1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực hoạch định chính sách công ở việt nam trong giai đoạn hiện nay thông tin chuyên đề số 42022

274 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực hoạch định chính sách công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Trần Văn Thạch, Đỗ Phú Hải, Nguyễn Hoàng Quy, Lê Ánh Tuyết, Nguyễn Hữu Đồng, Đặng Xuân Hoan, Hà Huy Phượng, Nguyễn Thị Minh Hiền, Bạch Tấn Sinh, Nguyễn Vũ Hoàng, Nguyễn Văn Chung, Trần Thị Thanh Thủy, Vũ Công Giao, Thào Xuân Sùng, Lê Văn Hòa, Bùi Huy Khiên, Nguyễn Thị Thu Vân, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Hoàng Hiển, Nguyễn Văn Tạo, Văn Tất Thu
Người hướng dẫn Phạm Minh Sơn PGS, TS, Nguyễn Thị Trường Giang PGS, TS, Nguyễn Thị Hải Yến ThS, Trương Thị Mỹ Linh ThS, Nguyễn Thị Lay Dơn CN
Trường học Học Viện Chính Sách Và Phát Triển, https://www.hcspn.edu.vn
Chuyên ngành Chính sách công và Quản lý nhà nước
Thể loại Thông tin chuyên đề
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BAN CHỈ ĐẠO PGS,TS Phạm Minh Sơn PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang BAN BIÊN TẬP TS Nguyễn Thanh Thảo ThS Lê Thị Phương Hảo ThS Vũ Thị Hồng Luyến ThS Phạm Thị Thúy Hằng ThS Nguyễn Thị

Trang 2

BAN CHỈ ĐẠO

PGS,TS Phạm Minh Sơn

PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang

BAN BIÊN TẬP

TS Nguyễn Thanh Thảo

ThS Lê Thị Phương Hảo

ThS Vũ Thị Hồng Luyến

ThS Phạm Thị Thúy Hằng

ThS Nguyễn Thị Hải Yến

ThS Trương Thị Mỹ Linh

CN Nguyễn Thị Lay Dơn

Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội

Điện thoại: 024 38340041

Ảnh bìa: Nguồn internet

PHẦN I – NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG

 TRẦN VĂN THẠCHĐảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội ở nước ta hiện nay 3

 ĐỖ PHÚ HẢIMối quan hệ giữa chính sách công với chính trị ở nước ta 15

NGUYỄN HOÀNG QUY - LÊ ÁNH TUYẾT Định hướng phát triển chính sách công nghiệp xanh ở Việt Nam 28

 NGUYỄN HỮU ĐỔNGXây dựng chính sách quốc gia kiến tạo phát triển bền vững ở Việt Nam 39

 ĐẶNG XUÂN HOANHoạch định chính sách công trong nền kinh tế thị trường 53

 HÀ HUY PHƯỢNGNhững nguyên nhân thường thấy của khủng hoảng chính sách 67

 NGUYỄN THỊ MINH HIỀNKhai thác truyền thông xã hội trong quy trình hoạch định chính sách ở cơ quan nhà nước Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0 81

Trang 3

Giám sát xã hội ngăn ngừa hành

vi trục lợi trong hoạch định và thực thi chính sách công 190

 TRẦN THỊ THANH THỦYMột số giải pháp cải thiện chất lượng hoạch định chính sách 204

 THÀO XUÂN SÙNGThực hiện tốt phương pháp dân vận Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương, chính sách hợp lòng dân 217

 BÙI HUY KHIÊNPhòng, chống tham nhũng trong hoạch định chính sách công 227

 NGUYỄN THỊ THU VÂNCông chúng thông minh - một phương thức sử dụng công nghệ mạng để thu hút sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách 238

 NGUYỄN TRỌNG BÌNHQuy trình hoạch định chính sách và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực chính sách của đại biểu Quốc hội 247

 VĂN TẤT THUBảo đảm sự tham gia của người dân trong xây dựng chính sách công ở Việt Nam 260

Từ chính sách nghiên cứu

đến chính sách đổi mới tại

 VŨ CÔNG GIAO

Phương pháp tiếp cận dựa trên

quyền con người và khả năng

áp dụng vào hoạt động xây

dựng chính sách, pháp luật ở

Việt Nam hiện nay 124

 LÊ VĂN HÒA

Sự tham gia của các bên liên

quan trong hoạch định chính

PHẦN II – NÂNG CAO NĂNG LỰC

HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG

TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU

HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 NGUYỄN THỊ HÀ

Truyền thông trong chu trình

chính sách công 155

 NGUYỄN HOÀNG HIỂN - BÙI THỊ THÙY NHI

Tư duy chiến lược trong hoạch

định chính sách quốc gia 166

 NGUYỄN VĂN TẠO

Một số giải pháp nâng cao

Trang 4

1

L ỜI GIỚI THIỆU

Hoạch định chính sách công là khâu khởi đầu của chu trình chính sách, được xây dựng thành quy trình, bao gồm trình tự các công đoạn để hình thành, tạo nên từng chính sách công Hoạch định chính sách công khoa học, phù hợp, dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn, phản ánh và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của xã hội là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống, phát huy giá trị và mang lại hiệu quả cao

Sau hơn 35 năm Đổi Mới, công tác hoạch định chính sách công

đã không ngừng được hoàn thiện, nâng cao cả về số lượng và chất lượng Trong quá trình thực hiện vai trò, chức năng quản lý, điều hành

xã hội, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng, hoạch định và ban hành nhiều chính sách công Các chính sách công này cùng hệ thống chính sách, giải pháp toàn diện, đồng bộ khác đã phát huy giá trị, hiệu quả góp phần vào những thành tựu tăng trưởng, phát triển kinh tế và tiến

bộ, công bằng xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hoạch định chính sách công vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế dẫn đến hiệu quả chưa cao

Để góp phần làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chính sách công, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạch định chính sách công, chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn một số bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu uy tín đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, biên soạn ấn phẩm Thông tin chuyên đề số 04/2022 với chủ đề “Nâng cao năng lực hoạch định chính sách

công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

Trang 5

2

Kết cấu thông tin chuyên đề gồm hai phần:

Ph ần I: Những yếu tố tác động đến hoạch định chính sách công

Ph ần II: Nâng cao năng lực hoạch định chính sách công trong

b ối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Trong quá trình biên soạn ấn phẩm, chúng tôi có sử dụng một số tài liệu từ các tạp chí và internet mà chưa có điều kiện xin phép trực tiếp tác giả Ấn phẩm chỉ sử dụng với mục đích làm tài liệu tham khảo nội bộ, không vì mục đích kinh doanh Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tác giả Mặc dù Ban Biên tập đã hết sức cố gắng, song trong quá trình biên tập, không tránh khỏi khiếm khuyết Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc

Trân tr ọng cảm ơn!

BAN BIÊN T ẬP

Trang 6

(TG) - Xuyên su ốt các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều

nh ất quán quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh t ế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao

ch ất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”

ảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý

của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(1)

Đ

Trang 7

nền kinh tế xã hội chủ nghĩa(2)

Như vậy, kinh tế thị trường là một nấc thang tất yếu, mang tính

phổ biến cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển, là thành quả của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của tư bản

Trang 8

5

chủ nghĩa như một số ý kiến ngộ nhận Kinh tế thị trường đã phát triển không duy nhất một mô hình mà đã phát triển theo các mô hình như: (1) Mô hình kinh tế thị trường tự do, phổ biến ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ; (2) Mô hình kinh tế thị trường - xã hội, phổ biến ở một số nước ở Tây - Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Na uy, phần Lan…; (3)

Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Dù phát triển theo mô hình nào thì nền kinh tế thị trường đều gắn với những quy luật mang tính đặc trưng sau đây:

Quy lu ật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải

căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết; trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Giá trị của sản phẩm/dịch vụ đều do thị trường định đoạt Người sản xuất kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp hơn trung bình thì người đó có lợi nhất

Quy lu ật cung - cầu là sự điều chỉnh của thị trường với một mức

giá cân bằng và một lượng giao dịch cân bằng sẽ được xác định

Ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan Cầu xác định cung, những hàng hóa nào được tiêu thụ thì mới được tái sản xuất Cung cũng tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa, hình thức, quy cách và giá cả của nó

Quy lu ật cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể, các tổ chức

kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Thực chất của cạnh

Trang 9

6

tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các các cơ sở sản xuất, kinh doanh yếu kém và giúp phát triển các cơ sở làm ăn có hiệu quả hơn

Những quy luật nói trên của nền kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vừa làm cho xã hội phân hóa thành những tầng/lớp giàu nghèo khác nhau Tầng lớp giàu có nắm giữ lợi thế tiếp cận mọi nhu cầu, lợi ích của xã hội; tầng lớp nghèo khó chịu nhiều thua thiệt trong việc thụ hưởng các nhu cầu cuộc sống

Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam là phát triển nền kinh tế thị trường để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng sức sản xuất nhằm tạo tăng trưởng kinh tế không ngừng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng, được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng

Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới Đây là hệ giá trị có tính bản chất của xã

Trang 10

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG CÁC

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng

và Nhà nước Việt Nam hướng đến là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,

văn minh Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển

của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối Đây không phải là nền kinh tế

thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã

hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ)(4)

Như vậy, đã phát triển kinh tế thị trường thì phải tuân theo sự vận động của các quy luật thị trường Những người tham gia vào quá

Trang 11

8

trình sản xuất, kinh doanh cùng đón nhận những cơ hội lẫn thách thức phải đương đầu; có cơ may thành công lẫn nguy cơ thất bại; giàu lên hay nghèo đi có thể xảy ra Phát triển kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực, phát huy mọi nguồn lực để phát triển nền kinh tế nhanh,

mạnh; vừa làm cho xã hội phân hóa, phân tầng theo các tầng/lớp khác nhau về tài sản, mức sống, điều kiện sống, lối sống, văn hóa… Nếu để cho quá trình này diễn ra tự nhiên thì xã hội ngày càng bị phân hóa, phân cực giàu - nghèo gay gắt; các tầng lớp yếu thế trong xã hội càng gặp khó khăn, cùng quẫn; nguy cơ bất ổn xã hội ngày càng cao

Các đại biểu biểu quyết tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII

Để định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết định Một trong những công cụ cơ

bản nhất, đó là thực thi các chính sách xã hội Với việc thực hiện đồng

bộ, hiệu quả các chính sách xã hội theo phương châm: khuyến khích làm

Trang 12

9

giàu hợp pháp đi đôi với nhiệm vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho người nghèo cùng vươn lên trong cuộc sống bằng việc thực thi hàng loạt các chính sách hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, y tế, lao động, việc làm,vv là cách làm giúp cho các giai tầng xã hội xích lại gần nhau, góp phần giảm thiểu khoảng cách chênh lệch giữa các tầng/lớp người trong xã hội; hướng đến mục tiêu bình đẳng, tiến bộ, phát triển toàn diện…

Ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới toàn diện, Đảng đã rất chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội để hướng đến mục tiêu công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội; đặc biệt, đến Đại hội XIII, lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng đã xác định rõ, chính sách xã hội là phương tiện/công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa, với quan điểm: “Nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng

xã h ội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”(5)

Trong bài viết luận bàn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã luận giải rằng:“Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính

quan tr ọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường

ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh

t ế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến

b ộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong su ốt quá trình phát triển”(6)

Vậy là, trong hoạch định và thực thi các chính sách thì phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm cơ bản của mối quan hệ giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế là sự thống nhất biện chứng của chúng Chính sách xã hội và chính sách kinh tế tuy có mục tiêu riêng - mục

Trang 13

10

tiêu tự thân của nó, song lại có chung mục tiêu là nhằm phát triển xã hội Vì vậy, mọi chính sách xã hội và chính sách kinh tế đều hướng vào mục tiêu trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người Mỗi chính sách kinh

tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội

phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Đây là một yêu

cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra điều kiện, tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội Chính sách xã hội được xây dựng mà không tính đến khả năng của nền kinh tế, hoặc không quan tâm đến lợi ích kinh tế thì sẽ cản trở kinh tế phát triển, triệt tiêu yếu tố kinh tế Nhưng nếu lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu tối thượng thì dẫn đến chỗ khoét sâu những ngăn cách xã hội Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được tất cả các vấn đề

xã hội và dẫn tới tiến bộ xã hội Để đạt đến mục tiêu tiến bộ xã hội thì phải thông qua chính sách xã hội, phải kết hợp chính sách kinh tế với chính sách xã hội

Vì vậy, phải xác lập mối quan hệ hợp lý giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế làm sao để hai mặt đó trở thành tiền đề của

nhau Văn kiện qua các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định: Tăng

trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong t ừng bước và trong suốt quá trình phát triển Không phát triển

kinh tế với bất cứ giá nào, bất chấp hậu quả xã hội ra sao Thông thường, sai lầm về kinh tế có thể khắc phục được sau một thời gian

Trang 14

11

ngắn, có thể sau một vài chu kỳ sản xuất; nhưng những hậu quả về mặt xã hội có thể đánh đổi hàng trăm năm chưa chắc khắc phục được

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (Nguồn: vtv.vn)

Xuyên suốt các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều nhất quán quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”(7)

Như vậy, chủ trương “phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã h ội chủ nghĩa” của Đảng và Nhà nước Việt Nam không phải là một

giải pháp mang tính tình thế, một ý tưởng nhất thời mà là đường lối phát triển đất nước được hoạch định và trù liệu công phu, kỹ lưỡng, được dựa trên cơ sở lý luận vững chắc và phù hợp với tình hình thực

tiễn Là một mô hình phát triển mới lạ nhưng qua tổng kết thực tiễn và

Trang 15

nước chậm phát triển), nhờ thực hiện đường lối: Phát triển kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã ra khỏi nhóm

nước có thu nhập thấp từ năm 2008 Trong 35 năm đổi mới vừa qua, kinh tế tăng trưởng liên tục, trung bình khoảng 7% mỗi năm; tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 3% năm 2020 theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết; người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi đều được cấp bảo hiểm y tế miễn phí Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng

từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020 Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, thuộc nhóm nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới; chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam đạt mức 0,704 (so với các nước có cùng trình độ phát triển thì nước ta thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới), lần đầu tiên vào nhóm các nước phát triển con người cao và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ Theo Báo cáo phát triển

b ền vững 2020, Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được

năm mục tiêu hành động của Liên hiệp quốc (trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu) Đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; các mặt chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được bảo đảm…

Trang 16

13

“Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao

gi ờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (8)

.

Khi đại dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, nhất là biến chủng Delta lây lan với tốc độ nhanh trên nhiều tỉnh/thành của cả nước thì Đảng và Chính phủ đã đưa ra các quyết sách trên tinh thần nhân văn cao cả, đó là hi sinh tăng trưởng kinh tế để cứu người Nếu không

thẩm thấu tinh thần, lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội thì không

có những chủ trương, quyết sách thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân bản vì con người như vậy

Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói trên vừa khẳng định đường lối đúng đắn cùng sự lãnh đạo, quản lý tài tình của Đảng

Trang 17

(2) Bộ Nội vụ: Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch lên chuyên viên cao cấp

kh ối Đảng, Đoàn thể năm 2015 (Chuyên đề 7)

(3) Nguyễn Văn Huyên (2015), Đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng; https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-

nam-theo-tinh-than-dai-hoi-xi-cua-dang-gs-ts-nguyen-864

thieu-van-kien-dang/dac-trung-co-ban-cua-xa-hoi-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-(4) (6) (8) Nguyễn Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về

ch ủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; https://nhandan.com.vn/tin-tuc-su-kien/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-646305/

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H, 2021, t1, tr.147

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2016, tr.134-135

Trang 18

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Tóm t ắt: Mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị là

m ối quan hệ phức tạp giữa những vấn đề chính sách cụ thể trong phát tri ển kinh tế - xã hội về hệ thống chính trị với thể

ch ế chính trị và các tổ chức chính trị Chính sách công tốt sẽ mang l ại kết quả và tác động tích cực đến lợi ích quốc gia và người dân, do đó đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực chính sách công Bài vi ết nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chính sách công v ới chính trị từ thực tiễn Việt Nam

Từ khóa: chính trị; chính sách công; chính trị chính sách công

Abstract: Public policy relations with politics are the complex relationship between specific policy issues in socio-economic development and political systems with political institutions and political organizations The concept of public policy is that the product of the political process is not quite right and that policy is the problem and the product itself Good public policy will bring positive results and benefits to national interests and the interests

of the people, thus posing a requirement for enhancing public policy capacity The paper analyzes the relationship between public policy and politics from the systematization of theoretical issues and analyzes this relationship in Vietnamese realities

Trang 19

16

Keywords: politics; public policy; public policy politics

Ngày nh ận bài: 02/11/2018 Ngày sửa bài: 06/11/2018 Ngày duyệt đăng: 03/12/2018

Đặt vấn đề

Chu trình chính sách công luôn nằm trong môi trường chính trị Theo các nhà khoa học chính trị, “chính sách công là sản phẩm của chính trị” [1], trong đó chứa đựng những tư tưởng và tri thức, sức ép của chính trị, cấu trúc xã hội, đặc điểm văn hóa, dư luận

xã hội, mối quan hệ xã hội

Mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị thực sự là mối quan hệ phức tạp, có thể xem xét những luận điểm khoa học dưới đây: Cốt lõi của chính trị là giành, giữ và phân chia quyền lực; cốt lõi của chính sách công là phân chia lợi ích Vậy, để phân tích mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị có quan hệ với nhau như thế nào, đó chính

là việc phân tích mối quan hệ giữa phân chia quyền lực và lợi ích [3] Đây có lẽ là cách tiếp cận phù hợp nhất trong nghiên cứu chính sách công trong chính trị học Mối quan hệ giữa quyền lực và lợi ích được các nhà nghiên cứu chính sách công phân tích tương đối chặt chẽ Bầu cử, đảng chính trị, nhóm lợi ích, mối quan hệ “tam giác thép” giữa nhà chính

trị trong các cơ quan dân cử, công chức nhà nước trong các cơ quan chức năng, nhóm lợi ích bên trong và bên ngoài được phân tích đầy đủ

Dẫu vậy, trong bối cảnh chính trị nước ta, cần thiết có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị (hệ thể chế chính trị và chính sách công, tổ chức bộ máy và chính sách công, hiến pháp và chính sách công, vị trí và vai trò các tổ chức chính trị và

1

Trang 20

17

chính sách công), chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách công, đặc biệt tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách công, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và chính sách công, kinh tế thị trường - định hướng xã hội chủ nghĩa và chính sách công, vai trò nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chính sách công, sự tham gia

của nhân dân và tổ chức nhân dân (xã hội) trong chính sách công [2]

Có hai quan điểm khác nhau, như trên đã bàn: một là, của nhà chính trị, coi chính sách công là sản phẩm của chính trị; hai là, của nhà khoa học chính sách công coi chính sách công là sản phẩm của chính nó Trong cách tiếp cận thứ nhất, sản phẩm của bầu cử là sự lựa chọn chính sách, tuy nhiên không phải lúc nào cũng như vậy, có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách hậu bầu cử mà nhà chính trị không thể thực hiện lời hứa trước bầu cử, mặc dù có nỗ lực hết sức

Chẳng hạn, chương trình Obamacare của cựu Tổng thống Mỹ Obama

hoặc chương trình an sinh xã hội của Tổng thống Nga Putin Trong cách tiếp cận thứ hai, chính sách công là vấn đề mà nhà nước, người dân và doanh nghiệp phải hướng đến thực hiện, vấn đề khó khăn, trở ngại của

xã hội cần phải giải quyết Trong cách tiếp cận này, trong mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị học cũng phù hợp trong bối cảnh này

Từ hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công đều liên quan đến đảng chính trị, hệ thống chính trị và thể chế chính trị

2 Lý lu ận về mối quan hệ chính sách công với chính trị

Từ khi xuất hiện nhà nước đến nay, các hoạt động hay động thái chính trị đều có liên quan và gắn bó mật thiết với chính sách và ngược lại các chính sách do nhà nước đề ra là phục vụ mục tiêu chính trị,

Trang 21

18

phục vụ đường lối, chủ trương của đảng chính trị Kết quả nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, chính trị là sự đấu tranh, giành và giữ quyền lực, quá trình phân chia quyền lực Khi một đảng chính trị lên nắm quyền dựa trên những đường lối chính trị và các chính sách đã được

hoạch định, những chính sách này sẽ được xây dựng và có hiệu lực trong thời gian đảng chính trị cầm quyền [6] Các chính sách sẽ được xây dựng dựa trên sự hoạch định và đường lối chính trị của đảng cầm quyền đó, nhằm phục vụ lợi ích chính trị của chính đảng đó và lợi ích nhân dân - những người ủng hộ đảng chính trị này Mục tiêu của chính trị là nắm giữ quyền lực dựa trên sự phân phối hoặc giành, giữ quyền lực, chính vì lẽ đó mà các chính sách đặt mục tiêu đem lại lợi ích cho đại bộ phận nhân dân và ổn định xã hội lên hàng đầu

Nếu khoa học chính trị tập trung vào vấn đề hình thành và sử

dụng quyền lực, đó là thể chế chính trị, đảng chính trị, tổ chức nhà nước và phong trào xã hội hoặc làm thế nào giành giữ quyền lực thì khoa học chính sách tập trung vào tính động của chính trị [3] Đó là xác định vấn đề chính sách, khởi sự chính sách, xây dựng chính sách

và thực hiện chính sách, đánh giá chính sách, cụ thể là các vấn đề tập thể được xác định, lựa chọn và giải quyết như thế nào Việc xác định vấn đề chính sách, cấu trúc vấn đề chính sách, các giải pháp chính sách có thể, mức độ nhà chính trị làm việc với tư tưởng cũ hoặc ý tưởng mới ảnh hưởng đến tâm lý lựa chọn của các cử tri

Mối liên hệ được chỉ ra ở đây là từ bản thân nhà chính trị và chính sách đề xuất được hoạch định và có thể được xây dựng và áp dụng trong toàn xã hội Vấn đề chính trị tập trung vào các trở ngại và

Trang 22

19

các quy định thuộc thể chế mà qua đó, trật tự xã hội đạt được và duy trì Vấn đề chính sách tập trung vào dàn xếp khuôn khổ thể chế và nền tảng các mối quan hệ mạng lưới qua đó mà dịch vụ công được cung cấp cho người dân [5]

Chính trị thường coi chính sách là sản phẩm của quá trình chính

trị đạt được [5] Về mặt lý thuyết, người thắng cử sẽ thực hiện các chính sách đã hứa hẹn trong quá trình tranh cử Tuy nhiên, thực tế cho kết quả hoàn toàn ngược lại, đó là có nhiều trường hợp ngược lại, người thắng cử dựa trên đường lối chính sách đạt được chưa chắc chắn đã thực hiện các chính sách đã hứa hẹn Bên thắng cử cần thực hiện các chính sách đã hứa hẹn, song họ cũng bị ràng buộc bởi các chính sách cũ, các chủ thể chính sách, hệ thống hành chính quan liêu, nhóm lợi ích, những ưu tiên khác nhau của công dân khi tham gia bầu

cử nhưng lại liên quan đến các giải pháp chính sách khi thực hiện Điều này cho thấy rõ ràng là chính sách không đơn giản là kết quả hay sản phẩm của quá trình chính trị, mà chính sách còn là nguyên nhân của chính nó Nói cách khác, chính sách chính là nhìn chính trị từ một lăng kính khác - chính trị hành động, trong đó chính sách công là sự kết nối cụ thể của chính trị mà đối tượng được xác định là chính sách Đối tượng của chính sách được xác định là: (i) Những hành động của chính phủ; (ii) Tổng các hành động của chính phủ kể cả các hành động gián tiếp của các cơ quan nhà nước mà có ảnh hưởng đến nhân dân; (iii) Một loạt các hành động có mục đích được theo đuổi bởi nhà nước giải quyết một vấn đề nào đó

Ngược lại, chính sách công phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

Trang 23

20

xã hội, từ đó lại tác động vào chính trị Nghiên cứu chính sách công không chỉ là nghiên cứu vấn đề quyền lực chính trị mà còn phát hiện vấn đề, phải tìm ra giải pháp nhằm giải quyết vấn đề đó [2] Những nhà hoạch định chính sách thường tập trung vào các chính sách cho phép các nhà chính trị quan sát và giải quyết tất cả các nhân tố đa diện

của chính trị hơn là chỉ tập trung vào một nhân tố duy nhất Ví dụ, đảng chính trị, cơ quan lập pháp, chính phủ Chính sách công còn có thể nhìn từ khu vực quyền lực khuôn khổ thể chế mà các bên tham gia chính sách hoạt động để duy trì hoặc tăng thêm quyền lực hoặc nguồn lực, lợi ích cho họ [3]

Về khuôn khổ, thể chế chính sách được hình thành mang tính lịch sử với các quy tắc chính thức, các hoạt động, tương tác, các giá trị

xã hội, văn hóa Chính sách còn chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị

và các chủ thể chính trị như đảng chính trị, nhóm lợi ích tham gia vào quá trình chính sách Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong thời gian qua chú ý đến các chủ thể tham gia chính sách với tập hợp các mối quan

hệ mạng lưới mà các mạng lưới này chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của thể chế chính trị giúp nhận rõ hơn về quyền lực, lợi ích, nhu cầu người dân và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn chính trị - chính sách [2]

Hệ thống chính trị chi phối một cách tự nhiên quá trình chính sách công từ khâu đầu đến khâu cuối Nền tảng văn hóa chính trị của các nhà hoạch định chính sách, phân tích chính sách tác động đến suy nghĩ và xử lý các quyết định chính sách công Nếu văn hóa chính trị xuất phát từ Hiến pháp và các quyền con người, giá trị nhân văn của dân tộc thì chính sách công mang lại lợi ích to lớn cho xã hội, cộng

Trang 24

21

đồng, người dân Ngược lại văn hóa chính trị xuất phát từ những tư tưởng cực đoan, nhóm lợi ích và lợi ích cục bộ thì chính sách công mang lại tác động tiêu cực cho xã hội, cộng đồng và người dân [2]

Hiến pháp buộc mọi chính sách phải tuân thủ các quy định cơ bản

về lợi ích quốc gia, quyền con người, quyền công dân và những giới

hạn đối với chính quyền Nói cách khác, quyền lực nhà nước được Hiến pháp cho phép, ràng buộc những giải pháp công cụ chính sách không vượt quá phạm vi quyền hạn hiến định Do đó có ý kiến cho rằng: “Chính sách công chính là diễn giải việc thực hiện hiến pháp” [3]

Thể chế nhà nước ở một quốc gia có mối quan hệ mật thiết với quá trình chính sách công Bản chất đó là guồng máy tổ chức nhà nước ảnh hưởng đến quá trình chính sách công Thể chế nhà nước đơn nhất khác với thể chế nhà nước liên bang Mô hình nhà nước khác nhau cũng ảnh hưởng đến quá trình chính sách công Mô hình tổng

thống chế như của Hoa Kỳ và Hàn Quốc khác với mô hình bán tổng thống chế của Pháp, Nga, khác với mô hình đại nghị chế của Anh và một số nước châu Âu, đều có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình chính sách công Trong nhà nước pháp quyền, mô hình tam quyền phân lập được xác định như tổ chức nhà nước Hoa Kỳ với quyền hành pháp, quyền lập pháp, quyền tư pháp Tổng thống là người nắm quyền hành pháp trực tiếp quản lý và điều hành bộ máy công chức chính quyền các cấp, thực hiện chính sách công Nghị viện Hoa Kỳ nắm quyền lập pháp và giám sát, phê chuẩn các chính sách công Tòa án giữ quyền tư pháp, không những có trách nhiệm kiểm tra và phán quyết các hành động, hành vi của công dân, mà còn của Nghị viện và

Trang 25

3 Th ực tiễn chính sách công với chính trị ở nước ta hiện nay

Trong điều kiện nước ta, chu trình chính sách công cho thấy, cả

hệ thống chính trị tham gia hoạch định chính sách công mà hạt nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Nhà nước là chủ thể chính, cơ bản của chính sách công, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -

xã hội Chính sách công chịu ảnh hưởng của văn hóa chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hiến pháp năm 2013 và thể chế chính trị phân chia quyền lực, theo Điều 2 Hiến pháp quy định: (1) Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; (2) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; (3) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Cơ sở hoạch định chính sách công trước hết là đường lối của ĐCSVN trong từng thời kỳ Hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam, đường lối của Đảng ta thể hiện trong nội dung độc lập dân tộc gắn liền

Trang 26

23

với chủ nghĩa xã hội, lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1999 (bổ sung, phát triển năm 2011) Quan điểm của ĐCSVN về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đường lối về phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, chiến lược con người và phát triển văn hóa Việt Nam, chiến lược quốc phòng, an ninh trong thời kỳ đổi mới, chính sách về tôn giáo, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Trong giai đoạn tiếp theo, cơ sở hoạch định chính sách của nước

ta dựa trên đường lối về tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình ổn định; xây dựng nền tảng để

sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Như vậy, mối quan hệ chính trị với chính sách công thể hiện rõ ràng, trong đó mọi chính sách công được hoạch định phải lấy căn cứ

là đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm làm sáng tỏ, hiệu quả thực hiện đường lối chính trị của ĐCSVN

Nói cách khác, sự tham gia này bảo đảm việc thực hiện đường

lối một cách tốt nhất, bởi vì sở hữu chính sách công, thực thi chính sách công là nhà nước và xã hội Hơn nữa, sự tham gia đầy đủ đảm bảo phân chia lợi ích từ chính sách công đạt được công bằng, tránh được các nhóm lợi ích bên trong chính quyền và bên ngoài chính quyền thao túng lợi ích, thu vén chiếm đoạt lợi ích chung hoặc lợi ích

Trang 27

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có sự tham gia của người dân là các chủ thể chính sách bị động

Trong giai đoạn xây dựng chính sách công, Nhà nước với tư cách là chủ thể chủ động, căn cứ trên cơ sở đường lối đã được hoạch định bởi ĐCSVN cho giai đoạn cách mạng tiếp theo mà xây dựng chính sách công Như vậy, tính chính trị được tiếp nối trong khâu tiếp theo Việc thiết kế, xây dựng và thực hiện chính sách còn bị ràng buộc bởi thể chế chính trị và Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật (ví dụ: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Tiếp theo, việc

thực hiện chính sách như là việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục dựa trên thể chế chính trị, đường lối chính trị một lần nữa rà soát trong hệ thống pháp luật nước ta (chương trình dự

án Luật) Trong khâu này, các giải pháp và công cụ chính sách được lựa chọn phải thỏa mãn các giá trị chính trị nền tảng của hệ thống chính trị nước ta Đối với nước ta, những giá trị cốt lõi từ tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chính trị sâu rộng “dân biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra” cần phải được thỏa mãn trong khâu xây dựng chính sách công hiện nay Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Do đó, việc xây dựng chính sách công nhằm giải quyết các nhu cầu người dân mà bản

Trang 28

25

chất là các vấn đề khó khăn về kinh tế - xã hội đặt ra cần giải quyết

Trong giai đoạn thực hiện chính sách công, hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương và các tổ chức công là chủ đạo trong thực hiện chính sách công Trước hết, chính sách được thực

hiện đảm bảo đưa đường lối chính trị vào cuộc sống Nói cách khác,

sản phẩm chính trị lúc này được hình thành thông qua kết quả chính sách được thực hiện Đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cương lĩnh, quan điểm của ĐCSVN về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là đường lối về phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển con người được đi vào cuộc sống thông qua thực hiện chính sách công Trong quá trình thực hiện chính sách, những giá trị chính trị tiếp tục được thể hiện thông qua việc thực hiện các công cụ chính sách không phải là pháp luật như việc cung

cấp các chương trình và dự án, như chương trình bảo vệ môi trường

hoặc chương trình giảm nghèo với gói phúc lợi xã hội phù hợp cho người dân nghèo đảm bảo công bằng xã hội Bên cạnh đó, ĐCSVN tiếp tục kiểm tra, giám sát và đánh giá lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách Đến nay, những sơ kết, tổng kết chính sách trong từng giai đoạn rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách công sau này

Trong thực tiễn chính sách công, kết quả và tác động chính sách công nhìn chung là tốt, tuy nhiên, bên cạnh đó đã bắt đầu xuất hiện các nhóm lợi ích mà Đảng ta đã xác nhận bản chất là mối quan hệ quyền lực và lợi ích Nghiên cứu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương dẫn chứng khảo sát của Thanh tra Chính phủ trong năm 2012 có 24,7% cán bộ, công chức được hỏi thừa nhận có hiện tượng quan chức

Trang 29

26

nhận tiền hoặc quà biếu để giải quyết công việc có lợi cho người đưa tiễn, quà; 20,3% thừa nhận có chuyện doanh nghiệp mời các quan chức đi du lịch, vui chơi, ăn uống để vụ lợi Một khảo sát khác của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới trong năm 2012 cho thấy,

có tới 50% doanh nghiệp được hỏi đã nói rằng nhóm các doanh nghiệp

có quan hệ với quan chức có ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ hơn trong hoạch định chính sách; 40% doanh nghiệp cùng thừa nhận họ có

sử dụng quan hệ với quan chức để vụ lợi Theo Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: “Nhóm lợi ích” có thể hiểu là nhóm người có chức quyền câu kết với nhau nhằm trục lợi cá nhân, điều này là trái với luật pháp, ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người khác, đi ngược với lợi ích của đất nước, của nhân dân Thái độ của Đảng và Nhà nước với

“nhóm lợi ích” đã được xác định rất rõ ràng là kiên quyết loại bỏ

“nhóm lợi ích” ra khỏi đời sống xã hội Như vậy chính trị với chính sách công là mối quan hệ gắn bó giữa quyền lực và lợi ích, phân tích mối quan hệ này đòi hỏi hiểu rõ chính sách không chỉ đơn giản là sản phẩm của chính trị, mà chính sách công còn là sản phẩm của chính nó

và bị chi phối bởi chính trị

Trang 30

27

và tác động chính sách công mang lại lợi ích quốc gia và lợi ích cho người dân thì đổi mới chính trị theo định hướng nâng cao năng lực chính sách là rất quan trọng Trong điều kiện hiện nay của nước ta, tiếp tục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiền đề cho quá trình chính sách công hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

——————————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Daugbjerg, Carsten and Mash D., (1998), “Explaining policy outcomes: Integrating the policy network approach with macro level and micro level analy sis, comparative policy network” Buckingham; Open University

Press Tr.190-230

2 Đỗ Phú Hải (2012), “Những vấn đề cơ bản của chính sách công”, Học

viện Khoa học xã hội

3 Đỗ Phú Hải (2013), “Thiết kế chính sách công tại các nước đang phát

tri ển” Bài trình bày tại Hội thảo chính sách công lần thứ 1, 6/2013,

Science de PO, Grenoble, Pháp

4 Howlette M., (2007), “Studying public policies” Sage Publications

5 Knode D., (1993), “Network as Political Glue: Explaining Public Policy

- Making, in W.J.Wil son ed ”; Socialogy and Public Agenda London:

Trang 31

28

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH CÔNG NGHI ỆP XANH Ở VIỆT NAM

 TS NGUY ỄN HOÀNG QUY - ThS LÊ ÁNH TUYẾT

H ọc viện Hành chính Quốc gia Trường Chính trị tỉnh Yên Bái

Công nghi ệp xanh đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và khắc phục hậu

qu ả của ô nhiễm môi trường Thời gian qua, hoạch định chính sách công nghi ệp xanh ở Việt Nam còn gặp những trở ngại

nh ất định về thể chế, chính sách và nguồn lực đầu tư Bài viết nghiên c ứu những giá trị, lợi ích trực tiếp mà chính sách công nghi ệp xanh mang đến cho các quốc gia phát triển, qua đó,

Vi ệt Nam có thể tham khảo trong hoạch định và thực thi chính sách công nghi ệp xanh, bảo đảm quá trình thực hiện có thể tối

đa hóa hiệu quả lợi ích từ cấp địa phương đến toàn bộ nền kinh t ế

Green industry has brought about remarkable achievements in economic growth, solved social problems, and handled the consequences of environmental pollution However, there are certain obstacles in terms of institutions, policies, and investment resources in the formulation of the green industry policy in recent years in Vietnam The paper studies the direct values and benefits of the green industry

Trang 32

29

policy in developed countries, which provides implications for Vietnam in formulation and implementation of the green industry policy, in ensuring maximum benefits for localities and the whole economy during the policy implementation

Keywords: Industry policy; green industry policy; green industry; green technology

Ngày nhận: 25/6/2020 Ngày phản biện, đánh giá: 10/7/2020 Ngày duyệt: 16/9/2020

Chính sách công nghi ệp xanh

Nhân loại đã và đang chứng kiến những hậu quả nghiêm

trọng do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra, ảnh hưởng tới sự cân

bằng của hệ sinh thái và điều kiện môi trường sống hiện tại Bên cạnh đó, công tác quản lý và sử dụng các nguồn lực tại các quốc gia cũng đang khiến các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ, gây mất đa dạng sinh học và tác động tiêu cực tới sức khỏe con người và môi trường sống Trong bối cảnh này, trọng tâm phát triển chính sách kinh tế quốc gia chuyển đổi từ tối đa hóa tăng trưởng sang tăng trưởng gắn liền với các mục tiêu xã hội và kinh tế, gìn giữ

bảo vệ các giá trị môi trường bền vững Đặc biệt hơn, chính sách kinh tế xanh đóng vai trò vô cùng quan trọng và tương thích với bối cảnh kinh tế của các quốc gia đang phát triển, nơi các nguồn lực tài nguyên và môi trường có khả năng được gìn giữ và phát triển theo

mô hình kinh tế bền vững ngay từ giai đoạn đầu của nền kinh tế công nghiệp

Chính sách công nghiệp xanh (CSCNX) là công cụ pháp lý đặc

1

Trang 33

30

biệt và phù hợp để đạt được những chuyển đổi căn bản và lâu dài, duy trì điều kiện sống chấp nhận được ở hiện tại và cho các thế hệ tương lai Theo nghĩa rộng, CSCNX gồm tất cả những chính sách điều chỉnh cấu trúc nền kinh tế gắn với phát triển bền vững, bao hàm cả khả năng

tự điều chỉnh và phục hồi của hệ sinh thái và các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên(1) Định nghĩa này bao trùm các quan điểm hẹp hơn trước

đó về CSCNX, thường chỉ tập trung vào các giải pháp thay thế bằng nhiên liệu hàm lượng cacbon thấp hoặc thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường

CSCNX không chỉ đóng vai trò giảm thiểu tác động tiêu cực từ các hình thức ô nhiễm môi trường (không khí, nước, đất và biến đổi khí hậu) mà xa hơn là phát triển đất nước theo hướng bền vững lâu dài trong tương lai

Sự khác biệt của CSCNX so với chính sách công nghiệp truyền

thống ở chỗ, CSCNX ra đời giúp ứng phó những mục tiêu mà chính sách công nghiệp chưa đạt được, xúc tiến quá trình chuyển hóa xanh, đưa nền kinh tế tiến tới phát triển bền vững(2) Nói cách khác, CSCNX

là biện pháp hữu hiệu để khắc phục những hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu - vốn được xem là thất bại lớn nhất trong lịch sử nhân loại gây ra Trong bối cảnh kinh tế đang phát triển, nền công nghiệp xanh

sử dụng một cách hữu hiệu những công cụ pháp lý nhằm thiết lập quyền tiếp cận và hạn ngạch sử dụng nguồn tài nguyên, tối thiểu hóa tác nhân gây ô nhiễm hay chính sách thuế môi trường phản ánh trực tiếp chi phí xã hội từ ô nhiễm vào giá cả, khiến thay đổi hành vi tiêu dùng trong ngắn hạn và hướng tới phát triển ngành công nghiệp sạch

Trang 34

Hoạch định CSCNX là quá trình phức tạp có tính sáng tạo và linh hoạt cao, kết hợp giữa việc xây dựng những trụ cột của nền kinh

tế phát triển xanh và tháo gỡ những vướng mắc, tồn đọng do các ngành công nghiệp ô nhiễm trước đó để lại Tầm nhìn và sứ mệnh của ngành công nghiệp xanh không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà còn vượt lên, trở thành vấn đề với quy mô toàn cầu Sự lựa chọn trong việc sớm ứng dụng công nghiệp xanh tại mỗi một quốc gia đem lại những lợi thế cạnh tranh nhất định trong giao thương hội nhập kinh tế Điển hình là chất lượng cuộc sống, phúc lợi xã hội và nền kinh tế sớm

Trang 35

32

được cải thiện, gia tăng những ưu thế về nguồn lực, nhân công lao động và xác lập vị thế phát triển bền vững

2 L ợi ích phát triển chính sách công nghiệp xanh đối với các

qu ốc gia đang phát triển

Việc theo đuổi CSCNX là thực sự cần thiết và đem lại lợi ích

trực tiếp cho các quốc gia đang phát triển ứng dụng công nghệ xanh trong sản xuất và phát triển kinh tế Cụ thể:

Th ứ nhất, CSCNX giúp nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch

vụ, cải thiện đời sống sức khỏe

Nền kinh tế tại các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên, khả năng tiêu dùng và thu nhập của người dân Suy thoái môi trường đặt ra gánh nặng chi phí cao đối với nhóm quốc gia đại diện 40% dân số toàn cầu ở mức GDP trung bình dưới 8% Chính vì vậy, những cải tiến trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ sẽ dẫn tới tăng trưởng sản xuất, tiết kiệm chi phí khi sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo(4)

Th ứ hai, ngành công nghiệp thân thiện môi trường giúp tăng

trưởng nguồn nhân lực và tránh sự lạm dụng nguồn tài nguyên công Các sản phẩm hàng hóa môi trường - nguồn tài nguyên công thường xuyên gặp vấn đề, như không rõ ràng về chủ sở hữu hay quyền quản

lý sử dụng Khi tài nguyên bị khai thác quá mức sẽ ảnh hưởng trực

tiếp tới lợi ích của những người thu nhập thấp phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này Quản lý đúng cách nguồn tài nguyên chung sẽ làm chậm quá trình suy thoái và tăng trưởng năng suất kinh tế, đồng thời, giá trị

Trang 36

33

và sự khan hiếm của nguồn tài nguyên nên được thể hiện ở các loại phí dịch vụ môi trường - giảm thiểu sự xuống cấp của môi trường sinh thái và cải thiện chất lượng cuộc sống Ngoài ra, việc cải tiến quy trình sản xuất, tiết kiệm nguồn tài nguyên có thể sẽ đáp ứng được hết các chi phí vốn ban đầu trong thời gian ngắn hạn, giảm tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm, tăng lợi nhuận ròng nền kinh tế và tác động tích cực tới môi trường Việc đầu tư vào các nguồn năng lượng hiệu quả có thể sinh mức lợi tức gấp ba lần: tiết kiệm lượng lớn năng lượng, giảm thiểu khí thải và tăng tỷ lệ việc làm(5)

Th ứ ba, công nghiệp xanh giải mã các nguồn lực, đồng thời phát

triển hạ tầng đô thị bền vững Các nước đang phát triển có hệ thống hạ tầng chưa hoàn thiện sẽ giảm thiểu các chi phí môi trường và kinh tế, tận dụng các nguồn nguyên liệu rẻ, sạch và hiệu quả hơn thay vì sử dụng cacbon - gây tốn kém khi phải thay thế các công nghệ lỗi thời và xử lý

hậu quả do chúng để lại Tiếp đó, các nước đang phát triển được hưởng lợi từ việc giảm những ưu đãi trong tiếp cận và sử dụng nguồn tài nguyên Một số ưu đãi từ chính sách công nghiệp thuần túy có thể sẽ làm lợi cho một nhóm người có địa vị trong xã hội, khi họ tận dụng cơ hội để khai thác vượt ngưỡng quy định, bóp méo giá cả thị trường nhiên vật liệu và gây ra những hậu quả xấu tới môi trường Do đó, thông tin trên thị trường phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ, bao gồm cả những thiệt hại từ ưu đãi sai lầm và biện pháp bồi thường cho nhóm người bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là nhóm người có thu nhập trung bình và thấp hơn trung bình

Th ứ tư, các nền kinh tế đang phát triển tạo dựng được lợi thế

Trang 37

34

cạnh tranh mới trong quảng bá và sản xuất hàng hóa thân thiện với môi trường Tuy hầu hết các nước đang phát triển không thể chấp nhận rủi ro cao khi sử dụng quy trình công nghệ tân tiến nhất, nhưng

họ thích ứng tốt với nền tảng công nghiệp hiện có Nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và phong phú là lợi thế và tạo động lực cho sự phát triển ngành công nghiệp xanh tại các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển Hơn nữa, các quốc gia này cũng trực tiếp hưởng lợi từ quảng bá và ứng dụng nền tảng xanh

Ngân hàng Thế giới nhận định, mở cửa nền kinh tế đã gia tốc cho quá trình áp dụng, thích ứng và triển khai công nghệ Các nước có thu nhập thấp nên tập trung vào những đổi mới để thích nghi và đáp ứng với nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm cả các đổi mới chính thức hoặc không chính thức, cung cấp hàng hóa cho nhiều người hơn trong khi sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên sẵn có(6)

Th ứ năm, bất ổn về giá trên thị trường dầu mỏ khiến tăng trưởng

kinh tế tại các quốc gia đang phát triển theo hướng gia tăng lạm phát

và tỷ lệ thất nghiệp Các dự án năng lượng tái tạo sẽ hỗ trợ giảm tốn kém trong tiêu thụ nhiên liệu, gia tăng an toàn năng lượng quốc gia, bảo vệ nền kinh tế trước con sốc giá dầu và giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu Các lĩnh vực công nghệ xanh tuy chỉ yêu

cầu một số lượng nhỏ lao động có kỹ thuật trong ngắn hạn nhưng bảo đảm một lượng lớn nhu cầu việc làm trong dài hạn Việc làm đến từ gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ xanh hay chuyển hình thức đánh thuế sang thuế gây thiệt hại môi trường đã tạo ra sự gia tăng nhu cầu lao động do cải cách tài khóa môi trường khiến giá lao động rẻ

Trang 38

35

hơn so với chi trả cho tiêu thụ năng lượng(7)

Th ứ sáu, việc sớm áp dụng các CSCNX ở các nước đang phát

triển cung cấp lợi thế về năng lực công nghiệp ít cacbon, giảm các chi phí chuyển đổi sau đó và hạn chế chi phí giao thương của các nước

nhập khẩu áp dụng đánh thuế cacbon

Ngoài ra, cơ chế phát triển theo hướng công nghiệp xanh cho phép các nước đang phát triển nhận chuyển giao vốn từ những dự án giảm thiểu khí thải ở lĩnh vực năng lượng và sản xuất hoặc giảm khí thải từ nạn phá và suy thoái rừng, ở mức độ toàn cầu, những đề án này có ý nghĩa ràng buộc với tất cả các quốc gia, khuyến khích các quốc gia đang phát triển tham gia vào các thỏa thuận liên quan đến biến đổi khí hậu, thúc đẩy sự chuyển đổi xanh Các quốc gia đang phát triển tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tài chính và phát triển năng lực cần thiết trong chuyển đổi lĩnh vực năng lượng và sản xuất; kiểm soát, thích ứng

và phục hồi nhanh chóng trước sự thay đổi của biến đổi khí hậu

3 Nh ững định hướng phát triển chính sách công nghiệp xanh ở Việt Nam

Phát triển CSCNX của các nền kinh tế phát triển đã để lại nhiều bài học thực tế đắt giá đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó

có Việt Nam cần phải nghiên cứu học tập

M ột là, thực tiễn trên thế giới đã chứng minh về khả năng áp

dụng và thực thi CSCNX vào thực tiễn hơn bất cứ một chính sách công nghiệp nào trước đó Minh chứng rõ ràng nhất đến từ định hướng chuyển đổi ngành sản xuất công nghiệp sạch theo thị hiếu tiêu dùng

Trang 39

36

của các quốc gia trong khu vực châu Âu Nhu cầu sống trong môi trường xanh luôn thường trực trong chính bản thân xã hội và cộng đồng, đặt mạnh áp lực lên Chính phủ các nước phải không ngừng khắc phục, cải thiện các công cụ pháp lý thích hợp, bảo đảm chất lượng

cuộc sống và loại bỏ những tác nhân gây ô nhiễm môi trường

Hai là, giải quyết các vấn đề gây ô nhiễm phải từ các nhân tố trực tiếp, thay vì gián tiếp ảnh hưởng tác động Điều này thể hiện rõ khi Chính phủ nhiều nước vẫn tiếp tục tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào khai thác mỏ quặng bất chấp những hệ lụy về suy thoái môi trường trong tương lai Áp dụng đánh thuế hay bất kỳ công cụ pháp lý nào được cụ thể hóa dưới hình thức chi phí môi trường sẽ góp phần thể hiện rõ giá trị và sự khan hiếm của các nguồn tài nguyên hiện tại

Ba là, CSCNX cần được hoạch định bởi một cơ chế thi hành pháp lý cao nhất, có phạm vi ảnh hưởng tới tất cả các ngành trong nền kinh tế, có khả năng tự điều chỉnh, phối hợp giữa các cấp từ trung ương tới địa phương Điều này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải trực tiếp kiểm soát các quy định và cơ chế trong chính sách xanh, đồng thời gắn liền phát triển kinh tế bền vững với việc gia tăng cơ hội việc làm, tăng cạnh tranh cho sản phẩm nội địa, đột phá trong công nghệ và cải thiện phúc lợi xã hội

B ốn là, Việt Nam cần thiết lập từng mục tiêu phát triển cụ thể

trong chiến lược CSCNX theo các giai đoạn ngắn, trung và dài hạn của nền kinh tế Ở mỗi giai đoạn, Chính phủ cần xác định rõ mục tiêu, thách thức của mục tiêu và các chỉ số đề ra cùng với báo cáo đánh giá hiệu quả phương hướng và kết quả hoạt động Quá trình đánh giá phải

Trang 40

37

dựa trên cơ sở khách quan về tính hiệu quả và phạm vi thực hiện để rút kinh nghiệm và xây dựng các hướng đi tốt hơn trong tương lai

Năm là, cơ chế cạnh tranh sẽ khuyến khích sự phát triển không

ngừng của nền công nghiệp xanh khi các doanh nghiệp liên tục đổi

mới sáng tạo công nghệ để sản phẩm của họ thích ứng với nhu cầu tiêu dùng xanh Hơn hết, Chính phủ sẽ để “ngỏ” cho các doanh nghiệp một “sân chơi” giống như một trọng tài trung gian không thiên vị với bất kỳ người chơi nào Việt Nam cần thiết lập được một cơ chế như vậy để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm xanh

Sáu là, CSCNX tại Việt Nam phải tương thích và tuân thủ với những quy định về công nghiệp xanh trên thế giới Vì nền kinh tế xanh là mục tiêu toàn cầu của nhiều quốc gia trên thế giới, do đó, để

tạo sự cân bằng trong phát triển, những thỏa thuận môi trường quốc tế

sẽ đưa ra các lệnh trừng phạt thương mại đối với nền kinh tế không tuân thủ các chính sách kinh tế xanh Để phát triển kinh tế bền vững

và hưởng lợi từ quá trình này, Việt Nam cần cân nhắc kỹ các yêu cầu trong CSCNX toàn cầu để nhanh chóng thích ứng và nắm bắt cơ hội

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam cần hoàn thiện một thể chế pháp lý toàn diện bao gồm những quy định và xử phạt chặt chẽ trong hoạch định CSCNX Ngoài ra, sự phối hợp và liên kết giữa các ban ngành từ trung ương đến địa phương cũng cần được thiết lập một cách chặt chẽ hơn Cần đẩy mạnh hơn việc quảng bá, tuyên truyền về lợi ích của tăng trưởng xanh với nền kinh tế và môi trường, gắn kết các thành phần xã hội từ cấp độ cá nhân tham gia vào công cuộc đổi

Ngày đăng: 13/12/2022, 19:27

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm