, trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và hôn nhân một vợ một chồng

Việc quy định căn cứ ly hôn do ngoại tình là hoàn toàn phù hợp Vợchồng có nghĩa vụ chung thủy, chăm lo vun đắp cho hạnh phúc gia đình Tuynhiên khi một trong hai bên vợ chồng có quan hệ ngoại tình sẽ làm rạn nứttình cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, ảnh hưởng tới

sự bền vững của gia đình

Vợ chồng còn phải có nghĩa vụ chung sống và giúp đỡ lẫn nhau cả vềthể chất và tinh thần Việc quy định vợ hoặc chồng được phép ly hôn trongtrường hợp một bên can án phạt giam và một bên bỏ nhà đi quá hai năm màkhông có lý do chính đáng là hợp lý Vì khi còn mình vợ hoặc chồng sẽkhông thể gánh vác chăm lo cho gia đình được Hơn nữa trong trường hợpnày vợ chồng không còn sống chung với nhau trong một thời gian thì hônnhân tồn tại chỉ là hình thức

Điểm mới của căn cứ ly hôn thời kỳ này là việc quy định một bên cóthể yêu cầu ly hôn nếu bên kia mắc bệnh điên hoặc bệnh khó chữa Khi vợhoặc chồng mắc bị điên hoặc bệnh khó chữa sẽ không đảm bảo hạnh phúc giađình, không có khả năng thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ của vợ chồngtrong việc xây đựng đời sống chung Vì vậy, người vợ hoặc người chồng cóquyền yêu cầu ly hôn Quy định này nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ,chồng trong đó có cả lợi ích của các thành viên khác trong gia đình

Luật HN &GĐ năm 1959 được Quốc hội khóa I thông qua ngày

Trang 34

29.12.1959 và có hiệu lực ngày 13.01.1960 Lần đầu tiên quy định căn cứ lyhôn hoàn toàn mới Theo đó việc giải quyết ly hôn không dựa trên yếu tố lỗicủa các bên như trước đây mà căn cứ vào thực trạng của quan hệ hôn nhân.

Điều 26, Luật HN & GĐ năm 1959 quy định: “Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hòa giải, hòa giải không được, Tòa án nhân dân sẽ xét xử Nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án nhân dân sẽ cho ly hôn”.

Căn cứ ly hôn phải hội đủ các yếu tố phản ánh thực tế quan hệ hônnhân không thể tồn tại được nữa, khi tình trạng trầm trọng, đời sống chungkhông thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và một trong hai

vợ chồng có đơn yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết

Hôn nhân là sự kiện pháp lý liên kết giữa một người nam và một người

nữ với tư cách là vợ chồng, và mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đìnhhạnh phúc Tuy nhiên, khi cuộc hôn nhân đó có những rạn nứt, mâu thuẫn,giữa vợ chồng không còn những sẽ chia, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, mụcđích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc đã không đạt được thì nếu

có cố kéo dài cuộc sống như thế vợ chồng cũng không thể đạt được mục đíchcủa hôn nhân Do đó, khi có đầy đủ những điều kiện trên Tòa án sẽ xem xét

và giải quyết cho vợ chồng ly hôn

Sau khi đất nước thống nhất, pháp luật về hôn nhân và gia đình nóichung, và pháp luật về ly hôn nói riêng được tiếp tục hoàn thiện và phù hợpvới tình hình mới

Tại kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa VII ngày 29.11.1986 đã thông quaLuật hôn nhân và gia đình năm 1986 với 10 chương, 57 Điều Trong đó căn

cứ ly hôn tại Điều 40 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Tòa án nhân dân tiến hành điều tra và hòa giải.

Trang 35

Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hòa giải không thành

và xét đúng là hai bên thực sự tự nguyện ly hôn, thì Tòa án nhân dân công nhận thuận tình ly hôn.

Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hòa giải không thành thì Tòa án nhân dân xét xử Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án nhân dân cho ly hôn ”.

Về cơ bản căn cứ ly hôn được quy định trong Luật HN &GĐ năm 1986

có nội dung tương tự như căn cứ ly hôn trong Luật HN & GĐ năm 1959 Tuynhiên, Luật HN &GĐ năm 1986 đã quy định rõ hơn về trình tự thủ tục giảiquyết ly hôn Theo đó chia ly hôn thành hai trường hợp: thuận tình ly hôn và

ly hôn theo yêu cầu của một bên Luật HN &GĐ năm 1986 đã góp phần vàoviệc xây dựng và cũng cố quan hệ gia đình xã hội chủ nghĩa Từng bước nângcao nhận thức của người dân trong việc chấp hành các quy định của phápluật Đồng thời xác định rõ mục đích của hôn nhân nhằm nâng cao tráchnhiệm của công dân, nhà nước và xã hội trong việc cũng cố, xây dựng chế độhôn nhân và gia đình Việt Nam

Trước những thay đổi của điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội, sauhơn 10 năm thực hiện, Luật HN &GĐ năm 1986 đã bộc lộ những hạn chế vàkhông còn phù hợp với tình hình mới Do vậy, tại kỳ họp thứ VII Quốc hộikhóa X ngày 09.6.2000 đã thông qua Luật HN &GĐ năm 2000 gồm 13chương, 110 Điều được xây dựng dựa trên nguyên tắc hôn nhân bình đẳng,tiến bộ và kế thừa các quy định của luật HN &GĐ trước đây

Về cơ bản quy định căn cứ ly hôn theo Luật HN &GĐ năm 2000 không

có sự thay đổi nhiều về nội dung so với căn cứ ly hôn trong các Luật HN

&GĐ trước đó Theo Điều 89 Luật HN &GĐ quy định về căn cứ ly hôn nhưsau:

Trang 36

“1 Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Việc ly hôn được quyết định theo đơn yêu cầu của vợ và chồng hoặccủa riêng một trong hai người Pháp luật quy định căn cứ ly hôn dựa trên tìnhtrạng thực tế của hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thểkéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Điểm mới của căn cứ ly hôn trong Luật HN & GĐ năm 2000 là quy

định: “Vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” Đây là sự khác biệt và cụ thể hơn so với quy

định của Luật HN & GĐ năm 1959 và Luật HN & GĐ năm 1986 Quy địnhnày được dựa trên thực tế và phù hợp với đời sống chung của vợ chồng Vềnội dung căn cứ ly hôn theo Luật HN & GĐ năm 2000, tác giả sẽ đi sâu phântích và làm rõ hơn ở Chương 2

Trang 37

Chương 2

CƠ SỞ PHÁP LUẬT, CÁC ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG VÀ VIỆC

ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ

CỦA TÒA ÁN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN

NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

Sau hơn 10 năm đưa vào triển khai, thực hiện Luật HN&GĐ năm 2000

đã đạt được những thành tựu đáng kể Nhiều quy định của Luật đã được thựchiện tốt đi sâu vào nhận thức của người dân Các nguyên tắc cơ bản của Luật

HN & GĐ năm 2000 đã được thực hiện Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở

tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, quyền bình đẳng giữa vợ và chồngngày càng được nâng cao Vai trò của người phụ nữ trong gia đình ngày càngđược khẳng định và trở nên quan trọng Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiềutrường hợp người phụ nữ bị ngược đãi, nạn bạo hành gia đình vẫn còn.Chính vì vậy, hiện nay số lượng các vụ án về ly hôn ngày càng gia tăng Cónhiều vụ án phức tạp và giải quyết kéo dài Tòa án giải quyết các vụ án ly hônphải căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết Và chỉ cho vợ chồng

ly hôn trong những trường hợp sau:

Luật HNGĐ năm 2000 vẫn quy định hai trường hợp ly hôn: thuận tình

ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu Tuy nhiên cách qui định về căn cứ lyhôn cho hai trường hợp này có sự thay đổi so với qui định của Luật HNGĐnăm 1986

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và 2000 đều quy định căn cứ lyhôn theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng Tuy nhiên, khixem xét và áp dụng căn cứ cho ly hôn Tòa án phải tiến hành điều tra, hòa giải(Luật Hôn nhân năm 1986) và xem xét yêu cầu ly hôn (Luật Hôn nhân và gia

Trang 38

đình năm 2000) nếu thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéodài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định hai trường hợp

ly hôn là: theo yêu cầu của một bên (vợ hoặc chồng đơn phương xin ly hôn)

và thuận tình ly hôn (hai vợ chồng cùng xin ly hôn) Cả hai trường hợp nàykhi Tòa án thụ lý giải quyết đều phải tiến hành điều tra, xác minh tình trạnghôn nhân thực tế của hai bên vợ chồng Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đờisống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thìTòa án bằng bản án hoặc quyết định để giải quyết cho vợ chồng ly hôn Tạikhoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã kế thừa quy định củaLuật hôn nhân và gia đình năm 1986 đối với trường hợp ly hôn trên

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quyđịnh thêm căn cứ cho ly hôn hoàn toàn mới mà Luật hôn và gia đình năm

1986 không quy định, đó là trường hợp: vợ hoặc chồng của người bị Tòa ántuyên bố mất tích có đơn xin ly hôn Đối với trường hợp này, khi quyết địnhtuyên bố một người mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật Bản thânngười vợ hoặc người chồng có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án cho ly hôn vàkhông cần phải qua thủ tục xác minh, hay hòa giải nữa Đây là quy đinh hoàntoàn phù hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người có vợ hoặc chồng bịtuyên bố mất tích

Dưới đây, tác giả sẽ đi sâu phân tích và làm rõ các trường hợp ly hôntheo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

2.1.1 Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

Theo Luật HN &GĐ năm 2000 quy định: “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Trước hết, cần phải hiểu thế nào là “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” ?

Trang 39

Xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn thì thấy, khi tình trạng vợ chồng đãđến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài là muốn nói đến tìnhyêu của vợ chồng không còn nữa, nó có thể đã phai nhạt hay bị một tình yêukhác lấn át, thay thế Đồng thời vợ chồng có những mâu thuẫn sâu sắc đếnmức không thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt và tan vỡ màkhông thể hàn gắn được Nếu vợ chồng tiếp tục chung sốn g trong hoàn cảnh

đó thì không những không đem lại niềm vui, hạnh phúc mà tình trạng đó cònảnh hưởng tới đời sống của những thành viên khác trong gia đình, đặc biệt làcon cái

Khi nói “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” là

phải đặt thực trạng vợ chồng trong tổng thể các mối quan hệ Nếu chỉ đơnthuần xem xét quan hệ giữa hai cá nhân vợ chồng cũng là chưa đầy đủ Nhưvậy, nếu chỉ thấy rằng tình yêu giữa hai vợ chồng không còn nữa mà đánh giárằng tình trạng trầm trọng để cho vợ chồng ly hôn là đã đứng trên quan điểmcoi hạnh phúc cá nhân là mục đích của hôn nhân C.Mác đã phê phán mạnh

mẽ sự tùy tiện của những người chỉ nhìn thấy sự bất hạnh của những cặp vợchồng phải gắn bó với nhau khi tình yêu giữa họ không còn Ông cho rằng

những người này: “Chỉ nghĩ đến cá nhân mà quên mất gia đình Họ quên rằng hầu như mọi tan vỡ của hôn nhân đều là sự tan vỡ của gia đình, và quên rằng ngay cả khi đứng trên quan điểm thuần túy pháp lý, hoàn cảnh của con cái và tài sản của chúng cũng không thể bị lệ thuộc vào sự xử lý tùy tiện của

bố mẹ, vào việc bố mẹ muốn sao làm vậy” [2].

Như vậy, tình yêu chân chính giữa nam và nữ là cơ sở của việc kết hôn,nhưng tình yêu giữa vợ và chồng không phải là cơ sở duy nhất để duy trì quan

hệ hôn nhân Hôn nhân là cơ sở của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội Quan

hệ hôn nhân bền vững dẫn đến gia đình bền vững và xã hội phát triển ổn định

Để quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững đòi hỏi vợ chồng không những

Trang 40

phải thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với nhau, đối với con cái, quan tâmvun vén, chăm sóc gia đình Thông thường khi vợ chồng yêu thương nhau thì

họ tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với nhau, đối với gia đình.Nhưng khi tình yêu giữa vợ chồng không còn thì thường dẫn đến họ khôngthực hiện nghĩa vụ đối với nhau, thậm chí cả các nghĩa vụ của họ đối với concái Như vậy, nếu tình yêu giữa vợ chồng không còn dẫn đến trách nhiệmgiữa họ đối với nhau và với các thành viên khác trong gia đình không còn thì

rõ ràng “tình trạng” đã “trầm trọng” và không thể kéo dài cuộc sống chung

Thực tế cuộc sống vợ chồng rất đa dạng và phong phú Do đó, biểuhiện của “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không hể kéo dài ” cũng rất

đa dạng Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc đánh giá “tình trạng trầm trọng”gặp nhiều khó khăn, phức tạp Căn cứ ly hôn được pháp luật quy định rấtchung chung và mang tính khái quát cao Trong khi đó mâu thuẫn vợ chồng

và những nguyên nhân dẫn đến vợ chồng xin ly hôn lại cụ thể Vì vậy, có một

số quan điểm cho rằng, cần quy định căn cứ ly hôn cụ thể hơn để tạo điều kiệnthuận lợi cho việc xem xét, đánh giá và xét xử của Tòa án Tuy nhiên, có thểthấy rằng không thể quy định các quy định căn cứ ly hôn cụ thể Bởi vì nếuquy định căn cứ ly hôn cụ thể, có nghĩa là phải quy định Tòa án cho phép vợchồng ly hôn trong các trường hợp nào và như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa hìnhthức, giải quyết ly hôn dựa vào biểu hiện bên ngoài của quan hệ vợ chồng.Khi đó giải quyết ly hôn có thể phiến diện, không được xem xét từ bản chất,thực trạng của quan hệ vợ chồng Do vậy, căn cứ ly hôn được quy định trongLuật HN &GĐ phải mang tính khái quát cao Để tạo điều kiện cho các Thẩmphán đánh giá thực chất quan hệ vợ chồng, và quyết định chấp nhận đơn lyhôn hay bác đơn yêu cầu ly hôn của họ được chính xác Tòa án nhân dân tốicao đã có văn bản hướng dẫn mang chất cụ thể cho phù hợp với thực trạngquan hệ vợ chồng khi họ có yêu cầu ly hôn

Ngày đăng: 13/12/2022, 22:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Mác. Ph. Ăng ghen (1978), “Bản dự Luật về ly hôn”, Tập 1, NXB sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác. Ph. Ăng ghen (1978), "“Bản dự Luật về ly hôn”
Tác giả: C. Mác. Ph. Ăng ghen
Nhà XB: NXB sự thật Hà Nội
Năm: 1978
2. C. Mác - Ph. Ăng ghen, “Toàn tập”, Tập 1, tr. 106 - 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác - Ph. Ăng ghen, "“Toàn tập”
8. Nguyễn Ngọc Điện (2002), “Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình”, tập 1, NXB Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Điện (2002), “"Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: NXB Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
11. Lê Nin (1980), “Về quyền dân tộc tự quyết”, toàn tập, Tập 25, NXB Tiến bộ, Maxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Nin (1980), “"Về quyền dân tộc tự quyết”
Tác giả: Lê Nin
Nhà XB: NXB Tiếnbộ
Năm: 1980
16. Vũ Văn Mẫn, “Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử”, Quyển thứ nhất, Tập 2, Sài Gòn 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Văn Mẫn, "“Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử”
17. Nhà xuất bản Đà Nẵng (2010), “Đà Nẵng toàn cảnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Đà Nẵng (2010), "“Đà Nẵng toàn cảnh
Tác giả: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng (2010)
Năm: 2010
18. Nhà xuất bản Khoa học và xã hội (1994), “Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Khoa học và xã hội (1994), "“Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII
Tác giả: Nhà xuất bản Khoa học và xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và xã hội (1994)
Năm: 1994
19. Đinh Mai Phương (chủ biên), “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Mai Phương (chủ biên), “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
20. Lê Thị Sơn (Chủ biên), “Quốc triều hình luật. Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị”, NXB Khoa học và Xã hội, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Sơn (Chủ biên), "“Quốc triều hình luật. Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị”
Nhà XB: NXB Khoa học và Xã hội
23. Tòa án nhân dân tối cao (2001), “Tòa án với việc giải quyết những vấn đề về HN và GĐ - Những tồn tại, vướng mắc và hướng hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân tối cao (2001), "“Tòa án với việc giải quyết những vấn đề về HN và GĐ - Những tồn tại, vướng mắc và hướng hoàn thiện
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2001
24. Tòa án nhân dân tối cao (2010), “Báo cáo tổng kết toàn ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân tối cao (2010), "“Báo cáo tổng kết toàn ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2010
25. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2006), “Báo cáo tổng kết ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2006), "“Báo cáo tổng kết ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2006
26. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2007), “Báo cáo tổng kết ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2007), "“Báo cáo tổng kết ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2007
27. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2008), “Báo cáo tổng kết ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2008), "“Báo cáo tổng kết ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2008
28. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2009), “Báo cáo tổng kết ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2009), "“Báo cáo tổng kết ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2009
29. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2010), “Báo cáo tổng kết ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2010), "“Báo cáo tổng kết ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2010
30. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2011), “Báo cáo tổng kết ngành” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2011), "“Báo cáo tổng kết ngành
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2011
31. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2010), “Kỷ yếu ngành”, (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2010), "“Kỷ yếu ngành”
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Năm: 2010
32. Thu Thủy (2011), “Ly hôn mang tính toàn cầu”, Báo phụ nữ Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu Thủy (2011), "“Ly hôn mang tính toàn cầu”
Tác giả: Thu Thủy
Năm: 2011
34. Trường Đại học luật Hà Nội (2009), “Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình”, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học luật Hà Nội (2009), "“Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình”
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê số án ly hôn sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết từ năm 2006 - 2011. - PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG NẤM MEN TRONG BÁNH MEN LÁ VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG TRONG CHẾ BIẾN RƯỢU
Bảng th ống kê số án ly hôn sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết từ năm 2006 - 2011 (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w