BAN CHỈ ĐẠO PGS,TS Phạm Minh Sơn PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang BAN BIÊN TẬP TS Nguyễn Thanh Thảo ThS Lê Thị Phương Hảo ThS Vũ Thị Hồng Luyến ThS Phạm Thị Thúy Hằng ThS Nguyễn Thị
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO
PGS,TS Phạm Minh Sơn
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
BAN BIÊN TẬP
TS Nguyễn Thanh Thảo
ThS Lê Thị Phương Hảo
ThS Vũ Thị Hồng Luyến
ThS Phạm Thị Thúy Hằng
ThS Nguyễn Thị Hải Yến
ThS Trương Thị Mỹ Linh
CN Nguyễn Thị Lay Dơn
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 024 38340041
Ảnh bìa: Nguồn internet
PHẦN I – NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG
TRẦN VĂN THẠCHĐảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội ở nước ta hiện nay 3
ĐỖ PHÚ HẢIMối quan hệ giữa chính sách công với chính trị ở nước ta 15
NGUYỄN HOÀNG QUY - LÊ ÁNH TUYẾT Định hướng phát triển chính sách công nghiệp xanh ở Việt Nam 28
NGUYỄN HỮU ĐỔNGXây dựng chính sách quốc gia kiến tạo phát triển bền vững ở Việt Nam 39
ĐẶNG XUÂN HOANHoạch định chính sách công trong nền kinh tế thị trường 53
HÀ HUY PHƯỢNGNhững nguyên nhân thường thấy của khủng hoảng chính sách 67
NGUYỄN THỊ MINH HIỀNKhai thác truyền thông xã hội trong quy trình hoạch định chính sách ở cơ quan nhà nước Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0 81
Trang 3Giám sát xã hội ngăn ngừa hành
vi trục lợi trong hoạch định và thực thi chính sách công 190
TRẦN THỊ THANH THỦYMột số giải pháp cải thiện chất lượng hoạch định chính sách 204
THÀO XUÂN SÙNGThực hiện tốt phương pháp dân vận Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương, chính sách hợp lòng dân 217
BÙI HUY KHIÊNPhòng, chống tham nhũng trong hoạch định chính sách công 227
NGUYỄN THỊ THU VÂNCông chúng thông minh - một phương thức sử dụng công nghệ mạng để thu hút sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách 238
NGUYỄN TRỌNG BÌNHQuy trình hoạch định chính sách và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực chính sách của đại biểu Quốc hội 247
VĂN TẤT THUBảo đảm sự tham gia của người dân trong xây dựng chính sách công ở Việt Nam 260
Từ chính sách nghiên cứu
đến chính sách đổi mới tại
VŨ CÔNG GIAO
Phương pháp tiếp cận dựa trên
quyền con người và khả năng
áp dụng vào hoạt động xây
dựng chính sách, pháp luật ở
Việt Nam hiện nay 124
LÊ VĂN HÒA
Sự tham gia của các bên liên
quan trong hoạch định chính
PHẦN II – NÂNG CAO NĂNG LỰC
HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
NGUYỄN THỊ HÀ
Truyền thông trong chu trình
chính sách công 155
NGUYỄN HOÀNG HIỂN - BÙI THỊ THÙY NHI
Tư duy chiến lược trong hoạch
định chính sách quốc gia 166
NGUYỄN VĂN TẠO
Một số giải pháp nâng cao
Trang 4
1
L ỜI GIỚI THIỆU
Hoạch định chính sách công là khâu khởi đầu của chu trình chính sách, được xây dựng thành quy trình, bao gồm trình tự các công đoạn để hình thành, tạo nên từng chính sách công Hoạch định chính sách công khoa học, phù hợp, dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn, phản ánh và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của xã hội là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống, phát huy giá trị và mang lại hiệu quả cao
Sau hơn 35 năm Đổi Mới, công tác hoạch định chính sách công
đã không ngừng được hoàn thiện, nâng cao cả về số lượng và chất lượng Trong quá trình thực hiện vai trò, chức năng quản lý, điều hành
xã hội, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng, hoạch định và ban hành nhiều chính sách công Các chính sách công này cùng hệ thống chính sách, giải pháp toàn diện, đồng bộ khác đã phát huy giá trị, hiệu quả góp phần vào những thành tựu tăng trưởng, phát triển kinh tế và tiến
bộ, công bằng xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hoạch định chính sách công vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế dẫn đến hiệu quả chưa cao
Để góp phần làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chính sách công, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạch định chính sách công, chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn một số bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu uy tín đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, biên soạn ấn phẩm Thông tin chuyên đề số 04/2022 với chủ đề “Nâng cao năng lực hoạch định chính sách
công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
Trang 5
2
Kết cấu thông tin chuyên đề gồm hai phần:
Ph ần I: Những yếu tố tác động đến hoạch định chính sách công
Ph ần II: Nâng cao năng lực hoạch định chính sách công trong
b ối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Trong quá trình biên soạn ấn phẩm, chúng tôi có sử dụng một số tài liệu từ các tạp chí và internet mà chưa có điều kiện xin phép trực tiếp tác giả Ấn phẩm chỉ sử dụng với mục đích làm tài liệu tham khảo nội bộ, không vì mục đích kinh doanh Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tác giả Mặc dù Ban Biên tập đã hết sức cố gắng, song trong quá trình biên tập, không tránh khỏi khiếm khuyết Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
Trân tr ọng cảm ơn!
BAN BIÊN T ẬP
Trang 6(TG) - Xuyên su ốt các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều
nh ất quán quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh t ế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao
ch ất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”
ảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(1)
Đ
Trang 7nền kinh tế xã hội chủ nghĩa(2)
Như vậy, kinh tế thị trường là một nấc thang tất yếu, mang tính
phổ biến cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển, là thành quả của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của tư bản
Trang 8
5
chủ nghĩa như một số ý kiến ngộ nhận Kinh tế thị trường đã phát triển không duy nhất một mô hình mà đã phát triển theo các mô hình như: (1) Mô hình kinh tế thị trường tự do, phổ biến ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ; (2) Mô hình kinh tế thị trường - xã hội, phổ biến ở một số nước ở Tây - Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Na uy, phần Lan…; (3)
Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Dù phát triển theo mô hình nào thì nền kinh tế thị trường đều gắn với những quy luật mang tính đặc trưng sau đây:
Quy lu ật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải
căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết; trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Giá trị của sản phẩm/dịch vụ đều do thị trường định đoạt Người sản xuất kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp hơn trung bình thì người đó có lợi nhất
Quy lu ật cung - cầu là sự điều chỉnh của thị trường với một mức
giá cân bằng và một lượng giao dịch cân bằng sẽ được xác định
Ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan Cầu xác định cung, những hàng hóa nào được tiêu thụ thì mới được tái sản xuất Cung cũng tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa, hình thức, quy cách và giá cả của nó
Quy lu ật cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể, các tổ chức
kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Thực chất của cạnh
Trang 9
6
tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các các cơ sở sản xuất, kinh doanh yếu kém và giúp phát triển các cơ sở làm ăn có hiệu quả hơn
Những quy luật nói trên của nền kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vừa làm cho xã hội phân hóa thành những tầng/lớp giàu nghèo khác nhau Tầng lớp giàu có nắm giữ lợi thế tiếp cận mọi nhu cầu, lợi ích của xã hội; tầng lớp nghèo khó chịu nhiều thua thiệt trong việc thụ hưởng các nhu cầu cuộc sống
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam là phát triển nền kinh tế thị trường để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng sức sản xuất nhằm tạo tăng trưởng kinh tế không ngừng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng, được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;
có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới Đây là hệ giá trị có tính bản chất của xã
Trang 10ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG CÁC
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng
và Nhà nước Việt Nam hướng đến là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển
của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối Đây không phải là nền kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ)(4)
Như vậy, đã phát triển kinh tế thị trường thì phải tuân theo sự vận động của các quy luật thị trường Những người tham gia vào quá
Trang 11
8
trình sản xuất, kinh doanh cùng đón nhận những cơ hội lẫn thách thức phải đương đầu; có cơ may thành công lẫn nguy cơ thất bại; giàu lên hay nghèo đi có thể xảy ra Phát triển kinh tế thị trường vừa tạo ra động lực, phát huy mọi nguồn lực để phát triển nền kinh tế nhanh,
mạnh; vừa làm cho xã hội phân hóa, phân tầng theo các tầng/lớp khác nhau về tài sản, mức sống, điều kiện sống, lối sống, văn hóa… Nếu để cho quá trình này diễn ra tự nhiên thì xã hội ngày càng bị phân hóa, phân cực giàu - nghèo gay gắt; các tầng lớp yếu thế trong xã hội càng gặp khó khăn, cùng quẫn; nguy cơ bất ổn xã hội ngày càng cao
Các đại biểu biểu quyết tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII
Để định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết định Một trong những công cụ cơ
bản nhất, đó là thực thi các chính sách xã hội Với việc thực hiện đồng
bộ, hiệu quả các chính sách xã hội theo phương châm: khuyến khích làm
Trang 12
9
giàu hợp pháp đi đôi với nhiệm vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho người nghèo cùng vươn lên trong cuộc sống bằng việc thực thi hàng loạt các chính sách hỗ trợ về giáo dục - đào tạo, y tế, lao động, việc làm,vv là cách làm giúp cho các giai tầng xã hội xích lại gần nhau, góp phần giảm thiểu khoảng cách chênh lệch giữa các tầng/lớp người trong xã hội; hướng đến mục tiêu bình đẳng, tiến bộ, phát triển toàn diện…
Ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới toàn diện, Đảng đã rất chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội để hướng đến mục tiêu công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội; đặc biệt, đến Đại hội XIII, lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng đã xác định rõ, chính sách xã hội là phương tiện/công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa, với quan điểm: “Nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng
xã h ội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”(5)
Trong bài viết luận bàn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã luận giải rằng:“Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính
quan tr ọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường
ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh
t ế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến
b ộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong su ốt quá trình phát triển”(6)
Vậy là, trong hoạch định và thực thi các chính sách thì phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm cơ bản của mối quan hệ giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế là sự thống nhất biện chứng của chúng Chính sách xã hội và chính sách kinh tế tuy có mục tiêu riêng - mục
Trang 13
10
tiêu tự thân của nó, song lại có chung mục tiêu là nhằm phát triển xã hội Vì vậy, mọi chính sách xã hội và chính sách kinh tế đều hướng vào mục tiêu trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người Mỗi chính sách kinh
tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội
phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Đây là một yêu
cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra điều kiện, tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội Chính sách xã hội được xây dựng mà không tính đến khả năng của nền kinh tế, hoặc không quan tâm đến lợi ích kinh tế thì sẽ cản trở kinh tế phát triển, triệt tiêu yếu tố kinh tế Nhưng nếu lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu tối thượng thì dẫn đến chỗ khoét sâu những ngăn cách xã hội Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được tất cả các vấn đề
xã hội và dẫn tới tiến bộ xã hội Để đạt đến mục tiêu tiến bộ xã hội thì phải thông qua chính sách xã hội, phải kết hợp chính sách kinh tế với chính sách xã hội
Vì vậy, phải xác lập mối quan hệ hợp lý giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế làm sao để hai mặt đó trở thành tiền đề của
nhau Văn kiện qua các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định: Tăng
trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong t ừng bước và trong suốt quá trình phát triển Không phát triển
kinh tế với bất cứ giá nào, bất chấp hậu quả xã hội ra sao Thông thường, sai lầm về kinh tế có thể khắc phục được sau một thời gian
Trang 14
11
ngắn, có thể sau một vài chu kỳ sản xuất; nhưng những hậu quả về mặt xã hội có thể đánh đổi hàng trăm năm chưa chắc khắc phục được
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (Nguồn: vtv.vn)
Xuyên suốt các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều nhất quán quan điểm chỉ đạo: “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”(7)
Như vậy, chủ trương “phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã h ội chủ nghĩa” của Đảng và Nhà nước Việt Nam không phải là một
giải pháp mang tính tình thế, một ý tưởng nhất thời mà là đường lối phát triển đất nước được hoạch định và trù liệu công phu, kỹ lưỡng, được dựa trên cơ sở lý luận vững chắc và phù hợp với tình hình thực
tiễn Là một mô hình phát triển mới lạ nhưng qua tổng kết thực tiễn và
Trang 15nước chậm phát triển), nhờ thực hiện đường lối: Phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã ra khỏi nhóm
nước có thu nhập thấp từ năm 2008 Trong 35 năm đổi mới vừa qua, kinh tế tăng trưởng liên tục, trung bình khoảng 7% mỗi năm; tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 3% năm 2020 theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết; người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi đều được cấp bảo hiểm y tế miễn phí Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng
từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020 Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, thuộc nhóm nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới; chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam đạt mức 0,704 (so với các nước có cùng trình độ phát triển thì nước ta thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới), lần đầu tiên vào nhóm các nước phát triển con người cao và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ Theo Báo cáo phát triển
b ền vững 2020, Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được
năm mục tiêu hành động của Liên hiệp quốc (trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu) Đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; các mặt chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được bảo đảm…
Trang 16
13
“Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao
gi ờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (8)
.
Khi đại dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, nhất là biến chủng Delta lây lan với tốc độ nhanh trên nhiều tỉnh/thành của cả nước thì Đảng và Chính phủ đã đưa ra các quyết sách trên tinh thần nhân văn cao cả, đó là hi sinh tăng trưởng kinh tế để cứu người Nếu không
thẩm thấu tinh thần, lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội thì không
có những chủ trương, quyết sách thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân bản vì con người như vậy
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói trên vừa khẳng định đường lối đúng đắn cùng sự lãnh đạo, quản lý tài tình của Đảng
Trang 17(2) Bộ Nội vụ: Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch lên chuyên viên cao cấp
kh ối Đảng, Đoàn thể năm 2015 (Chuyên đề 7)
(3) Nguyễn Văn Huyên (2015), Đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng; https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-
nam-theo-tinh-than-dai-hoi-xi-cua-dang-gs-ts-nguyen-864
thieu-van-kien-dang/dac-trung-co-ban-cua-xa-hoi-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-(4) (6) (8) Nguyễn Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
ch ủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; https://nhandan.com.vn/tin-tuc-su-kien/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-646305/
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H, 2021, t1, tr.147
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2016, tr.134-135
Trang 18
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Tóm t ắt: Mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị là
m ối quan hệ phức tạp giữa những vấn đề chính sách cụ thể trong phát tri ển kinh tế - xã hội về hệ thống chính trị với thể
ch ế chính trị và các tổ chức chính trị Chính sách công tốt sẽ mang l ại kết quả và tác động tích cực đến lợi ích quốc gia và người dân, do đó đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực chính sách công Bài vi ết nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chính sách công v ới chính trị từ thực tiễn Việt Nam
Từ khóa: chính trị; chính sách công; chính trị chính sách công
Abstract: Public policy relations with politics are the complex relationship between specific policy issues in socio-economic development and political systems with political institutions and political organizations The concept of public policy is that the product of the political process is not quite right and that policy is the problem and the product itself Good public policy will bring positive results and benefits to national interests and the interests
of the people, thus posing a requirement for enhancing public policy capacity The paper analyzes the relationship between public policy and politics from the systematization of theoretical issues and analyzes this relationship in Vietnamese realities
Trang 19
16
Keywords: politics; public policy; public policy politics
Ngày nh ận bài: 02/11/2018 Ngày sửa bài: 06/11/2018 Ngày duyệt đăng: 03/12/2018
Đặt vấn đề
Chu trình chính sách công luôn nằm trong môi trường chính trị Theo các nhà khoa học chính trị, “chính sách công là sản phẩm của chính trị” [1], trong đó chứa đựng những tư tưởng và tri thức, sức ép của chính trị, cấu trúc xã hội, đặc điểm văn hóa, dư luận
xã hội, mối quan hệ xã hội
Mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị thực sự là mối quan hệ phức tạp, có thể xem xét những luận điểm khoa học dưới đây: Cốt lõi của chính trị là giành, giữ và phân chia quyền lực; cốt lõi của chính sách công là phân chia lợi ích Vậy, để phân tích mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị có quan hệ với nhau như thế nào, đó chính
là việc phân tích mối quan hệ giữa phân chia quyền lực và lợi ích [3] Đây có lẽ là cách tiếp cận phù hợp nhất trong nghiên cứu chính sách công trong chính trị học Mối quan hệ giữa quyền lực và lợi ích được các nhà nghiên cứu chính sách công phân tích tương đối chặt chẽ Bầu cử, đảng chính trị, nhóm lợi ích, mối quan hệ “tam giác thép” giữa nhà chính
trị trong các cơ quan dân cử, công chức nhà nước trong các cơ quan chức năng, nhóm lợi ích bên trong và bên ngoài được phân tích đầy đủ
Dẫu vậy, trong bối cảnh chính trị nước ta, cần thiết có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị (hệ thể chế chính trị và chính sách công, tổ chức bộ máy và chính sách công, hiến pháp và chính sách công, vị trí và vai trò các tổ chức chính trị và
1
Trang 20
17
chính sách công), chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách công, đặc biệt tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách công, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và chính sách công, kinh tế thị trường - định hướng xã hội chủ nghĩa và chính sách công, vai trò nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chính sách công, sự tham gia
của nhân dân và tổ chức nhân dân (xã hội) trong chính sách công [2]
Có hai quan điểm khác nhau, như trên đã bàn: một là, của nhà chính trị, coi chính sách công là sản phẩm của chính trị; hai là, của nhà khoa học chính sách công coi chính sách công là sản phẩm của chính nó Trong cách tiếp cận thứ nhất, sản phẩm của bầu cử là sự lựa chọn chính sách, tuy nhiên không phải lúc nào cũng như vậy, có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách hậu bầu cử mà nhà chính trị không thể thực hiện lời hứa trước bầu cử, mặc dù có nỗ lực hết sức
Chẳng hạn, chương trình Obamacare của cựu Tổng thống Mỹ Obama
hoặc chương trình an sinh xã hội của Tổng thống Nga Putin Trong cách tiếp cận thứ hai, chính sách công là vấn đề mà nhà nước, người dân và doanh nghiệp phải hướng đến thực hiện, vấn đề khó khăn, trở ngại của
xã hội cần phải giải quyết Trong cách tiếp cận này, trong mối quan hệ giữa chính sách công với chính trị học cũng phù hợp trong bối cảnh này
Từ hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công đều liên quan đến đảng chính trị, hệ thống chính trị và thể chế chính trị
2 Lý lu ận về mối quan hệ chính sách công với chính trị
Từ khi xuất hiện nhà nước đến nay, các hoạt động hay động thái chính trị đều có liên quan và gắn bó mật thiết với chính sách và ngược lại các chính sách do nhà nước đề ra là phục vụ mục tiêu chính trị,
Trang 21
18
phục vụ đường lối, chủ trương của đảng chính trị Kết quả nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, chính trị là sự đấu tranh, giành và giữ quyền lực, quá trình phân chia quyền lực Khi một đảng chính trị lên nắm quyền dựa trên những đường lối chính trị và các chính sách đã được
hoạch định, những chính sách này sẽ được xây dựng và có hiệu lực trong thời gian đảng chính trị cầm quyền [6] Các chính sách sẽ được xây dựng dựa trên sự hoạch định và đường lối chính trị của đảng cầm quyền đó, nhằm phục vụ lợi ích chính trị của chính đảng đó và lợi ích nhân dân - những người ủng hộ đảng chính trị này Mục tiêu của chính trị là nắm giữ quyền lực dựa trên sự phân phối hoặc giành, giữ quyền lực, chính vì lẽ đó mà các chính sách đặt mục tiêu đem lại lợi ích cho đại bộ phận nhân dân và ổn định xã hội lên hàng đầu
Nếu khoa học chính trị tập trung vào vấn đề hình thành và sử
dụng quyền lực, đó là thể chế chính trị, đảng chính trị, tổ chức nhà nước và phong trào xã hội hoặc làm thế nào giành giữ quyền lực thì khoa học chính sách tập trung vào tính động của chính trị [3] Đó là xác định vấn đề chính sách, khởi sự chính sách, xây dựng chính sách
và thực hiện chính sách, đánh giá chính sách, cụ thể là các vấn đề tập thể được xác định, lựa chọn và giải quyết như thế nào Việc xác định vấn đề chính sách, cấu trúc vấn đề chính sách, các giải pháp chính sách có thể, mức độ nhà chính trị làm việc với tư tưởng cũ hoặc ý tưởng mới ảnh hưởng đến tâm lý lựa chọn của các cử tri
Mối liên hệ được chỉ ra ở đây là từ bản thân nhà chính trị và chính sách đề xuất được hoạch định và có thể được xây dựng và áp dụng trong toàn xã hội Vấn đề chính trị tập trung vào các trở ngại và
Trang 22
19
các quy định thuộc thể chế mà qua đó, trật tự xã hội đạt được và duy trì Vấn đề chính sách tập trung vào dàn xếp khuôn khổ thể chế và nền tảng các mối quan hệ mạng lưới qua đó mà dịch vụ công được cung cấp cho người dân [5]
Chính trị thường coi chính sách là sản phẩm của quá trình chính
trị đạt được [5] Về mặt lý thuyết, người thắng cử sẽ thực hiện các chính sách đã hứa hẹn trong quá trình tranh cử Tuy nhiên, thực tế cho kết quả hoàn toàn ngược lại, đó là có nhiều trường hợp ngược lại, người thắng cử dựa trên đường lối chính sách đạt được chưa chắc chắn đã thực hiện các chính sách đã hứa hẹn Bên thắng cử cần thực hiện các chính sách đã hứa hẹn, song họ cũng bị ràng buộc bởi các chính sách cũ, các chủ thể chính sách, hệ thống hành chính quan liêu, nhóm lợi ích, những ưu tiên khác nhau của công dân khi tham gia bầu
cử nhưng lại liên quan đến các giải pháp chính sách khi thực hiện Điều này cho thấy rõ ràng là chính sách không đơn giản là kết quả hay sản phẩm của quá trình chính trị, mà chính sách còn là nguyên nhân của chính nó Nói cách khác, chính sách chính là nhìn chính trị từ một lăng kính khác - chính trị hành động, trong đó chính sách công là sự kết nối cụ thể của chính trị mà đối tượng được xác định là chính sách Đối tượng của chính sách được xác định là: (i) Những hành động của chính phủ; (ii) Tổng các hành động của chính phủ kể cả các hành động gián tiếp của các cơ quan nhà nước mà có ảnh hưởng đến nhân dân; (iii) Một loạt các hành động có mục đích được theo đuổi bởi nhà nước giải quyết một vấn đề nào đó
Ngược lại, chính sách công phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
Trang 23
20
xã hội, từ đó lại tác động vào chính trị Nghiên cứu chính sách công không chỉ là nghiên cứu vấn đề quyền lực chính trị mà còn phát hiện vấn đề, phải tìm ra giải pháp nhằm giải quyết vấn đề đó [2] Những nhà hoạch định chính sách thường tập trung vào các chính sách cho phép các nhà chính trị quan sát và giải quyết tất cả các nhân tố đa diện
của chính trị hơn là chỉ tập trung vào một nhân tố duy nhất Ví dụ, đảng chính trị, cơ quan lập pháp, chính phủ Chính sách công còn có thể nhìn từ khu vực quyền lực khuôn khổ thể chế mà các bên tham gia chính sách hoạt động để duy trì hoặc tăng thêm quyền lực hoặc nguồn lực, lợi ích cho họ [3]
Về khuôn khổ, thể chế chính sách được hình thành mang tính lịch sử với các quy tắc chính thức, các hoạt động, tương tác, các giá trị
xã hội, văn hóa Chính sách còn chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị
và các chủ thể chính trị như đảng chính trị, nhóm lợi ích tham gia vào quá trình chính sách Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong thời gian qua chú ý đến các chủ thể tham gia chính sách với tập hợp các mối quan
hệ mạng lưới mà các mạng lưới này chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của thể chế chính trị giúp nhận rõ hơn về quyền lực, lợi ích, nhu cầu người dân và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn chính trị - chính sách [2]
Hệ thống chính trị chi phối một cách tự nhiên quá trình chính sách công từ khâu đầu đến khâu cuối Nền tảng văn hóa chính trị của các nhà hoạch định chính sách, phân tích chính sách tác động đến suy nghĩ và xử lý các quyết định chính sách công Nếu văn hóa chính trị xuất phát từ Hiến pháp và các quyền con người, giá trị nhân văn của dân tộc thì chính sách công mang lại lợi ích to lớn cho xã hội, cộng
Trang 24
21
đồng, người dân Ngược lại văn hóa chính trị xuất phát từ những tư tưởng cực đoan, nhóm lợi ích và lợi ích cục bộ thì chính sách công mang lại tác động tiêu cực cho xã hội, cộng đồng và người dân [2]
Hiến pháp buộc mọi chính sách phải tuân thủ các quy định cơ bản
về lợi ích quốc gia, quyền con người, quyền công dân và những giới
hạn đối với chính quyền Nói cách khác, quyền lực nhà nước được Hiến pháp cho phép, ràng buộc những giải pháp công cụ chính sách không vượt quá phạm vi quyền hạn hiến định Do đó có ý kiến cho rằng: “Chính sách công chính là diễn giải việc thực hiện hiến pháp” [3]
Thể chế nhà nước ở một quốc gia có mối quan hệ mật thiết với quá trình chính sách công Bản chất đó là guồng máy tổ chức nhà nước ảnh hưởng đến quá trình chính sách công Thể chế nhà nước đơn nhất khác với thể chế nhà nước liên bang Mô hình nhà nước khác nhau cũng ảnh hưởng đến quá trình chính sách công Mô hình tổng
thống chế như của Hoa Kỳ và Hàn Quốc khác với mô hình bán tổng thống chế của Pháp, Nga, khác với mô hình đại nghị chế của Anh và một số nước châu Âu, đều có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình chính sách công Trong nhà nước pháp quyền, mô hình tam quyền phân lập được xác định như tổ chức nhà nước Hoa Kỳ với quyền hành pháp, quyền lập pháp, quyền tư pháp Tổng thống là người nắm quyền hành pháp trực tiếp quản lý và điều hành bộ máy công chức chính quyền các cấp, thực hiện chính sách công Nghị viện Hoa Kỳ nắm quyền lập pháp và giám sát, phê chuẩn các chính sách công Tòa án giữ quyền tư pháp, không những có trách nhiệm kiểm tra và phán quyết các hành động, hành vi của công dân, mà còn của Nghị viện và
Trang 253 Th ực tiễn chính sách công với chính trị ở nước ta hiện nay
Trong điều kiện nước ta, chu trình chính sách công cho thấy, cả
hệ thống chính trị tham gia hoạch định chính sách công mà hạt nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Nhà nước là chủ thể chính, cơ bản của chính sách công, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -
xã hội Chính sách công chịu ảnh hưởng của văn hóa chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hiến pháp năm 2013 và thể chế chính trị phân chia quyền lực, theo Điều 2 Hiến pháp quy định: (1) Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; (2) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; (3) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Cơ sở hoạch định chính sách công trước hết là đường lối của ĐCSVN trong từng thời kỳ Hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam, đường lối của Đảng ta thể hiện trong nội dung độc lập dân tộc gắn liền
Trang 26
23
với chủ nghĩa xã hội, lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1999 (bổ sung, phát triển năm 2011) Quan điểm của ĐCSVN về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đường lối về phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, chiến lược con người và phát triển văn hóa Việt Nam, chiến lược quốc phòng, an ninh trong thời kỳ đổi mới, chính sách về tôn giáo, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Trong giai đoạn tiếp theo, cơ sở hoạch định chính sách của nước
ta dựa trên đường lối về tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình ổn định; xây dựng nền tảng để
sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Như vậy, mối quan hệ chính trị với chính sách công thể hiện rõ ràng, trong đó mọi chính sách công được hoạch định phải lấy căn cứ
là đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm làm sáng tỏ, hiệu quả thực hiện đường lối chính trị của ĐCSVN
Nói cách khác, sự tham gia này bảo đảm việc thực hiện đường
lối một cách tốt nhất, bởi vì sở hữu chính sách công, thực thi chính sách công là nhà nước và xã hội Hơn nữa, sự tham gia đầy đủ đảm bảo phân chia lợi ích từ chính sách công đạt được công bằng, tránh được các nhóm lợi ích bên trong chính quyền và bên ngoài chính quyền thao túng lợi ích, thu vén chiếm đoạt lợi ích chung hoặc lợi ích
Trang 27trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có sự tham gia của người dân là các chủ thể chính sách bị động
Trong giai đoạn xây dựng chính sách công, Nhà nước với tư cách là chủ thể chủ động, căn cứ trên cơ sở đường lối đã được hoạch định bởi ĐCSVN cho giai đoạn cách mạng tiếp theo mà xây dựng chính sách công Như vậy, tính chính trị được tiếp nối trong khâu tiếp theo Việc thiết kế, xây dựng và thực hiện chính sách còn bị ràng buộc bởi thể chế chính trị và Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật (ví dụ: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Tiếp theo, việc
thực hiện chính sách như là việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục dựa trên thể chế chính trị, đường lối chính trị một lần nữa rà soát trong hệ thống pháp luật nước ta (chương trình dự
án Luật) Trong khâu này, các giải pháp và công cụ chính sách được lựa chọn phải thỏa mãn các giá trị chính trị nền tảng của hệ thống chính trị nước ta Đối với nước ta, những giá trị cốt lõi từ tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chính trị sâu rộng “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra” cần phải được thỏa mãn trong khâu xây dựng chính sách công hiện nay Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Do đó, việc xây dựng chính sách công nhằm giải quyết các nhu cầu người dân mà bản
Trang 28
25
chất là các vấn đề khó khăn về kinh tế - xã hội đặt ra cần giải quyết
Trong giai đoạn thực hiện chính sách công, hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương và các tổ chức công là chủ đạo trong thực hiện chính sách công Trước hết, chính sách được thực
hiện đảm bảo đưa đường lối chính trị vào cuộc sống Nói cách khác,
sản phẩm chính trị lúc này được hình thành thông qua kết quả chính sách được thực hiện Đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cương lĩnh, quan điểm của ĐCSVN về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là đường lối về phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển con người được đi vào cuộc sống thông qua thực hiện chính sách công Trong quá trình thực hiện chính sách, những giá trị chính trị tiếp tục được thể hiện thông qua việc thực hiện các công cụ chính sách không phải là pháp luật như việc cung
cấp các chương trình và dự án, như chương trình bảo vệ môi trường
hoặc chương trình giảm nghèo với gói phúc lợi xã hội phù hợp cho người dân nghèo đảm bảo công bằng xã hội Bên cạnh đó, ĐCSVN tiếp tục kiểm tra, giám sát và đánh giá lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách Đến nay, những sơ kết, tổng kết chính sách trong từng giai đoạn rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách công sau này
Trong thực tiễn chính sách công, kết quả và tác động chính sách công nhìn chung là tốt, tuy nhiên, bên cạnh đó đã bắt đầu xuất hiện các nhóm lợi ích mà Đảng ta đã xác nhận bản chất là mối quan hệ quyền lực và lợi ích Nghiên cứu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương dẫn chứng khảo sát của Thanh tra Chính phủ trong năm 2012 có 24,7% cán bộ, công chức được hỏi thừa nhận có hiện tượng quan chức
Trang 29
26
nhận tiền hoặc quà biếu để giải quyết công việc có lợi cho người đưa tiễn, quà; 20,3% thừa nhận có chuyện doanh nghiệp mời các quan chức đi du lịch, vui chơi, ăn uống để vụ lợi Một khảo sát khác của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới trong năm 2012 cho thấy,
có tới 50% doanh nghiệp được hỏi đã nói rằng nhóm các doanh nghiệp
có quan hệ với quan chức có ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ hơn trong hoạch định chính sách; 40% doanh nghiệp cùng thừa nhận họ có
sử dụng quan hệ với quan chức để vụ lợi Theo Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: “Nhóm lợi ích” có thể hiểu là nhóm người có chức quyền câu kết với nhau nhằm trục lợi cá nhân, điều này là trái với luật pháp, ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người khác, đi ngược với lợi ích của đất nước, của nhân dân Thái độ của Đảng và Nhà nước với
“nhóm lợi ích” đã được xác định rất rõ ràng là kiên quyết loại bỏ
“nhóm lợi ích” ra khỏi đời sống xã hội Như vậy chính trị với chính sách công là mối quan hệ gắn bó giữa quyền lực và lợi ích, phân tích mối quan hệ này đòi hỏi hiểu rõ chính sách không chỉ đơn giản là sản phẩm của chính trị, mà chính sách công còn là sản phẩm của chính nó
và bị chi phối bởi chính trị
Trang 30
27
và tác động chính sách công mang lại lợi ích quốc gia và lợi ích cho người dân thì đổi mới chính trị theo định hướng nâng cao năng lực chính sách là rất quan trọng Trong điều kiện hiện nay của nước ta, tiếp tục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiền đề cho quá trình chính sách công hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
——————————
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Daugbjerg, Carsten and Mash D., (1998), “Explaining policy outcomes: Integrating the policy network approach with macro level and micro level analy sis, comparative policy network” Buckingham; Open University
Press Tr.190-230
2 Đỗ Phú Hải (2012), “Những vấn đề cơ bản của chính sách công”, Học
viện Khoa học xã hội
3 Đỗ Phú Hải (2013), “Thiết kế chính sách công tại các nước đang phát
tri ển” Bài trình bày tại Hội thảo chính sách công lần thứ 1, 6/2013,
Science de PO, Grenoble, Pháp
4 Howlette M., (2007), “Studying public policies” Sage Publications
5 Knode D., (1993), “Network as Political Glue: Explaining Public Policy
- Making, in W.J.Wil son ed ”; Socialogy and Public Agenda London:
Trang 31
28
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH CÔNG NGHI ỆP XANH Ở VIỆT NAM
TS NGUY ỄN HOÀNG QUY - ThS LÊ ÁNH TUYẾT
H ọc viện Hành chính Quốc gia Trường Chính trị tỉnh Yên Bái
Công nghi ệp xanh đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và khắc phục hậu
qu ả của ô nhiễm môi trường Thời gian qua, hoạch định chính sách công nghi ệp xanh ở Việt Nam còn gặp những trở ngại
nh ất định về thể chế, chính sách và nguồn lực đầu tư Bài viết nghiên c ứu những giá trị, lợi ích trực tiếp mà chính sách công nghi ệp xanh mang đến cho các quốc gia phát triển, qua đó,
Vi ệt Nam có thể tham khảo trong hoạch định và thực thi chính sách công nghi ệp xanh, bảo đảm quá trình thực hiện có thể tối
đa hóa hiệu quả lợi ích từ cấp địa phương đến toàn bộ nền kinh t ế
Green industry has brought about remarkable achievements in economic growth, solved social problems, and handled the consequences of environmental pollution However, there are certain obstacles in terms of institutions, policies, and investment resources in the formulation of the green industry policy in recent years in Vietnam The paper studies the direct values and benefits of the green industry
Trang 32
29
policy in developed countries, which provides implications for Vietnam in formulation and implementation of the green industry policy, in ensuring maximum benefits for localities and the whole economy during the policy implementation
Keywords: Industry policy; green industry policy; green industry; green technology
Ngày nhận: 25/6/2020 Ngày phản biện, đánh giá: 10/7/2020 Ngày duyệt: 16/9/2020
Chính sách công nghi ệp xanh
Nhân loại đã và đang chứng kiến những hậu quả nghiêm
trọng do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra, ảnh hưởng tới sự cân
bằng của hệ sinh thái và điều kiện môi trường sống hiện tại Bên cạnh đó, công tác quản lý và sử dụng các nguồn lực tại các quốc gia cũng đang khiến các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ, gây mất đa dạng sinh học và tác động tiêu cực tới sức khỏe con người và môi trường sống Trong bối cảnh này, trọng tâm phát triển chính sách kinh tế quốc gia chuyển đổi từ tối đa hóa tăng trưởng sang tăng trưởng gắn liền với các mục tiêu xã hội và kinh tế, gìn giữ
bảo vệ các giá trị môi trường bền vững Đặc biệt hơn, chính sách kinh tế xanh đóng vai trò vô cùng quan trọng và tương thích với bối cảnh kinh tế của các quốc gia đang phát triển, nơi các nguồn lực tài nguyên và môi trường có khả năng được gìn giữ và phát triển theo
mô hình kinh tế bền vững ngay từ giai đoạn đầu của nền kinh tế công nghiệp
Chính sách công nghiệp xanh (CSCNX) là công cụ pháp lý đặc
1
Trang 33
30
biệt và phù hợp để đạt được những chuyển đổi căn bản và lâu dài, duy trì điều kiện sống chấp nhận được ở hiện tại và cho các thế hệ tương lai Theo nghĩa rộng, CSCNX gồm tất cả những chính sách điều chỉnh cấu trúc nền kinh tế gắn với phát triển bền vững, bao hàm cả khả năng
tự điều chỉnh và phục hồi của hệ sinh thái và các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên(1) Định nghĩa này bao trùm các quan điểm hẹp hơn trước
đó về CSCNX, thường chỉ tập trung vào các giải pháp thay thế bằng nhiên liệu hàm lượng cacbon thấp hoặc thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường
CSCNX không chỉ đóng vai trò giảm thiểu tác động tiêu cực từ các hình thức ô nhiễm môi trường (không khí, nước, đất và biến đổi khí hậu) mà xa hơn là phát triển đất nước theo hướng bền vững lâu dài trong tương lai
Sự khác biệt của CSCNX so với chính sách công nghiệp truyền
thống ở chỗ, CSCNX ra đời giúp ứng phó những mục tiêu mà chính sách công nghiệp chưa đạt được, xúc tiến quá trình chuyển hóa xanh, đưa nền kinh tế tiến tới phát triển bền vững(2) Nói cách khác, CSCNX
là biện pháp hữu hiệu để khắc phục những hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu - vốn được xem là thất bại lớn nhất trong lịch sử nhân loại gây ra Trong bối cảnh kinh tế đang phát triển, nền công nghiệp xanh
sử dụng một cách hữu hiệu những công cụ pháp lý nhằm thiết lập quyền tiếp cận và hạn ngạch sử dụng nguồn tài nguyên, tối thiểu hóa tác nhân gây ô nhiễm hay chính sách thuế môi trường phản ánh trực tiếp chi phí xã hội từ ô nhiễm vào giá cả, khiến thay đổi hành vi tiêu dùng trong ngắn hạn và hướng tới phát triển ngành công nghiệp sạch
Trang 34Hoạch định CSCNX là quá trình phức tạp có tính sáng tạo và linh hoạt cao, kết hợp giữa việc xây dựng những trụ cột của nền kinh
tế phát triển xanh và tháo gỡ những vướng mắc, tồn đọng do các ngành công nghiệp ô nhiễm trước đó để lại Tầm nhìn và sứ mệnh của ngành công nghiệp xanh không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà còn vượt lên, trở thành vấn đề với quy mô toàn cầu Sự lựa chọn trong việc sớm ứng dụng công nghiệp xanh tại mỗi một quốc gia đem lại những lợi thế cạnh tranh nhất định trong giao thương hội nhập kinh tế Điển hình là chất lượng cuộc sống, phúc lợi xã hội và nền kinh tế sớm
Trang 35
32
được cải thiện, gia tăng những ưu thế về nguồn lực, nhân công lao động và xác lập vị thế phát triển bền vững
2 L ợi ích phát triển chính sách công nghiệp xanh đối với các
qu ốc gia đang phát triển
Việc theo đuổi CSCNX là thực sự cần thiết và đem lại lợi ích
trực tiếp cho các quốc gia đang phát triển ứng dụng công nghệ xanh trong sản xuất và phát triển kinh tế Cụ thể:
Th ứ nhất, CSCNX giúp nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch
vụ, cải thiện đời sống sức khỏe
Nền kinh tế tại các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên, khả năng tiêu dùng và thu nhập của người dân Suy thoái môi trường đặt ra gánh nặng chi phí cao đối với nhóm quốc gia đại diện 40% dân số toàn cầu ở mức GDP trung bình dưới 8% Chính vì vậy, những cải tiến trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ sẽ dẫn tới tăng trưởng sản xuất, tiết kiệm chi phí khi sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo(4)
Th ứ hai, ngành công nghiệp thân thiện môi trường giúp tăng
trưởng nguồn nhân lực và tránh sự lạm dụng nguồn tài nguyên công Các sản phẩm hàng hóa môi trường - nguồn tài nguyên công thường xuyên gặp vấn đề, như không rõ ràng về chủ sở hữu hay quyền quản
lý sử dụng Khi tài nguyên bị khai thác quá mức sẽ ảnh hưởng trực
tiếp tới lợi ích của những người thu nhập thấp phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này Quản lý đúng cách nguồn tài nguyên chung sẽ làm chậm quá trình suy thoái và tăng trưởng năng suất kinh tế, đồng thời, giá trị
Trang 36
33
và sự khan hiếm của nguồn tài nguyên nên được thể hiện ở các loại phí dịch vụ môi trường - giảm thiểu sự xuống cấp của môi trường sinh thái và cải thiện chất lượng cuộc sống Ngoài ra, việc cải tiến quy trình sản xuất, tiết kiệm nguồn tài nguyên có thể sẽ đáp ứng được hết các chi phí vốn ban đầu trong thời gian ngắn hạn, giảm tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm, tăng lợi nhuận ròng nền kinh tế và tác động tích cực tới môi trường Việc đầu tư vào các nguồn năng lượng hiệu quả có thể sinh mức lợi tức gấp ba lần: tiết kiệm lượng lớn năng lượng, giảm thiểu khí thải và tăng tỷ lệ việc làm(5)
Th ứ ba, công nghiệp xanh giải mã các nguồn lực, đồng thời phát
triển hạ tầng đô thị bền vững Các nước đang phát triển có hệ thống hạ tầng chưa hoàn thiện sẽ giảm thiểu các chi phí môi trường và kinh tế, tận dụng các nguồn nguyên liệu rẻ, sạch và hiệu quả hơn thay vì sử dụng cacbon - gây tốn kém khi phải thay thế các công nghệ lỗi thời và xử lý
hậu quả do chúng để lại Tiếp đó, các nước đang phát triển được hưởng lợi từ việc giảm những ưu đãi trong tiếp cận và sử dụng nguồn tài nguyên Một số ưu đãi từ chính sách công nghiệp thuần túy có thể sẽ làm lợi cho một nhóm người có địa vị trong xã hội, khi họ tận dụng cơ hội để khai thác vượt ngưỡng quy định, bóp méo giá cả thị trường nhiên vật liệu và gây ra những hậu quả xấu tới môi trường Do đó, thông tin trên thị trường phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ, bao gồm cả những thiệt hại từ ưu đãi sai lầm và biện pháp bồi thường cho nhóm người bị ảnh hưởng nhiều nhất, đặc biệt là nhóm người có thu nhập trung bình và thấp hơn trung bình
Th ứ tư, các nền kinh tế đang phát triển tạo dựng được lợi thế
Trang 37
34
cạnh tranh mới trong quảng bá và sản xuất hàng hóa thân thiện với môi trường Tuy hầu hết các nước đang phát triển không thể chấp nhận rủi ro cao khi sử dụng quy trình công nghệ tân tiến nhất, nhưng
họ thích ứng tốt với nền tảng công nghiệp hiện có Nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và phong phú là lợi thế và tạo động lực cho sự phát triển ngành công nghiệp xanh tại các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển Hơn nữa, các quốc gia này cũng trực tiếp hưởng lợi từ quảng bá và ứng dụng nền tảng xanh
Ngân hàng Thế giới nhận định, mở cửa nền kinh tế đã gia tốc cho quá trình áp dụng, thích ứng và triển khai công nghệ Các nước có thu nhập thấp nên tập trung vào những đổi mới để thích nghi và đáp ứng với nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm cả các đổi mới chính thức hoặc không chính thức, cung cấp hàng hóa cho nhiều người hơn trong khi sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên sẵn có(6)
Th ứ năm, bất ổn về giá trên thị trường dầu mỏ khiến tăng trưởng
kinh tế tại các quốc gia đang phát triển theo hướng gia tăng lạm phát
và tỷ lệ thất nghiệp Các dự án năng lượng tái tạo sẽ hỗ trợ giảm tốn kém trong tiêu thụ nhiên liệu, gia tăng an toàn năng lượng quốc gia, bảo vệ nền kinh tế trước con sốc giá dầu và giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu Các lĩnh vực công nghệ xanh tuy chỉ yêu
cầu một số lượng nhỏ lao động có kỹ thuật trong ngắn hạn nhưng bảo đảm một lượng lớn nhu cầu việc làm trong dài hạn Việc làm đến từ gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ xanh hay chuyển hình thức đánh thuế sang thuế gây thiệt hại môi trường đã tạo ra sự gia tăng nhu cầu lao động do cải cách tài khóa môi trường khiến giá lao động rẻ
Trang 38
35
hơn so với chi trả cho tiêu thụ năng lượng(7)
Th ứ sáu, việc sớm áp dụng các CSCNX ở các nước đang phát
triển cung cấp lợi thế về năng lực công nghiệp ít cacbon, giảm các chi phí chuyển đổi sau đó và hạn chế chi phí giao thương của các nước
nhập khẩu áp dụng đánh thuế cacbon
Ngoài ra, cơ chế phát triển theo hướng công nghiệp xanh cho phép các nước đang phát triển nhận chuyển giao vốn từ những dự án giảm thiểu khí thải ở lĩnh vực năng lượng và sản xuất hoặc giảm khí thải từ nạn phá và suy thoái rừng, ở mức độ toàn cầu, những đề án này có ý nghĩa ràng buộc với tất cả các quốc gia, khuyến khích các quốc gia đang phát triển tham gia vào các thỏa thuận liên quan đến biến đổi khí hậu, thúc đẩy sự chuyển đổi xanh Các quốc gia đang phát triển tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tài chính và phát triển năng lực cần thiết trong chuyển đổi lĩnh vực năng lượng và sản xuất; kiểm soát, thích ứng
và phục hồi nhanh chóng trước sự thay đổi của biến đổi khí hậu
3 Nh ững định hướng phát triển chính sách công nghiệp xanh ở Việt Nam
Phát triển CSCNX của các nền kinh tế phát triển đã để lại nhiều bài học thực tế đắt giá đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó
có Việt Nam cần phải nghiên cứu học tập
M ột là, thực tiễn trên thế giới đã chứng minh về khả năng áp
dụng và thực thi CSCNX vào thực tiễn hơn bất cứ một chính sách công nghiệp nào trước đó Minh chứng rõ ràng nhất đến từ định hướng chuyển đổi ngành sản xuất công nghiệp sạch theo thị hiếu tiêu dùng
Trang 39
36
của các quốc gia trong khu vực châu Âu Nhu cầu sống trong môi trường xanh luôn thường trực trong chính bản thân xã hội và cộng đồng, đặt mạnh áp lực lên Chính phủ các nước phải không ngừng khắc phục, cải thiện các công cụ pháp lý thích hợp, bảo đảm chất lượng
cuộc sống và loại bỏ những tác nhân gây ô nhiễm môi trường
Hai là, giải quyết các vấn đề gây ô nhiễm phải từ các nhân tố trực tiếp, thay vì gián tiếp ảnh hưởng tác động Điều này thể hiện rõ khi Chính phủ nhiều nước vẫn tiếp tục tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào khai thác mỏ quặng bất chấp những hệ lụy về suy thoái môi trường trong tương lai Áp dụng đánh thuế hay bất kỳ công cụ pháp lý nào được cụ thể hóa dưới hình thức chi phí môi trường sẽ góp phần thể hiện rõ giá trị và sự khan hiếm của các nguồn tài nguyên hiện tại
Ba là, CSCNX cần được hoạch định bởi một cơ chế thi hành pháp lý cao nhất, có phạm vi ảnh hưởng tới tất cả các ngành trong nền kinh tế, có khả năng tự điều chỉnh, phối hợp giữa các cấp từ trung ương tới địa phương Điều này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải trực tiếp kiểm soát các quy định và cơ chế trong chính sách xanh, đồng thời gắn liền phát triển kinh tế bền vững với việc gia tăng cơ hội việc làm, tăng cạnh tranh cho sản phẩm nội địa, đột phá trong công nghệ và cải thiện phúc lợi xã hội
B ốn là, Việt Nam cần thiết lập từng mục tiêu phát triển cụ thể
trong chiến lược CSCNX theo các giai đoạn ngắn, trung và dài hạn của nền kinh tế Ở mỗi giai đoạn, Chính phủ cần xác định rõ mục tiêu, thách thức của mục tiêu và các chỉ số đề ra cùng với báo cáo đánh giá hiệu quả phương hướng và kết quả hoạt động Quá trình đánh giá phải
Trang 40
37
dựa trên cơ sở khách quan về tính hiệu quả và phạm vi thực hiện để rút kinh nghiệm và xây dựng các hướng đi tốt hơn trong tương lai
Năm là, cơ chế cạnh tranh sẽ khuyến khích sự phát triển không
ngừng của nền công nghiệp xanh khi các doanh nghiệp liên tục đổi
mới sáng tạo công nghệ để sản phẩm của họ thích ứng với nhu cầu tiêu dùng xanh Hơn hết, Chính phủ sẽ để “ngỏ” cho các doanh nghiệp một “sân chơi” giống như một trọng tài trung gian không thiên vị với bất kỳ người chơi nào Việt Nam cần thiết lập được một cơ chế như vậy để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm xanh
Sáu là, CSCNX tại Việt Nam phải tương thích và tuân thủ với những quy định về công nghiệp xanh trên thế giới Vì nền kinh tế xanh là mục tiêu toàn cầu của nhiều quốc gia trên thế giới, do đó, để
tạo sự cân bằng trong phát triển, những thỏa thuận môi trường quốc tế
sẽ đưa ra các lệnh trừng phạt thương mại đối với nền kinh tế không tuân thủ các chính sách kinh tế xanh Để phát triển kinh tế bền vững
và hưởng lợi từ quá trình này, Việt Nam cần cân nhắc kỹ các yêu cầu trong CSCNX toàn cầu để nhanh chóng thích ứng và nắm bắt cơ hội
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam cần hoàn thiện một thể chế pháp lý toàn diện bao gồm những quy định và xử phạt chặt chẽ trong hoạch định CSCNX Ngoài ra, sự phối hợp và liên kết giữa các ban ngành từ trung ương đến địa phương cũng cần được thiết lập một cách chặt chẽ hơn Cần đẩy mạnh hơn việc quảng bá, tuyên truyền về lợi ích của tăng trưởng xanh với nền kinh tế và môi trường, gắn kết các thành phần xã hội từ cấp độ cá nhân tham gia vào công cuộc đổi