1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊNH GIÁ tài sản NHÓM 4 K55HH1

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Giá Tài Sản NHÓM 4 K55HH1
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Định Giá Tài Sản
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 35,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Vận dụng PP giá trị tài sản thuần trong định giá doanh nghiệp để xác định giá trị doanh nghiệp cụ thể LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP THEO PHƯƠNG PHÁP GIÁ TRỊ.

Trang 1

Đề tài: Vận dụng PP giá trị tài sản thuần trong định giá doanh nghiệp để xác định giá trị doanh nghiệp cụ thể

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP THEO PHƯƠNG PHÁP GIÁ TRỊ TÀI SẢN THUẦN

1.1 Cơ sở của phương pháp

Phương pháp giá trị tài sản thuần còn gọi là phương pháp giá trị nội tại hay mô hình định giá tài sản, được xây dựng dựa trên quan điểm:

- Việc mua bán doanh nghiệp về cơ bản giống như mua bởi các hàng hoá thông thường

- Sự hoạt động của doanh nghiệp bao giờ cũng được tiến hành trên cơ sở một lượng tài sản có thực Những tài sản đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể về sự tồn tại của doanh nghiệp, chúng cấu thành thực thể của doanh nghiệp

- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà đầu tư ngay khi thành lập doanh nghiệp và còn có thể được bổ sung trong quá trình phát triển SXKD Cơ cấu nguồn tài trợ để hình thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu tư đối với số tài sản đó

Chính vì vậy, giá trị của doanh nghiệp được tính bằng tổng giá trị thị trưởng của số tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào SXKD

Để xác định giá trị doanh nghiệp, ta đi tính tổng giá trị thị trường của số tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh Để xác định giá trị doanh nghiệp đối với chủ sở hữu, áp dụng công thức sau:

Trang 2

: Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp

: Tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào SXKD

: Giá trị các khoản nợ

Dựa theo công thức trên, người ta suy diễn ra hai cách tính cụ thể về giá trị tài sản thuần (V) như sau:

Cách thứ nhất: Dựa vào số liệu về tài sản và cơ cấu nguồn vốn phản ánh trên bảng

cân đối kế toán tại thời điểm đánh giá để xác định bằng cách: lấy tổng giá trị tài sản phản ánh ở phần tài sản trừ đi các khoản nợ phải trả bên nguồn vốn

Đây là một cách tính toán đơn giản, dễ dàng Nếu như việc ghi chép phản ánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, doanh nghiệp chấp hành tốt các quy định của chế độ kế toán thì giá trị tài sản thuần tính toán được sẽ là số liệu có độ tin cậy về số vốn theo sổ sách của chủ sở hữu đang được huy động vào sản xuất kinh doanh Nó chỉ ra mức độ độc lập về tài chính, khả năng tự chủ trong điều hành SXKD của chủ doanh nghiệp, là căn cứ thích hợp để nhà đầu tư đánh giá vị thế tín dụng của doanh nghiệp

Mặc dù người ta có thể đánh giá giá trị doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau, song theo cách này nó cũng minh chứng cho các bên liên quan thấy được rằng: đầu tư vào doanh nghiệp luôn luôn được đảm bảo bằng giá trị của các tài sản hiện có trong doanh nghiệp chứ không phải bằng cái “ có thể” như nhiều phương pháp khác

Tuy nhiên giá trị doanh nghiệp xác định theo phương pháp này cũng chỉ là những thông tin, số liệu mang tính chất lịch sử có tính chất tham khảo trong quá trình vận dụng các phương pháp khách nhằm định ra giá trị doanh nghiệp một cách đúng hơn

Cách thứ hai: xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường: loại ra khỏi danh mục

đánh giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của sản xuất kinh doanh sau đó đánh giá số tài sản còn lại trên nguyên tắc sử dụng giá thị trường để tính cho những nhóm tài sản hoặc từng tài sản cụ thể

Trang 3

Để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết người ta loại ta khỏi danh mục đánh giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của SXKD Sau đó tiến hành đánh giá số tài sản còn lại trên nguyên tắc sử dụng giá thị trường để tính cho từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể, như sau:

- Đối với TSCĐ và TSLĐ là hiện vật thì đánh giá theo giá thị trường nếu trên thị trường hiện đang có bán những tài sản như vậy Trong thực tế, thường không tồn tại thị trường TSCĐ cũ, đã qua sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau Khi đó, người ta dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ sản xuất của tài sản để áp dụng một tỷ lệ khấu trừ trên giá trị của một TSCĐ mới

- Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì người ta áp dụng một hệ

số quy đổi so với những TSCĐ khác loại nhưng có tính năng tương đương

- Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dư trên tài khoản Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường tại thời điểm đánh giá Vàng, bạc, kim khí, đá quý…cũng được tính toán như vậy

- Các khoản phải thu: Do khả năng đồi nợ các khoản này có thể ở nhiều mức độ khác nhau, vì vậy, bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ, xác minh tính pháp

lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải thu nhằm loại ra những khoản mà doanh nghiệp không có khả năng đòi được hoặc khả năng đòi được quá mong manh

- Đối với các khoản đầu tư ta bên ngoài doanh nghiệp: Về mặt nguyên tắc phải thực hiện đánh giá một cách toàn diện về giá trị đối với các doanh nghiệp hiện đang sử dụng các khoản đầu tư đó Tuy nhiên nếu các khoản đầu tư này không lớn, người ta thường trực tiếp dựa vào giá thị trường của chúng dưới hình thức chứng khoán hoặc căn cứ vào

số liệu của bên đối tác liên doanh để xác định theo cách thứ nhất đã đề cập ở phần trên

- Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: Tính theo phương pháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai

Trang 4

- Các tài sản vô hình: Theo phương pháp này người ta chỉ thừa nhận giá trị của các tài sản vô hình đã được xác định trên sổ kế toán và thường không tính đến các lợi thế thương mại của doanh nghiệp

Sau cùng, giá trị tài sản thuần được tính bằng cách lấy tổng giá trị của các tài sản đã được xác định trừ đi các khoản nợ phản ánh ở bên nguồn vốn của bảng cân đối kế toán và khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêm của số tài sản được đánh giá lại tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

1.2 Nội dung của phương pháp

Trong phương pháp này, việc xác định giá trị doanh nghiệp được ưu tiên theo hướng

đi vào xác định giá trị thị trường cuả các tài sản của doanh nghiệp, cụ thể quy trình thực hiện như sau:

Bước 1: Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp

Bước 2: Dựa vào kết quả kiểm kê tiến hành phân loại tài sản Tùy theo mục đích

thẩm định giá mà có những cách phân loại tài sản khác nhau Thẩm định viên lựa chọn những danh mục tài sản cần thiết có khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và loại bỏ những tài sản không cần thiết dùng đến trong quá trình thẩm định giá doanh nghiệp

Bước 3: Thẩm định viên đánh giá số tài sản còn lại theo thị trường, tính trên cơ sở

tổng giá trị thị trường toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Việc tính toán cụ thể giá trị thị trường của các tài sản trong doanh nghiệp được thực hiện như sau:

+ Đối với tài sản cố định và tài sản lưu động là hiện vật (bất động sản, máy thiết bị, hàng hóa, nguyên vật liệu ) sẽ được đánh giá lại giá trị theo phương pháp thẩm định giá phù hợp: Phương pháp so sánh; Phương pháp chi phí, Phương pháp thu nhập

+ Đối với các tài sản bằng tiền sẽ tiến hành kiểm quỹ, đối chiếu số dư tài khoản Còn nếu là các loại giấy tờ có giá, ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý sẽ được quy đổi về đồng tiền quy định theo giá thị trường tại thời điểm thẩm định giá Tỷ giá ngoại tệ được xác định

Trang 5

theo tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp có giá trị giao dịch ngoại tệ lớn nhất tại thời điểm thẩm định giá Trường hợp doanh nghiệp cần thẩm định giá không có giao dịch ngoại tệ tại thời điểm thẩm định giá thì xác định theo tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng tại thời điểm thẩm định giá

+ Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản: Nếu doanh nghiệp chọn thuê đất trả tiền hàng năm thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, nhưng phải tính giá trị lợi thế đất thuê vào giá trị doanh nghiệp

+ Đối với tiền thuê đất trả tiền một lần thì tính lại tiền thuê đất theo số năm trả trước tiền thuê đất còn lại và giá thuê đất tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp; phần chênh lệch tăng so với tiền thuê đất ghi trên sổ kế toán tính vào vốn chủ sở hữu

+Đối với các khoản phải thu cần tiến hành đối chiếu công nợ và xác minh rõ tính pháp lý của các khoản nợ đó và phân chia thành 3 loại: Loại chắc chắn đòi được; Loại khó đòi; Loại không có khả năng đòi được Loại chắc chắn đòi được sẽ được ghi vào giá trị, loại công nợ khó đòi có thể ước tính giá trị còn lại để ghi nhận vào giá trị doanh nghiệp Bên cạnh đó đối giá trị tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn được xác định theo số dư thực tế trên sổ kế toán đã được đối chiếu xác nhận vào thời điểm thẩm định giá

+ Đối với các khoản mà doanh nghiệp đầu tư bên ngoài cần đi vào đánh giá lại giá trị thị trường tại thời điểm thẩm định giá của các khoản đầu tư đó, việc đánh giá được thực hiện tùy thuộc vào loại hình đầu tư, cách đầu tư và phương pháp đầu tư Về nguyên tắc phải đánh giá một cách toàn diện về giá trị đối với doanh nghiệp hiện đang sử dụng các khoản đầu tư đó Tuy nhiên nếu các khoản đầu tư này không lớn và đáng tin cậy thì căn

cứ dựa vào số liệu của bên đối tác đầu tư để tính toán

+ Đối với các tài sản vô hình những tài sản vô hình (tên thương mại, nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, dữ liệu ) của doanh nghiệp đã được ghi nhận trên sổ kế toán, việc xác định giá trị của loại tài sản này về nguyên tắc cũng được xác định theo giá thị trường bằng các phương pháp phù hợp với từng loại tài sản vô hình

Trang 6

+ Đối với các khoản nợ cũng cần tính toán theo giá thị trường của các khoản nợ này: Tùy theo mục đích thẩm định giá, những tài sản không thỏa mãn quy định về hạch toán,

kế toán nên trong báo cáo tài chính, kế toán hiện tại không được đưa vào phân tích Tuy nhiên trên thực tế hiện vẫn còn có đóng góp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì vẫn được xem xét để đưa vào tính giá trị doanh nghiệp Ví dụ như tài sản vô hình, giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp theo phương pháp này, người ta chỉ thừa nhận giá trị các tài sản vô hình đã được xác định trên sổ kế toán (số dư trên sổ kế toán vào thời điểm thẩm định giá) hoặc lợi thế về quyền thuê tài sản và thường không tính đến lợi thế thương mại của doanh nghiệp

Bước 4: Xác định giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp bằng cách cộng tất cả giá trị các tài sản đã được thẩm định giá lại theo giá trị thị trường theo đánh giá ở Bước 3.

Bước 5: Xác định giá trị doanh nghiệp đối với chủ sở hữu bằng cách lấy tổng giá trị

tài sản đánh giá lại trừ đi nợ phải trả

1.3 Ưu điểm và hạn chế

1.3.1 Ưu điểm

- Phương pháp đã chỉ ra được những tài sản cụ thể cấu thành giá trị doanh nghiệp Giá trị của các tài sản đó có tính pháp lý rõ ràng về khoản thu nhập mà người mau chắc chắn sẽ nhận được khi sở hữu doanh nghiệp

- Phương pháp đã xác định giá trị thi trường của một số tài sản có thể bán rời tại thời điểm đánh giá Như vậy nó chỉ ra rằng có một khoản thu nhập tối thiểu mà người sở hữu nhận được

- Đối với những doanh nghiệp nhở mà số lương tài sản không nhiều, việc định giá tài sản đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp giá trị các yếu tố vô hình là không đáng kẻ, các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh không rõ ràng, thiếu căn cứ xác minh các khoản nhập trong tương lai thì giá trị thuần sẽ trở thành tiêu chuẩn cơ bản và thích hợp nhất để các bên xích lại gần nhau trong quá trình đàm phán

Trang 7

1.3.2 Hạn chế

Theo phương pháp này người ta quan niệm doanh nghiệp như một tập hợp các loại tài sản vào với nhau Giá trị doanh nghiệp chỉ đơn giản được bằng tổng giá thị trường của

số tài sản trong doanh nghiệp tại một thời điểm xác định Doanh nghiệp không được coi

là một thực, một tổ chức đang tồn tại và còn có thể hoàn chỉnh và phát triển trong tương lai Vì vậy, mà nó không phù hợp với một tầm nhìn chiến lược về doanh nghiệp Bởi động cơ của người mua doanh nghiệp là nhằm sở hữu các khoản thu nhập trong tương lai, chứ không phải để bán lại ngay những tài sản hiện thời

- Phương pháp giá trị tài sản thuần đã không cung cấp và xây dựng được những cơ sở thông tin cần thiết để các bên có liên qua đánh giá về triển vọng sinh lời của doanh nghiệp Đó cũng là lý do mà khi sử dụng phương pháp này, người ta khó có thể giải thích

vì sao cùng một giá trị tài sản thuần như nhau nhưng doanh nghiệp này lại có giá trị cao hơn doanh nghiệp khác, ngay cả khi không có sự tác động của yếu tố cạnh tranh

- Phương pháp giá trị tài sản thuần đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giá trị thực sự và nhiều khi lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá trị doanh nghiệp như: trình độ quản lý, trình độ công nhân, uy tín, thị phần… của doanh nghiệp Đó có thể

là những doanh nghiệp có tài sản không đáng kể nhưng triển vọng sinh lợi cao

- Trong nhiều trường hợp, xác định giá trị tài sản thuần lại trở nên quá phức tạp Chẳng han, xác định giá trị của một tập đoàn có nhiều chi nhánh, có các chứng khoán đầu

tư ở nhiều doanh nghiệp khác nhau Mỗi chi nhánh lại có một số lượng lớn các tài sản đặc biệt, đã qua sử lý, thậm chí không còn bán trên thị trường Khi đó, đòi hỏi phải tổng kiểm

kê đánh giá lại một cách chi tiết mọi tài sản ở các chi nhánh Kéo theo một loạt chi phí đánh giá tốn kém, thời gian cần thiết cho một cuộc đánh giá có thể kéo dài, kết quả đánh giá phụ thuộc rất lớn vào các thông số kỹ thuật của tài sản mà các nhà kỹ thuật có chuyên môn ngành đưa ra Như vậy, sai số đánh giá có thể rất cao

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIÁ TRỊ TÀI SẢN THUẦN ĐỂ ĐỊNH GIÁ FPT

Trang 8

2.1 Tổng quan về công ty FPT

Tập đoàn FPT là một trong những công ty dịch vụ công nghệ thông tin lớn nhất tại Việt Nam FPT luôn không ngừng đổi mới, liên tục sáng tạo với mong muốn đem đến cho Khách hàng các sản phẩm/ giải pháp/ dịch vụ công nghệ tối ưu nhất

FPT có gần 29.000 Cán bộ Nhân viên, trong đó có hơn 17.000 kỹ sư công nghệ thông tin, lập trình viên, chuyên gia công nghệ, hệ thống văn phòng tại 22 quốc gia và vùng lãnh thổ bên ngoài Việt Nam FPT cũng là doanh nghiệp dẫn đầu trong các lĩnh vực: Xuất khẩu phần mềm, Tích hợp hệ thống; Phát triển phần mềm; Dịch vụ CNTT

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Công ty FPT thành lập ngày 13/09/1988: Ban đầu là một công ty xuất khẩu thực phẩm và tiếp đó là máy móc quân sự từ Liên Xô, sau đó mới chuyển sang lĩnh vực công nghệ qua đấu thầu thành công dự án cung cấp máy vi tính cho Đài truyền hình

1994: trở thành nhà phân phối của IBM tại Việt Nam

1996: Khai trương mạng WAN đầu tiên ở Việt Nam: “Trí tuệ Việt Nam”

1998: Trở thành nhà phân phối Oracle tại Việt Nam, cung cấp dịch vụ ISP và ICP tại Việt Nam

1999: thành lập trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế FPT Apech

2000: nhận chứng chỉ ISO 9001:2000

2001: ra mắt tờ báo trực tuyến: Vn Express

2002: cổ phần hóa, là đối tác của HP tại Việt Nam

2003: Trở thành nhà phân phối điện thoại di động Samsung tại Việt Nam

Thành lập 6 công ty chi nhánh

Trở thành nhà phân phối điện thoại Nokia tại Việt Nam

Trang 9

2004: Là đối tác Vàng của Cisco ở khu vực Đông Dương

2005: Triển khai dịch vụ trò chơi trực tuyến (Game online) có bản quyền

Thành lập công ty cổ phần viễn thông FPT

Đối tác vàng của Microsoft

Thành lập công ty TNHH Software Nhật Bản

2006: Niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh với giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường

Thành lập trường đại học FPT

Triển khai dịch vụ truyền hình Internet

Nhận chứng chỉ CMMI - 5

Cung cấp dịch vụ WiMax

Tham gia phát triển khu CNC Hòa Lạc và khu CNC TP Hồ Chí Minh

Tiếp nhận 36,5 triệu đô đầu tư chiến lược từ Texas Pacific Group và Intel Capital

Kí thỏa thuận liên minh chiến lược với Microsoft

2007: là đối tác bán hang cấp cao nhất Microsoft tại Việt Nam VN express vào top

100 trang web được nhiều người xem nhất trên toàn cầu (theo Alexa.com)

Thành lập công ty TNHH phần mềm FPT Châu Á - Thái Bình Dương tại Singapore

Thành lập công ty TNHH bán lẻ FPT, công ty cổ phần chứng khoán FPT, công

ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư FPT, công ty TNHH dịch vụ tin học FPT, công ty TNHH phát triển khu CNC Hòa Lạc FPT, công ty TNHH bất động sản FPT, công ty TNHH

Trang 10

truyền thông giải trí, công ty cổ phần quảng cáo FPT, công ty cổ phần dịch vụ trực tuyến FPT

Hợp nhất công ty TNHH hệ thống Thông tin FPT, công ty TNHH giải pháp phần mềm

2.1.2 Khái quát tình hình tập đoàn FPT

a Nguồn nhân lực

- Tổng số nhân viên hơn 8.000 người, trong đó có nhiều cán bộ được đào tạo chuyên sâu Đây là nền tảng để công ty không ngừng tạo nên những giá trị gia tăng hiệu quả cho khách hang và người tiêu dung

- Bên cạnh việc đầu tư và phát triển chuyên môn, FPT chú trọng đào tạo đội ngũ cán

bộ trẻ sẵn sang tiếp bước cũng như kế thừa lớp đàn anh, duy trì và phát triển Tập đoàn đến với tầm cao mới.Chương trình “Thủ lĩnh trẻ” là một bước đi chiến lược của FPT trong kế hoach xây dựng lực lượng vững mạnh với 16.000 nhân viên và hơn 1.000 lãnh đạo các cấp vào năm 2008

b Công nghệ

• Về hệ thống thông tin: Tất cả các hoạt động chính tại FPT đều được tin học hóa đảm bảo đầy đủ thông tin, chính xác và đúng quy trình Đặc biệt trong tháng 2/2006 công

ty đã quyết định đầu tư 2 triệu USD cho hệ thống ERP của mình để đáp ứng nhu cầu phát triển trong những năm tới

• Trình độ công nghệ trong từng lĩnh vực hoạt động của FPT

• Trong lĩnh vực giải pháp phần mềm, FPT là Đối tác Vàng của Microsoft và Oracle, đạt chứng chỉ CMM-5

• Trong xuất khẩu phần mềm, FPT đạt chứng chỉ CMMI-5, BS7799

• Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ ERP, FPT là đối tác cao cấp (CAP) của Oracle

Ngày đăng: 13/12/2022, 20:49

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w