Nguyên nhân thực trạng nợ xấu Việt Nam I) Thứ nhất, môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh tài doanh nghiệp suy giảm Kể từ cuối năm 2008 đến nay, kinh tế chịu tác động tiêu cực khủng hoảng tài suy thối kinh tế tồn cầu, sau vấn đề lạm phát cao Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn sản xuất kinh doanh làm tăng nợ xấu TCTD Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp có lực tài yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ khả ứng phó với thay đổi mơi trường kinh doanh hạn chế Vì vậy, mơi trường kinh doanh xấu đi, sách kinh tế vĩ mơ thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hố khó khăn ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết kinh doanh khả trả nợ vay ngân hàng doanh nghiệp Trên thực tế, việc doanh nghiệp gặp khó khăn kinh tế biến động theo chiều hướng xấu, dư âm khủng hoảng điều dự báo trước Ngồi số doanh nghiệp lớn trì vị kinh doanh hiệu quả, với doanh nghiệp tìm hướng hồn cảnh khó khăn, nhiều doanh nghiệp khác lực khơng thích ứng với hồn cảnh lâm vào tình trạng khơng hồn trả nợ, điển hình như: Vụ việc cơng ty Trường Ngân (tỉnh Bình Dương), nợ 600 tỷ đồng với ngân hàng kinh doanh thua lỗ Cơng ty thủy sản Bình An- Bianfishco (tỉnh Sóc Trăng) nợ 1800 tỉ đồng vào cuối năm 2012, chủ yếu nợ tiền nguyên liệu đầu vào mua từ nơng dân tình hình kinh doanh sản xuất thua lỗ, khơng tìm đầu Đặc biệt, khủng hoảng tài ảnh hưởng lớn tới lĩnh vực bất động sản, khiến khu vực trở thành điểm nóng tập trung nợ xấu, với tổng giá trị chiếm tới 8% tổng nợ xấu, ước đạt 262.000 tỉ đồng Điển hình kể tới cơng ty TNHH Địa ốc Diệp Bạch Dương, với dư nợ chi nhánh Agribank Thành phố Hồ Chí Minh tính đến năm ngối 3700 tỉ đồng (trong nợ gốc 2967 tỉ đồng) II) Thứ hai, lực quản trị rủi ro ngân hàng Hiện nay, việc xếp hạng tín dụng nội khách hàng TCTD mang tính chất chủ quan Các ngân hàng chưa xây dựng thước đo lượng hóa rủi ro nên chưa tính tốn xác yếu tố dẫn đến định cho vay, phân loại nợ chưa xác Những khoản rủi ro to làm bé đi, khoản vay bé làm cho to lên Bên cạnh đó, phía doanh nghiệp – đối tượng giải ngân vốn quan trọng TCTD, theo nghiên cứu có đến 90% doanh nghiệp vừa nhỏ, khơng doanh nghiệp có báo cáo tài khơng xác, phần lớn báo cáo tài lại khơng kiểm tốn Ngay doanh nghiệp lớn kiểm tốn chậm chễ việc cơng bố báo cáo chất lượng kiểm tốn gây khơng khó khăn cho ngân hàng III) Thứ ba, đạo đức nghề nghiệp số cán ngân hàng khách hàng dẫn đến tình trạng thơng đồng rút ruột ngân hàng Ngân hàng ngành kinh doanh đặc thù, cần dựa tin cậy mức độ tín nhiệm đạo đức phải đặt lên hàng đầu khía cạnh cịn mang tính bắt buộc Thực tế cho thấy, nhiều cán ngân hàng thông đồng rút ruột với khách hàng, cho vay khống dẫn đến hậu nghiêm trọng Chính có chi nhánh phải xử lý hàng chục nhân viên cấu kết với rút ruột ngân hàng Tuy nhiên chưa có tính tốn, tỷ lệ nợ xấu có xuất phát từ đạo đức ngân hàng Ngoài ra, nợ xấu nằm dạng “chuyển vốn cho vay thành vốn góp.” Khoản nợ khơng “rất xấu” mà cịn nguy hiểm chỗ tồn sổ sách nợ chủ nợ Các kiện điển hình kể tới: Khởi tố 25 cán ngân hàng có liên quan tới vụ vỡ nợ công ty thủy sản Phương Nam: Theo đó, bị can bị đề nghị truy tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm: Lâm Minh Mẫn (1980), Kế toán trưởng Cty Cổ phần chế biến thực phẩm Phương Nam Trịnh Thị Hồng Phượng (1980), Phó Giám đốc Cty Cổ phần chế biến thực phẩm Phương Nam 25 bị can bị đề nghị truy tố tội vi phạm quy định cho vay hoạt động tổ chức tín dụng các chủ chốt ngân hàng Ở Ngân hàng Phát triển chi nhánh Sóc Trăng gồm Nguyễn Thế Thắng (1959), Giám đốc; Nguyễn Văn Xem (1960)- PGĐ chi nhánh; Trần Văn Nhã (1975)-Trưởng phịng Tín dụng; Vũ Văn Quang (1978)-Trưởng phòng kiểm tra; Từ Quỳnh Ngân (1984) Cán tín dụng Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – SGD Hậu Giang gồm: Đỗ Hùng Sở (1967) Giám đốc; Vũ Ngọc Thuận (1978) Phó Giám đốc Nguyễn Hồi Bảo (1976)-Trưởng phịng khách hàng; Nguyễn Thanh Hải (11979)-Trưởng phịng quản lý tín dụng; Nguyễn Thanh Vinh (1984) chuyên viên định giá tài sản đảm bảo; Nguyễn Việt Tâm (1987) chun viên Thẩm định phịng thẩm định phía Nam; Phạm Vĩnh Phúc (1985) Chuyên viên thẩm định phòng khách hàng; Tống Hùng Vĩ (1986) chuyên viên tín dụng Nguyễn Văn Sơn (1976) Giám đốc Ngân hàng TMCP An Bình- Chi nhánh Bạc Liêu; Võ Văn Trương (1983) trưởng phịng quan hệ khách hàng; Kim Hồng Minh Tân (1980)-Ngun trưởng phịng quản lý tín dụng; Ở Ngân hàng Sacombank chi nhánh Sóc Trăng gồm: Lưu Quốc Cường (1980) – Phó GĐ; Võ Lê Việt Thắng (1982) trưởng phịng cá nhân kiêm doanh nghiệp; Trương Văn Hùng (1981) nguyên chuyên viên khách hàng; Nguyễn Thanh Long (1976)- Nguyên GĐ; Lê Hồng Phong (1980)- Trưởng phịng hỗ trợ kinh doanh; Lê Mạnh Hùng (1973) ngun kiểm sốt tín dụng; Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Sóc Trăng gồm: Nguyễn Thị Bích Dung (1964)- Phó GĐ; Lâm Quốc Tuấn (1981) trưởng phòng; Huỳnh Thị Ngọc Huệ (1979) cán khách hàng Theo kết luận điều tra C48 Bộ cơng an, Cơng ty Phương Nam, có địa TP Sóc Trăng ơng Lâm Ngọc Khn làm giám đốc, có vốn điều lệ 295 tỉ đồng, ông Khuân vợ góp vốn 55% Từ tháng 1/2011, ông Khuân bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Tuy nhiên hoạt động kinh doanh từ năm 2008 đến 30/9/2013, Công ty Phương Nam vay nợ tổ chức tín dụng dư nợ lớn; dư nợ từ năm trước chuyển sang năm sau ngày cao kết kinh doanh năm lỗ nên khả toán khoản vay Từ năm 2008 - 2010, ông Khuân đạo thuộc cấp thực nhiều hành vi gian đối để vay tiền NH Cụ thể lập báo cáo tài khống, kết kinh doanh năm có lãi nộp thuế đầy đủ, lập báo cáo nâng khống hàng tồn kho từ 123 tỉ đồng lên 774 tỉ đồng để chấp cho nhiều NH, sử dụng chứng từ mua tơm ngun liệu, chi phí sản xuất photocopy thành nhiều gửi đến nhiều NH để giải ngân , sau sử dụng vốn sai mục đích chiếm đoạt sử dụng cá nhân Đến ngày 11/11/2011, ông Khuân vợ ký giấy ủy quyền cho trai Lâm Ngọc Khoa (Việt kiều Mỹ) đứng làm giám đốc để điều hành công ty giải nợ nần cho NH cá nhân Ngày 30/11/2011, ông Khuân vợ xuất cảnh sang Mỹ với lý trị bệnh trốn lại Mỹ đến Ngày 11/7/2012, Lâm Ngọc Khoa bỏ Cty qua Mỹ Cơ quan điều tra Bộ Công an xác định dư nợ NH có quan hệ tín dụng với Công ty Phương Nam đến ngày 31/10/2012 1.752 tỉ đồng, nợ gốc gần 1.600 tỉ đồng, nợ lãi 160 tỉ đồng Theo xác định Cơ quan điều tra, tổng số tiền Khuân đồng bọn lừa đảo chiếm đoạt ngân hàng gần 472 tỷ đồng; Lâm Minh Mẫn với vai trò đồng bọn, giúp sức lừa đảo số tiền vừa kể; Trịnh Thị Hồng Phượng giúp sức Khuân lừa đảo chiếm đoạt gần 260 tỷ đồng Hậu thiệt hại hành vi Khuân đồng bọn gây (sau lấy tổng dư nợ trừ phần tài sản chấp 639 tỷ đồng) 1.072 tỷ đồng Cơ quan điều tra xác định, Lâm Ngọc Khuân người chịu trách nhiệm hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời chịu trách nhiệm thiệt hại gây cho ngân hàng, sau phạm tội bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT Bộ Công an định truy nã toàn quốc đề nghị truy nã quốc tế 2 Khởi tố vụ án chiếm đoạt tài sản trị giá 966,88 tỉ đồng nhà máy dệt Đông Phương, 11 bị cáo bị khởi tố, bị cáo cán tín dụng chi nhánh Agribank số thành phố Hồ Chí Minh: Ngày 20/8, biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra (C48), Bộ Cơng an hồn tất kết luận điều tra vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn thi hành công vụ; vi phạm quy định cho vay hoạt động tổ chức tín dụng; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy Công ty Dệt kim Đông Phương Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nơng thơn, Chi nhánh TP Hồ Chí Minh (Agribank CN6), đồng thời đề nghị truy tố 11 bị can tội danh Trong có Lê Thành Công, nguyên Tổng Giám đốc Công ty Dệt kim Đông Phương, tội “lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn thi hành công vụ”; bị can khác giám đốc doanh nghiệp tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn thi hành công vụ”, tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Trong số có Dương Thanh Cường, Tổng Giám đốc Cơng ty cổ phần Tập đồn Bình Phát Cịn bị can ngun cán Agribank CN6 bị đề nghị truy tố tội “vi phạm quy định cho vay hoạt động tổ chức tín dụng” Trong số có Hồ Đăng Trung, nguyên Giám đốc Agribank CN6 Hồ Văn Long, ngun Trưởng phịng Tín dụng Agribank CN6 IV) Thứ tư, tình trạng sở hữu chéo Tình trạng sở hữu chéo Ngân hàng với doanh nghiệp (DN) Việt Nam cho thấy hệ thống Ngân hàng hình thành mạng lưới sở hữu chéo cho vay theo quan hệ phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho dự án đầu tư chưa minh bạch.Có nhiều cơng ty lớn, đặc biệt tập đồn kinh tế Nhà nước tập đoàn cổ phần, dù khơng thuộc lĩnh vực tài đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược Ngân hàng thương mại Chưa kể, Ngân hàng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông Ngân hàng thương mại công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào Ngân hàng khác có tiềm Hiện khơng tập đồn, tổng cơng ty Nhà nước tư nhân đầu tư, sở hữu chéo họ có tay nhiều Ngân hàng Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến nay, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước tư nhân sở hữu 5% Ngân hàng Thương mại cổ phần doanh nghiệp lại sở hữu công ty đầu tư tài Tình trạng sở hữu chéo dẫn tới nhiều hệ lụy, số làm tăng tỷ lệ xấu ngân hàng Bởi lẽ, việc sở hữu chéo dẫn đến tình trạng Ngân hàng tạo điều kiện doanh nghiệp sở hữu ngân hàng dễ dàng vay vốn từ ngân hàng kia, dễ dàng cho công ty doanh nghiệp có vốn sở hữu ngân hàng vay vốn, chí tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác biến ngân hàng thành "sân sau” mình, họ buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho dự án khơng an tồn cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu dẫn đến nợ xấu Do đó, tình trạng sở hữu chéo xem nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao thời gian gần V) Thứ năm, quy định pháp luật nhằm hạn chế, giải tình trạng nợ xấu có chưa minh bạch, chưa hợp lý Pháp luật hành có khung pháp lý việc hạn chế giải nợ xấu TCTD như: quy định phân loại nợ; quy định trích lập dự phòng rủi ro; quy định xử lý tài sản đảm bảo nợ; quy định quyền khởi kiện yêu cầu tổ chức cá nhân hoàn trả vốn vay; quy định hoạt động mua bán nợ…Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quy định vào thực tế trở nên không phù hợp, không phát huy hiệu việc giải nợ xấu, dẫn đến tình trạng nợ xấu khơng cải thiện mà cịn có xu hướng tăng lên Có thể kể đến hạn chế quy định pháp luật như: (i) Quy định phân loại nợ xấu chưa rõ ràng, khiến cho việc giải nợ xấu khó khăn (ii) Quy định xử lý nợ thông qua khởi kiện tịa án khoản nợ khơng có tài sản đảm bảo nợ phức tạp, gây khó khăn, nhiều thời gian TCTD trình thu hồi nợ (iii) Khung pháp lý việc mua bán nợ có chưa hồn thiện, chưa phát huy hiệu hoạt động giải nợ xấu
Trang 1Nguyên nhân của thực trạng nợ xấu ở Việt Nam
I) Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm.
Kể từ cuối năm 2008 đến nay, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng nợ xấu của các TCTD Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ
sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả
nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp
Trên thực tế, việc các doanh nghiệp gặp khó khăn khi kinh tế biến động theo chiều hướng xấu, dư âm của khủng hoảng vẫn còn là điều đã được dự báo trước Ngoài một số doanh nghiệp lớn vẫn duy trì được vị thế của mình và vẫn kinh doanh hiệu quả, cùng với các doanh nghiệp vẫn tìm ra đúng hướng đi trong hoàn cảnh khó khăn, nhiều doanh nghiệp khác do năng lực kém và không thích ứng được với hoàn cảnh đã lâm vào tình trạng không hoàn trả được nợ, điển hình như:
Vụ việc ở công ty Trường Ngân (tỉnh Bình Dương), nợ 600 tỷ đồng với 7 ngân hàng do kinh doanh thua lỗ
Công ty thủy sản Bình An- Bianfishco (tỉnh Sóc Trăng) nợ 1800 tỉ đồng vào cuối năm 2012, chủ yếu là nợ tiền nguyên liệu đầu vào mua từ nông dân do tình hình kinh doanh sản xuất thua lỗ, không tìm được đầu ra
Đặc biệt, khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng rất lớn tới lĩnh vực bất động sản, khiến khu vực này trở thành điểm nóng tập trung nợ xấu, với tổng giá trị chiếm tới 8% tổng nợ xấu, ước đạt 262.000 tỉ đồng Điển hình có thể kể tới công ty TNHH Địa ốc Diệp Bạch Dương, với dư nợ tại chi nhánh Agribank Thành phố Hồ Chí Minh tính đến giữa năm ngoái là 3700 tỉ đồng (trong đó nợ gốc là 2967 tỉ đồng)
II) Thứ hai, do năng lực quản trị rủi ro tại mỗi ngân hàng còn kém
Hiện nay, việc xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng của TCTD mang tính chất chủ quan Các ngân hàng chưa xây dựng được thước đo lượng hóa rủi ro nên chưa tính toán chính xác được yếu
tố này dẫn đến quyết định cho vay, phân loại nợ chưa chính xác Những khoản rủi ro to được làm
bé đi, khoản vay bé thì làm cho nó to lên Bên cạnh đó, về phía các doanh nghiệp – đối tượng giải ngân vốn quan trọng của các TCTD, theo nghiên cứu hiện có đến 90% là doanh nghiệp vừa
và nhỏ, không ít doanh nghiệp có báo cáo tài chính không chính xác, trong khi phần lớn các báo cáo tài chính này lại không được kiểm toán Ngay cả đối với những doanh nghiệp lớn được kiểm toán thì sự chậm chễ trong việc công bố báo cáo cũng như chất lượng kiểm toán cũng gây không
ít khó khăn cho ngân hàng
Trang 2III) Thứ ba, do đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng và khách hàng kém dẫn đến tình trạng thông đồng rút ruột ngân hàng
Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc thù, cần dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm thì đạo đức phải được đặt lên hàng đầu và ở khía cạnh nào đó còn mang tính bắt buộc Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ ngân hàng đã thông đồng rút ruột với khách hàng, cho vay khống dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Chính vì vậy đã có chi nhánh phải xử lý hàng chục nhân viên do cấu kết với nhau rút ruột ngân hàng Tuy nhiên hiện chưa có tính toán, trong tỷ lệ nợ xấu có bao nhiêu xuất phát từ đạo đức ngân hàng Ngoài ra, nợ xấu còn nằm ở dạng “chuyển vốn cho vay thành vốn góp.” Khoản nợ này không chỉ “rất xấu” mà còn nguy hiểm ở chỗ đôi khi chỉ tồn tại trên sổ sách của con nợ và chủ nợ
Các sự kiện điển hình có thể kể tới:
1 Khởi tố 25 cán bộ ngân hàng có liên quan tới vụ vỡ nợ của công ty thủy sản Phương Nam: Theo đó, các bị can bị đề nghị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm: Lâm Minh Mẫn (1980), Kế toán trưởng Cty Cổ phần chế biến thực phẩm Phương Nam và Trịnh Thị Hồng Phượng (1980), Phó Giám đốc Cty Cổ phần chế biến thực phẩm Phương Nam
25 bị can cùng bị đề nghị truy tố về tội vi phạm các quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng đều là các các bộ chủ chốt của các ngân hàng Ở Ngân hàng Phát triển chi nhánh Sóc Trăng gồm Nguyễn Thế Thắng (1959), Giám đốc; Nguyễn Văn Xem (1960)- PGĐ chi nhánh; Trần Văn Nhã (1975)-Trưởng phòng Tín dụng; Vũ Văn Quang (1978)-Trưởng phòng kiểm tra; Từ Quỳnh Ngân (1984) Cán bộ tín dụng
Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – SGD Hậu Giang gồm: Đỗ Hùng Sở (1967) Giám đốc; Vũ Ngọc Thuận (1978) Phó Giám đốc Nguyễn Hoài Bảo (1976)-Trưởng phòng khách hàng; Nguyễn Thanh Hải (11979)-Trưởng phòng quản lý tín dụng; Nguyễn Thanh Vinh (1984) chuyên viên định giá tài sản đảm bảo; Nguyễn Việt Tâm (1987) chuyên viên Thẩm định phòng thẩm định phía Nam; Phạm Vĩnh Phúc (1985) Chuyên viên thẩm định phòng khách hàng; Tống Hùng Vĩ (1986) chuyên viên tín dụng
Nguyễn Văn Sơn (1976) Giám đốc Ngân hàng TMCP An Bình- Chi nhánh Bạc Liêu; Võ Văn Trương (1983) trưởng phòng quan hệ khách hàng; Kim Hoàng Minh Tân (1980)-Nguyên trưởng phòng quản lý tín dụng;
Ở Ngân hàng Sacombank chi nhánh Sóc Trăng gồm: Lưu Quốc Cường (1980) – Phó GĐ;
Võ Lê Việt Thắng (1982) trưởng phòng cá nhân kiêm doanh nghiệp; Trương Văn Hùng (1981) nguyên chuyên viên khách hàng; Nguyễn Thanh Long (1976)- Nguyên GĐ; Lê Hoàng Phong (1980)- Trưởng phòng hỗ trợ kinh doanh; Lê Mạnh Hùng (1973) nguyên kiểm soát tín dụng;
Trang 3Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Sóc Trăng gồm: Nguyễn Thị Bích Dung (1964)- Phó GĐ; Lâm Quốc Tuấn (1981) trưởng phòng; Huỳnh Thị Ngọc Huệ (1979) cán
bộ khách hàng
Theo kết luận điều tra của C48 Bộ công an, Công ty Phương Nam, có địa chỉ tại TP Sóc Trăng do ông Lâm Ngọc Khuân làm giám đốc, có vốn điều lệ 295 tỉ đồng, trong đó ông Khuân
và vợ góp vốn trên 55% Từ tháng 1/2011, ông Khuân được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Tuy nhiên trong hoạt động kinh doanh từ năm 2008 đến 30/9/2013, Công ty Phương Nam đã vay nợ tại các tổ chức tín dụng và dư nợ rất lớn; dư nợ từ năm trước chuyển sang năm sau ngày càng cao và kết quả kinh doanh hằng năm đều lỗ nên mất khả năng thanh toán các khoản vay
Từ năm 2008 - 2010, ông Khuân đã chỉ đạo thuộc cấp thực hiện nhiều hành vi gian đối để vay được tiền của các NH Cụ thể như lập báo cáo tài chính khống, kết quả kinh doanh hằng năm đều có lãi và nộp thuế đầy đủ, lập báo cáo nâng khống hàng tồn kho từ 123 tỉ đồng lên hơn 774 tỉ đồng để thế chấp cho nhiều NH, sử dụng một bộ chứng từ mua tôm nguyên liệu, chi phí sản xuất rồi photocopy thành nhiều bản gửi đến nhiều NH để giải ngân , sau đó sử dụng vốn sai mục đích và chiếm đoạt sử dụng cá nhân
Đến ngày 11/11/2011, ông Khuân cùng vợ ký giấy ủy quyền cho con trai là Lâm Ngọc Khoa (Việt kiều Mỹ) đứng ra làm giám đốc để điều hành công ty và giải quyết nợ nần cho các
NH và cá nhân Ngày 30/11/2011, ông Khuân và vợ đã xuất cảnh sang Mỹ với lý do trị bệnh và trốn ở lại Mỹ đến nay Ngày 11/7/2012, Lâm Ngọc Khoa cũng bỏ Cty qua Mỹ
Cơ quan điều tra Bộ Công an xác định dư nợ tại các NH có quan hệ tín dụng với Công ty Phương Nam đến ngày 31/10/2012 là trên 1.752 tỉ đồng, trong đó nợ gốc gần 1.600 tỉ đồng, nợ lãi trên 160 tỉ đồng
Theo xác định của Cơ quan điều tra, tổng số tiền Khuân cùng đồng bọn đã lừa đảo chiếm đoạt của các ngân hàng gần 472 tỷ đồng; Lâm Minh Mẫn với vai trò đồng bọn, giúp sức lừa đảo
số tiền vừa kể; Trịnh Thị Hồng Phượng giúp sức Khuân lừa đảo chiếm đoạt gần 260 tỷ đồng Hậu quả thiệt hại do hành vi của Khuân và đồng bọn gây ra (sau khi lấy tổng dư nợ trừ đi phần tài sản thế chấp là 639 tỷ đồng) trên 1.072 tỷ đồng
Cơ quan điều tra cũng xác định, Lâm Ngọc Khuân là người chịu trách nhiệm chính về hành
vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời chịu trách nhiệm chính về thiệt hại gây ra cho các ngân hàng, sau khi phạm tội đã bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định truy nã toàn quốc và đề nghị truy nã quốc tế
Trang 42 Khởi tố vụ án chiếm đoạt tài sản trị giá 966,88 tỉ đồng tại nhà máy dệt Đông Phương, 11 bị cáo bị khởi tố, trong đó 5 bị cáo là cán bộ tín dụng chi nhánh Agribank số 6 tại thành phố Hồ Chí Minh:
Ngày 20/8, được biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra (C48), Bộ Công an đã hoàn tất kết luận điều tra vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty Dệt kim Đông Phương và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi nhánh 6 TP Hồ Chí Minh (Agribank CN6), đồng thời đề nghị truy tố 11 bị can về các tội danh trên
Trong đó có Lê Thành Công, nguyên Tổng Giám đốc Công ty Dệt kim Đông Phương, về tội “lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”; 5 bị can khác là giám đốc doanh nghiệp về tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Trong số này có Dương Thanh Cường, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Bình Phát Còn 5 bị can nguyên là cán bộ Agribank CN6 bị đề nghị truy tố về tội “vi phạm quy định
về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” Trong số này có Hồ Đăng Trung, nguyên Giám đốc Agribank CN6 và Hồ Văn Long, nguyên Trưởng phòng Tín dụng Agribank CN6
IV) Thứ tư, do tình trạng sở hữu chéo.
Tình trạng sở hữu chéo giữa Ngân hàng với doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam cho thấy hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh bạch.Có rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các Ngân hàng thương mại Chưa kể, các Ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các Ngân hàng thương mại là các công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào những Ngân hàng khác có tiềm năng Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư,
sở hữu chéo khi họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến nay, gần 40 Doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân sở hữu trên 5% tại các Ngân hàng Thương mại cổ phần và các doanh nghiệp này lại sở hữu các công ty đầu tư tài chính
Tình trạng sở hữu chéo này có thể dẫn tới rất nhiều hệ lụy, một trong số đó là làm tăng tỷ lệ xấu của các ngân hàng Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều kiện
để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia,
Trang 5hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành "sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự
án không an toàn hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu Do đó, tình trạng
sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong thời gian gần đây
V) Thứ năm, quy định pháp luật nhằm hạn chế, giải quyết tình trạng nợ xấu đã có nhưng chưa minh bạch, chưa hợp lý
Pháp luật hiện hành đã có những khung pháp lý cơ bản trong việc hạn chế cũng như giải quyết
nợ xấu của các TCTD như: quy định về phân loại nợ; quy định về trích lập dự phòng rủi ro; quy định về xử lý tài sản đảm bảo nợ; quy định về quyền khởi kiện yêu cầu các tổ chức cá nhân hoàn trả vốn vay; quy định về hoạt động mua bán nợ…Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, các quy định khi đi vào thực tế trở nên không phù hợp, không phát huy được hiệu quả trong việc giải quyết nợ xấu, dẫn đến tình trạng nợ xấu không được cải thiện mà còn có xu hướng tăng lên
Có thể kể đến những hạn chế về quy định pháp luật như:
(i) Quy định phân loại nợ xấu chưa rõ ràng, khiến cho việc giải quyết nợ xấu khó khăn
(ii) Quy định về xử lý nợ thông qua khởi kiện ra tòa án đối với các khoản nợ không có tài sản đảm bảo nợ phức tạp, gây khó khăn, mất nhiều thời gian của các TCTD trong quá trình thu hồi nợ
(iii) Khung pháp lý về việc mua bán nợ đã có những chưa hoàn thiện, chưa phát huy hiệu
quả trong hoạt động giải quyết nợ xấu