1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGÂN HÀNG CÂU HỎI KINH TẾ PHÁT TRIỂN

59 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân Hàng Câu Hỏi Kinh Tế Phát Triển
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Bài kiểm tra/bài tập ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 808 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 15. Thực tế cho thấy, một nền kinh tế có tỷ lệ tiết kiệm s = 20%; hệ số ICOR k = 5%; thì nền kinh tế đó chắc chắn có tốc độ tăng trưởng kinh tế là g = 4% (11)
  • 21. Mô hình phát triển hai khu vực của A. Lewis cho thấy, khi lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp được sử dụng hết, đường cung lao động trong khu vực công nghiệp và nông nghiệp sẽ có độ dốc dương (13)
  • 22. Theo mô hình dịch chuyển lao động của Athur Lewis, tốc độ tạo công ăn việc làm trong công nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ đầu tư trong khu vực này (14)
  • 23. Người lao động ( lực lượng lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo (16)

Nội dung

Độc quyền tại ( Photo Lộc Hải ( Hotline 01643 894 744 NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC PHẦN KINH TẾ PHÁT TRIỂN PHẦN 1 CÂU HỎI ĐÚNG SAI 7Câu 1 Kinh tế phát triển nghiên cứu các quy luật vận động và các vấn.

Thực tế cho thấy, một nền kinh tế có tỷ lệ tiết kiệm s = 20%; hệ số ICOR k = 5%; thì nền kinh tế đó chắc chắn có tốc độ tăng trưởng kinh tế là g = 4%

ĐÚNG vì theo mô hình Harrod Domar ta có

Câu 16 Lý thuyết của Rostow cho thấy, quá trình phát triển của các quốc gia đang phát triển mang tính tuần tự theo các giai đoạn

Theo Rostow, mọi quốc gia đều trải qua một chu trình các giai đoạn phát triển dựa trên các điều kiện sản xuất cụ thể ở mỗi thời kỳ Mặc dù lịch sử, văn hóa và cấu trúc xã hội của các nước khác nhau, yếu tố cốt lõi quyết định sự tiến bộ vẫn nằm ở nguồn lực và quy trình sản xuất Rostow cho rằng sự tăng trưởng kinh tế là quá trình từ tiền công nghiệp sang công nghiệp hóa và cao cấp hóa, được thúc đẩy bởi thay đổi thể chế và đầu tư vào sản xuất Do đó, nền kinh tế thế giới vận động theo một khuôn mẫu chung về phát triển, dù thời điểm và tốc độ có thể khác nhau giữa các nước Hiểu rõ điều kiện sản xuất cùng các giai đoạn này giúp phân tích xu hướng tăng trưởng và đề xuất các chính sách phù hợp cho từng quốc gia.

Trong quá trình phát triển kinh tế, các nước thường trải qua từ mức độ thấp đến cao theo một chu trình năm giai đoạn Theo lý thuyết này, năm giai đoạn gồm xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, trưởng thành và tiêu dùng cao Mỗi giai đoạn cho thấy sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất, công nghệ và mức độ tiêu dùng, từ nền kinh tế nông nghiệp và thủ công sang nền kinh tế hiện đại với đa dạng ngành nghề và đầu tư vào hạ tầng Nhận diện đúng giai đoạn giúp định hướng chính sách phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Trong mô hình hai khu vực của Lewis, khu vực công nghiệp có thể thu hút toàn bộ lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp với một mức tiền lương cố định Đúng như lý thuyết của Lewis, mức lương ở khu vực công nghiệp được giữ ở mức cố định cho tới khi toàn bộ lao động dư thừa từ nông nghiệp được huy động sang khu vực công nghiệp Trong giai đoạn này, tiền lương công nghiệp không thay đổi cho đến khi nguồn lao động dư thừa đã được cân bằng, và chỉ sau khi quá trình dịch chuyển kết thúc thì mức lương có thể tăng hoặc điều chỉnh theo cơ cấu cung-cầu lao động.

Câu 18: Trong mô hình của A.Lewis cho rằng mức tiền công tối thiểu trong nông nghiệp được xác định bằng sản phẩm trung bình của vốn trong nông nghiệp.

SAI VÌ với giả định khu vực nông nghiệp dư thừa lao động

(tương ứng với lao động vượt quá mức L* trên đồ thị sản lượng)

 tiền lương hay tiền công trong nông nghiệp được tính bằng sản phẩm trung bình (APL) (lấy tổng sản lượng chia cho tổng số lao động)

Trong trường hợp đường cung lao động trong nông nghiệp là hoàn toàn co dãn, sự tăng cầu lao động sẽ khiến lượng lao động được tuyển dụng tăng lên mà tiền lương vẫn giữ ở mức cố định Như vậy, khi cầu lao động trong nông nghiệp tăng và cung là hoàn toàn co dãn, tiền lương không tăng dù số người làm việc được tuyển dụng nhiều hơn.

SAI VÌ: đường cung lao động trong nông nghiệp hoàn toàn co dãn thì nó là một đường nằm ngang

-Khi cầu lao động trong nông nghiệp tăng từ

L đến L1 không làm cho tiền lương trong nông nghiệp tăng lên mà làm tiền lương trong nông nghiệp vẫn giữ nguyên là WA

Câu20: Trong mô hình dịch chuyển cơ cấu của A.Lewis đường cung lao động trong nông nghiệp và công nghiệp đều là một đường nằm ngang.

-Đường cung trong nông ngiệp là 1 đường gãy khúc gồm :

+ Đoạn nằm ngang : khi cung lao động hoàn toàn co dãn tương ứng với khi lao động trong khu vực nông nghiệp còn dư thừa

+ Đoạn dốc lên: đường cung lao đông co dãn tương ứng với trong nông nghiệp k còn lao động dư thừa nữa.

- Đường cung công nghiệp là 1 đường gẫy khuc bao gồm :

Đoạn nằm ngang của đường cung lao động cho thấy cung lao động co dãn hoàn toàn, tức là nhà tư bản có thể thuê bao nhiêu lao động tùy ý mà không cần tăng lương Vì đặc điểm này, họ có thể hút ròng lực lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp mà chi phí tiền lương vẫn giữ ở mức cố định Kết quả là dòng chảy lao động từ NN sang CN diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, tác động đến cơ cấu lao động và thị trường tiền lương ở mức ổn định.

+Đoạn dốc lên : đường cung lao động co dãn tương ứng do hết lđ dư thừa bên

NN nên muốn thuê thêm lđ thì nhà TBCN cần phải tăng lương.

Mô hình phát triển hai khu vực của A Lewis cho thấy, khi lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp được sử dụng hết, đường cung lao động trong khu vực công nghiệp và nông nghiệp sẽ có độ dốc dương

thừa trong khu vực nông nghiệp được sử dụng hết, đường cung lao động trong khu vực công nghiệp và nông nghiệp sẽ có độ dốc dương. ĐÚNG VÌ:

Thei mô hình của A Lewis thì đường cung lao động trong nông nghiệp là một đường gãy khúc.

-Đoạn đường nằm ngang là cung lao động hoàn toàn co dãn tương ứng với khi lao động nông nghiệp còn dư thừa

-khi lao động nông nghiệp còn dư thừa thì cách duy nhất để tăng cung lao động là tăng mức

Trong lý thuyết thị trường lao động, khi mức lương W lớn hơn WA, đường cung lao động thể hiện độ dốc dương, cho thấy mức tăng của lương đi kèm với tăng lượng lao động được cung ứng Việc di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác theo hướng trái sang phải thể hiện sự tăng của lượng lao động cung ứng theo mức lương Độ co dãn của cung lao động cho biết mức độ nhạy cảm của lượng lao động được tuyển dụng với sự biến động của lương: cung lao động co dãn cao sẽ khiến lượng lao động cung ứng tăng nhiều hơn khi W tăng, trong khi cung lao động co dãn thấp sẽ ít thay đổi hơn Do đó, khi W vượt WA, tác động lên số lượng lao động phụ thuộc vào độ co dãn của cung lao động và các yếu tố thị trường khác như thời gian, cơ hội thay thế và sở thích dành cho việc làm hay rời bỏ nghề, từ đó giải thích tại sao số lượng lao động có thể tăng hoặc giảm tùy hoàn cảnh.

=> không còn lao động dư thừa trong nông nghiệp nữa nông nghiệp)

Theo mô hình dịch chuyển lao động của Athur Lewis, tốc độ tạo công ăn việc làm trong công nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ đầu tư trong khu vực này

Đồ thị cho chúng ta biết vì sao ứng với đầu tư mở rộng sẽ

Là tăng lên về số lượng lao động được sử dụng trong côngnghiệp.

WA mức tiền công trong bình của khu vực nông nghiệp

WM là tiền lương công nhân (WM>WA) Đường D1 là đường cầu lao động trong công nghiệp

Tương ứng với mức sản lượng TP1, tương ứng với TP2 là D2…

Với lượng vốn KM1 thu hút lượng lao động L1, có WM cao hơn WA trong nông nghiệp, lợi nhuận mà nhà tư bản thu được là sự chênh lệch giữa tổng sản lượng OD1FL1 và mức tăng lương trả cho lao động, diện tích là OWMFL1 tương ứng diện tích WMD1F Giả định tất cả lợi nhuận tái đầu tư nên lượng vốn tăng lên KM2 Do cung lao động trong nông nghiệp hoàn toàn co dãn nên lao động được sử dụng trong khu vực công nghiệp cũng tăng lên tương ứng với mức đầu tư, dẫn tới lợi nhuận nhà tư bản tăng và diện tích là WMD2G Tương tự với vốn KM3 thì lợi nhuận vẫn tiếp tục tăng, lao động trong công nghiệp sử dụng tiếp tục gia tăng tương ứng cho tới khi lao động dư thừa trong nông nghiệp được thu hút hết. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

Người lao động ( lực lượng lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo

- Nguồn nhân lực của quốc gia là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quy đinh của luật pháp, khả năng tham gia lao động

- nguồn lao động là một trong bộ phận của nguồn nhân lực đang tham gia tìm kiếm việc làm hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm

Câu 24 Nguồn nhân lực bằng nguồn lao động công việc với thật nghiệp tự nguyện ĐÚNG VÌ

- Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao đông theo quy định của pháp luật và có khả năng tham gia lượng lao động.

- nguồn lao động là một trong bộ phận của nguồn nhân lực đang tham gia tìm kiếm việc làm hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm

- thất nghiệp tự nguyện là những người không có việc làm và cũng không có nhu cầu tìm kiếm việc làm,

Lực lượng lao động là một phần của dân số ở độ tuổi lao động tham gia vào hoạt động kinh tế, được hình thành từ hai nhóm cơ bản: người đang làm việc và người đang tìm kiếm việc làm một cách tích cực Tuy nhiên, vẫn có những người trong độ tuổi lao động không có nhu cầu tìm kiếm việc làm và do đó không thuộc lực lượng lao động Vì vậy, thất nghiệp tự nguyện và lực lượng lao động đều phản ánh trạng thái tham gia của dân số trong độ tuổi lao động vào thị trường lao động, đồng thời cho thấy mức độ sẵn sàng tham gia hoạt động kinh tế của xã hội.

25.Tổng sô những người trong độ tuổi làm việc theo quy định ở mỗi nước là nhân tố trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập của xã hội

Ở mỗi quốc gia, những người ở độ tuổi làm việc được gọi chung là nguồn nhân lực Tuy nhiên, nguồn nhân lực được chia thành hai bộ phận: nguồn lao động (gồm người có việc làm và người đang tích cực tìm kiếm việc làm) và ngoài nguồn lao động (người không muốn làm việc, sinh viên, bộ đội, người nội trợ) Vì vậy, yếu tố trực tiếp đóng góp vào thu nhập của xã hội chỉ là nguồn lao động, chứ không phải là toàn bộ những người trong độ tuổi làm việc theo quy định của nước đó.

Đặc điểm nổi bật của khu vực thành thị chính thức là lực lượng lao động đã qua đào tạo, mức lương cao và thị trường lao động luôn cân bằng, tức cung lao động bằng cầu lao động.

Lao động khu vực thị trường đô thị chính thức gồm các cơ quan nhà nước và các đơn vị sản xuất kinh doanh lớn tại thành phố, thị xã Khu vực này chủ yếu có nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn cao được đào tạo bài bản Mức lương ở khu vực này cao hơn mức lương cân bằng trên thị trường lao động, do đó nguồn cung lao động thường vượt cầu và tạo áp lực cạnh tranh tuyển dụng.

Tiền lương trong thị trường lao động phi chính thức của khu vực nông thôn và khu vực thành thị được xác định tại điểm cân bằng của cung và cầu Vì hai khu vực này chia sẻ cùng cơ chế xác định lương, mức lương phi chính thức giữa nông thôn và thành thị thường tương đồng Do đó, với phân tích dựa trên nguyên lý cân bằng thị trường, tiền lương phi chính thức ở hai khu vực này được xem là bằng nhau.

Khu vực phi chính thức ở đô thị thu hút một lượng lớn lao động từ những người dân thành thị thiếu vốn sản xuất và có trình độ chuyên môn thấp hoặc chưa được đào tạo đầy đủ Việc tham gia khu vực này rất dễ dàng, chỉ với một vốn nhỏ người ta có thể bán hàng rong, đạp xích lô hoặc thực hiện nhiều công việc linh hoạt khác Đối với những người không có vốn để tự tạo việc làm, vẫn có cơ hội làm thuê cho người khác trong khu vực này Do đó, khu vực phi chính thức ở đô thị có tiềm năng cung cấp một khối lượng lớn việc làm, dù mức tiền công thường thấp và có xu hướng ở mức cân bằng Tuy tiền công thấp, thực tế cho thấy đa số dân thành thị, kể cả người di cư từ nông thôn, có thu nhập trung bình cao hơn so với khu vực nông thôn.

Câu 28 Đối với các quốc gia đang phát triển, tiền lương của lao động ở khu vực thành thị được xác định tại điểm cân bằng trên thị trường.

Ở các quốc gia đang phát triển, tiền lương lao động tại khu vực thành thị được phân thành hai loại: lao động chính thức, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao nên mức lương tương đối ổn định; và lao động không chính thức, có trình độ thấp và mức thu nhập thấp, có khuynh hướng ở trạng thái cân bằng khác với thị trường chung Do đó, tiền lương tại khu vực thành thị không thể xác định tại một điểm cân bằng duy nhất trên thị trường.

Thị trường lao động nông thôn ở các nước đang phát triển được cho là luôn ở trạng thái cân bằng, khiến người ta cho rằng khu vực này không tồn tại tình trạng thất nghiệp.

Thị trường lao động nông thôn có độ co giãn cung cầu cao, khiến hoạt động tuyển dụng thay đổi theo mùa và ảnh hưởng đến mức việc làm Thất nghiệp vô hình xuất hiện do nguồn lao động dồi dào và tính chất mùa vụ, nên khi mùa vụ kết thúc tỉ lệ thất nghiệp tăng lên Ở các nước đang phát triển, thị trường lao động nông thôn có một điểm cân bằng, tuy nhiên đó là điểm cân bằng ảo.

Câu 30 Sự khác nhau về bản chất của vấn đề thất nghiệp giữa các nước phát triển và đang phát triển là thất nghiệp vô hình.

Thất nghiệp vô hình gồm cả người không có việc làm và người có việc làm nhưng lương thấp, làm việc ít giờ và thu nhập bấp bênh Ví dụ điển hình là người bán hàng rong, họ có việc làm nhưng mức thu nhập rất thấp Lao động như vậy tồn tại ở cả nước đang phát triển và nước phát triển, cho thấy thất nghiệp vô hình không chỉ là sự khác biệt về mức độ phát triển của nền kinh tế Vì thế, khái niệm thất nghiệp vô hình phản ánh những thách thức chung của thị trường lao động, vượt ra ngoài sự phân chia giữa các nước phát triển và đang phát triển.

Ở nước đang phát triển, người lao động làm việc trong khu vực thành thị phi chính thức được coi là thất nghiệp trá hình Đúng vậy, vì khu vực phi chính thức ở các nước đang phát triển luôn có một lượng lớn lao động xếp hàng chờ việc làm với mức lương cao hơn mức lương cân bằng trên thị trường Đa số người lao động ở thành phố làm việc trong khu vực phi chính thức là những người có trình độ chuyên môn thấp, chỉ với vốn ít có thể bán rong hoặc làm thuê cho người khác Khối lượng lớn việc làm ở khu vực này có mức lương thấp.

Câu 32: Khi nguồn lao động tăng lên sẽ làm tăng mức cầu lao động của nền kinh tế

Trong thị trường lao động, nguồn lao động tăng chỉ tác động lên cung lao động, vì cung lao động phản ánh số lao động sẵn sàng làm việc ở từng mức lương khác nhau Ngược lại, cầu lao động thể hiện lượng lao động mà doanh nghiệp sẵn sàng và muốn tuyển dụng ở mức lương nhất định, chứ không phụ thuộc vào việc nguồn cung lao động tăng lên hay giảm đi Nhờ đó, cung và cầu lao động phản ánh các yếu tố giá lao động và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Câu 33: Vốn sản xuất là khoản tiền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Vốn sản xuất là giá trị của các tài sản được dùng làm phương tiện phục vụ cho quá trình sản xuất, bao gồm tài sản cố định và hàng hóa tồn kho Về hình thái, vốn sản xuất tồn tại dưới dạng tài sản vật chất và không phải là tiền mặt; đây là dạng vốn gắn trực tiếp với quá trình sản xuất chứ không phải một khoản tiền.

Câu 34: Vốn đầu tư là khoản tiền sử dụng chủ yếu vào việc duy trì năng lực sản xuất của 1 nền kinh tế

Vốn đầu tư là phần bổ sung nhằm tích lũy tài sản và mở rộng quy mô của tài sản sản xuất cũng như tài sản phi sản xuất Về hình thái, vốn đầu tư có thể tồn tại dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản vật chất, nên nó không nhất thiết phải là một khoản tiền duy nhất.

Việc đẩy mạnh công nghệ vào sản xuất ở mức độ cao hơn làm tăng tỉ lệ thất nghiệp, vì công nghệ tiến lên sẽ dần thay thế con người bằng máy móc trong quá trình làm việc Năng suất mà máy móc và hệ thống tự động hóa mang lại thường cao hơn, dẫn tới hiệu quả sản xuất tốt hơn so với lao động thủ công Mặt khác, chi phí đầu tư cho máy móc và công nghệ có thể được xem là rẻ hơn trong dài hạn, khiến doanh nghiệp ưu tiên tự động hóa nhiều hơn Chính điều này làm giảm nhu cầu sử dụng lao động và gây ra tình trạng thất nghiệp cao hơn.

Câu 36: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài luôn đem lại công nghệ hiện đại nhất cho các nước đang phát triển

Ngày đăng: 13/12/2022, 20:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w