1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng xây dựng nền quản trị quốc gia ở việt nam trong giai đoạn hiện nay thông tin chuyên đề số 32022

304 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định hướng xây dựng nền quản trị quốc gia ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Vũ Công Giao, Nguyễn Văn Quân, Lê Thị Thanh Hà, Đoàn Minh Huấn, Phạm Minh Sơn, Nguyễn Thị Trường Giang, Nguyễn Thanh Thảo, Lê Thị Phương Hảo, Vũ Thị Hồng Luyến, Phạm Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Hải Yến, Trần Thị Việt Nhung, Phạm Thị Hằng, Văn Tất Thu, Nguyễn Trọng Bình, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Chiến Thắng, Lý Hoàng Mai NguyenThuhằn, Vũ Trường Sơn, Vũ Văn Hà, Vũ Thư, Bùi Ngọc Hiền, Vũ Thị Hoài Phương, Phạm Văn Linh, Nguyễn Minh Phương, Bùi Phương Đình, Phạm Thị Huyền Thảo, Phan Thị Lan Phương, Nguyễn Thị Hồng Giang, Phạm Thị Hồng Điệp, Nguyễn Hữu Dũng, Lê Văn Chiến, Phạm Thế Lực
Trường học Đại học Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị quốc gia
Thể loại Thông tin chuyên đề
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 304
Dung lượng 3,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BAN CHỈ ĐẠO PGS,TS Phạm Minh Sơn PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang BAN BIÊN TẬP TS Nguyễn Thanh Thảo ThS Lê Thị Phương Hảo Ảnh bìa: Nguồn internet PHẦN I – QUẢN TRỊ QUỐC GIA - NHỮNG VẤ

Trang 2

BAN CHỈ ĐẠO PGS,TS Phạm Minh Sơn

PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang

BAN BIÊN TẬP

TS Nguyễn Thanh Thảo

ThS Lê Thị Phương Hảo

Ảnh bìa: Nguồn internet

PHẦN I – QUẢN TRỊ QUỐC GIA - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

 VŨ CÔNG GIAO – NGUYỄN VĂN QUÂN

Quản trị quốc gia theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII: Bước tiến mới và yêu cầu mới 3

 LÊ THỊ THANH HÀ

Quản lý phát triển xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng 28

 ĐOÀN MINH HUẤN

Những quan điểm cơ bản của

Hồ Chí Minh về phát triển xã hội - Giá trị định hướng cho nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội hiện nay 41

 VĂN TẤT THU

Đổi mới quản trị nhà nước theo hướng hiện đại, hiệu quả là yêu cầu tất yếu khách quan để phát triển đất nước 56

 NGUYỄN TRỌNG BÌNH

Quản trị quốc gia hiện đại: Đặc trưng và yêu cầu về thể chế 66

Trang 3

Quản trị quốc gia trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 186

PHẠM T.HỊ DUYÊN THẢO – PHAN THỊ LAN PHƯƠNG

Quản trị bền vững tài nguyên thiên nhiên - Nền tảng của quản trị nhà nước hiện đại 221

NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI-HOÀNG VĨNH GIANG

Xây dựng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý đổi mới, sáng tạo đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước hiện đại 238

 PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP

Thực thi mô hình “Quản trị nhà nước tốt” trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam 250

 NGUYỄN HỮU DŨNG

Quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021 - 2030 262

 LÊ VĂN CHIẾN

Sự tham gia của người dân vào quản lý xã hội ở Việt Nam 278

 PHẠM THẾ LỰC

Nâng cao năng lực quản trị khủng hoảng của chính phủ và những gợi mở cho Việt Nam 290

Cơ sở lý luận về quản lý phát

triển xã hội, quản trị phát

triển xã hội trong điều kiện

 VŨ TRƯỜNG SƠN - VŨ VĂN HÀ

Quản trị quốc gia trong bối

Những thay đổi của nhà nước

trong kỷ nguyên mới 134

 VŨ THỊ HOÀI PHƯƠNG

Vai trò của Nhà nước trong

quản trị phát triển xã hội ở

Việt Nam hiện nay 145

PHẦN II – ĐỊNH HƯỚNG XÂY

DỰNG NỀN QUẢN TRỊ QUỐC

GIA Ở VIỆT NAM TRONG GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY

 PHẠM VĂN LINH

Xây dựng và hoàn thiện nền

quản trị quốc gia hiện đại,

hoạt động hiệu lực, hiệu quả

ở Việt Nam 157

 NGUYỄN MINH PHƯƠNG

Những thách thức đặt ra đối với

hiệu quả quản trị địa phương

Việt Nam trong bối cảnh cách

mạng công nghiệp 4.0 171

Trang 4

1

LỜI GIỚI THIỆU

Quản trị quốc gia hiện nay đang là những vấn đề của thời đại Những biến động của thế giới từ toàn cầu hóa, từ sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư… đã đặt nhân loại trước các vấn đề của phát triển Đối với các quốc gia trong

đó có Việt Nam, tư duy quản trị quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Điều này khác biệt với tư duy quản lý nhà nước vẫn đang hiện hữu

Quản trị quốc gia nhìn nhận quốc gia là một tổng thể, một thực thể với đầy đủ nguồn lực, lợi thế so sánh và cả những hạn chế cần khắc phục

Quản trị quốc gia ở Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của nhà nước Với tầm nhìn, định hướng mà Đảng xác định, tầm nhìn quản trị quốc gia từ đó đã được minh định Nhà nước là

chủ thể quản trị quốc gia quan trọng nhất, có ý nghĩa quan trọng quyết định đối với hiệu quả quản trị quốc gia Tuy nhiên, nhà nước không

phải là chủ thể duy nhất tham gia vào quản trị quốc gia Sự phát triển

của đời sống kinh tế - xã hội, sự phát triển của khu vực ngoài nhà nước đang đặt ra những yêu cầu mới trong tổ chức Quản trị quốc gia

Nhận thức rõ về tầm quan trọng và xác định việc đổi mới quản trị Quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả là hết sức cần thiết và là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hiện nay Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta cũng đã triển khai quản trị quốc gia trong nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, việc đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam vẫn đang đối mặt với rất nhiều khó khăn do quản trị quốc gia là một vấn đề lớn, không chỉ các nhân tố tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của Chính

Trang 5

2

phủ mà còn bao gồm các nhân tố của xã hội, của khu vực doanh nghiệp

tư nhân Các nhân tố này cùng tương tác, gắn kết chặt chẽ với nhau

Để góp phần làm rõ các vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới quản

trị quốc gia, chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn một số bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu uy tín đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, biên soạn ấn phẩm Thông tin chuyên đề số 03/2022 với chủ đề “Định hướng xây dựng nền quản trị quốc gia ở Việt Nam trong giai đoạn

hi ện nay”

Kết cấu thông tin chuyên đề gồm hai phần:

Ph ần I: Quản trị quốc gia - Những vấn đề lý luận

Ph ần II: Định hướng xây dựng nền quản trị quốc gia ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trong quá trình biên soạn ấn phẩm, chúng tôi có sử dụng một số tài liệu từ các tạp chí và internet mà chưa có điều kiện xin phép trực tiếp tác giả Ấn phẩm chỉ sử dụng với mục đích làm tài liệu tham khảo nội

bộ, không vì mục đích kinh doanh Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tác giả Mặc dù Ban Biên tập đã hết sức cố gắng, song trong quá trình biên tập, không tránh khỏi khiếm khuyết Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc

Trân tr ọng cảm ơn!

BAN BIÊN T ẬP

Trang 6

VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII:

BƯỚC TIẾN MỚI VÀ YÊU CẦU MỚI

 PGS, TS VŨ CÔNG GIAO - TS NGUYỄN VĂN QUÂN

Khoa lu ật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm t ắt: Bài viết trình bày và phân tích những tác động của

vi ệc ghi nhận nguyên tắc quản trị tốt trong các văn kiện của Đảng

C ộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việc đề cao các yếu tố của quản trị tốt cũng đặt ra những yêu c ầu và thách thức đối với hệ thống pháp luật quốc gia

Abstract: The article presents and analyzes the effect of the recognition of good governance principles in the instruments of the Communist Party of Viet Nam on the organization and operation of the state apparatus Promoting the elements of good governance also poses requirements and challenges to the national legal system

Trang 7

hoạt động của Nhà nước, cũng như tác động tới các thiết chế xã hội khác Đây là một trong những nhân tố thúc đẩy xu thế chuyển dịch từ

quản lý sang quản trị Theo đó, quản trị dần trở thành một thuật ngữ sử

dụng phổ biến để mô tả các chuyển đổi tác động tới việc thực thi quyền

lực trong xã hội đương đại Phương thức quản trị được quảng bá, phổ

biến và thúc đẩy ở mọi cấp độ và mọi tổ chức xã hội, bao gồm cả Nhà nước và các tổ chức quốc tế Quản trị được xem là sự thay thế cho phương thức quản lý, cai trị truyền thống, đánh dấu sự chuyển mình sâu

rộng của tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong bối cảnh mới

Dưới tác động của các tổ chức tài trợ quốc tế, các nghiên cứu của

giới học thuật cũng như nhu cầu nội tại của đất nước, nhận thức về quản

trị quốc gia dần được phổ biến tại Việt Nam Quản trị tốt từng bước được thừa nhận như là một tiêu chuẩn của quản lý công hiện đại, chìa khoá để xây dựng một xã hội văn minh, thịnh vượng Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam gần đây đã đề cập tới các yếu tố của quản trị quốc gia, quản trị tốt Điều này đặt ra những thách thức cho tổ chức và

hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như tới hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn tới

1 Khái lược về quản trị quốc gia

Thuật ngữ “quản trị quốc gia” (đôi khi được gọi là “quản trị công”,

“quản trị nhà nước”) ở Việt Nam có lẽ được dịch từ thuật ngữ

D

Trang 8

5

governance/public governance trong tiếng Anh Theo Daniel

Kaufmann, governance là: “Các truyền thống và thể chế mà dựa vào đó

để thực hiện quyền lực ở một quốc gia”(1) Ngân hàng Thế giới (WB)

xem governance là “ cách thức mà quyền lực được thực thi thông qua các thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia”(2) Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), governance là “việc thực thi quyền lực chính trị, hành chính, kinh tế để quản lý các vấn đề của quốc gia ở mọi cấp độ”(3) Còn theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),

“governance nói đến môi trường thể chế mà ở đó các công dân tương

tác với nhau và với các cơ quan, quan chức nhà nước”(4)

Trong thực tế, governance là một thuật ngữ chủ yếu gắn với tổ

chức và hoạt động của bộ máy nhà nước (quản trị quốc gia/quản trị nhà nước) Mặc dù khái niệm này cũng được sử dụng trong một số bối cảnh khác, chẳng hạn như quản trị doanh nghiệp (corporate governance)(5), quản trị quốc tế (international governance), quản trị toàn cầu (global

governance)…(6) Đối với quản trị quốc gia, có nghiên cứu lại chia thành quản trị ở cấp độ toàn quốc (national governance) và quản trị ở

cấp địa phương (local governance), trong đó mặc dù chia sẻ những

nguyên tắc chung, nhưng ở mỗi cấp có một số đặc trưng riêng(7)

Về mặt lịch sử, quản trị quốc gia về bản chất không phải là một khái niệm chính trị, pháp lý mới mà đã được đề cập từ lâu trên thế giới Ngay từ thời Hy Lạp - La Mã cổ đại, một số nhà tư tưởng, ví dụ như Aristotle, đã đề cập đến vấn đề này thông qua những luận điểm về các

mô hình, vai trò và cách thức quản trị của Nhà nước(8) Mặc dù vậy, khái niệm quản trị nhà nước/quản trị quốc gia mới chỉ được quan tâm

Trang 9

6

đặc biệt và thảo luận rộng rãi trên thế giới kể từ cuối thế kỷ XX, khi nhiều nước nhận thấy cần cải cách mô hình quản lý và hành chính công (Public Administration and Management - PAM) để đáp ứng những yêu

cầu đặt ra của toàn cầu hóa Đầu tiên, lý thuyết về quản lý công mới (New Public Management - NPM) được khởi xướng(9) với kỳ vọng giúp chuyển đổi mô hình PAM truyền thống đã bộc lộ ngày càng nhiều hạn

chế sang một mô hình hiệu quả hơn Tuy nhiên, NPM cũng nhanh chóng

thể hiện những bất cập trong thực tế(10), vì vậy một mô hình khác được

khởi xướng với tên gọi là quản trị công (Public Governance), hay quản

trị công mới (New Public Governance)(11) Thuật ngữ public governance trong 2 - 3 thập kỷ gần đây dần dần được dùng thay thế cho thuật ngữ public administration/public management, trong đó Nhà nước dành cho mình vị trí gần như độc tôn và thiên về áp dụng các biện pháp

có tính áp đặt để quản lý xã hội(12 )

Việc chuyển đổi từ tư duy quản lý cũ sang tư duy quản trị trong

hoạt động của Nhà nước đã được khá nhiều học giả phân tích, trong đó cho thấy đây là xu hướng của thế kỷ XXI và phản ánh sự thay đổi lớn trong nhận thức và cách thức thực thi quyền lực chính trị ở các quốc gia(13) Sự chuyển đổi này cho thấy vai trò của Nhà nước trong thế kỷ XXI đang và sẽ thay đổi, vị trí độc tôn của Nhà nước sẽ giảm đi, để chia

sẻ quyền lực với những thiết chế và chủ thể dân chủ mới(14) Những thiết chế dân chủ mới này đang làm thay đổi mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào các hệ thống chính trị, thể hiện qua sự điều chỉnh các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm giữa các bên liên quan So với mô hình

quản lý nhà nước trước đây, mô hình quản trị nhà nước hiện nay có sự

Trang 10

7

tham gia chủ động của một phạm vi các chủ thể rộng lớn hơn rất nhiều Quyền lực chính trị được phân bổ một cách hợp lý giữa bộ máy nhà nước và người dân, thông qua sự hình thành, phát triển và hoạt động

của các phong trào và tổ chức xã hội, cũng như qua việc phân quyền từ chính quyền trung ương xuống chính quyền địa phương Trong tiến trình ra quyết định và thực thi các quyết định chính sách, mô hình quản

trị đòi hỏi có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, với mức độ, vai trò, cách thức, thời điểm và giai đoạn khác nhau Các chủ thể tham gia

có thể chính thức (formal actors) hoặc không chính thức (informal actors), có v ị trí trong các cấu trúc chính thức (formal structures) hoặc

không chính thức (informal structures)(15) Trong đó, Nhà nước là chủ

thể chính, nhưng không phải duy nhất Ngoài Nhà nước, còn có các chủ thể khác mà sự tham gia phụ thuộc vào từng dạng và bối cảnh của quản trị, ví dụ như người dân, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các

tổ chức quốc tế, các đảng chính trị, các tổ chức tôn giáo, các cơ quan truyền thông, các cơ sở học thuật Nói cách khác, cơ chế quản trị đặc trưng bởi sự tham gia, phối hợp và hợp tác của nhiều chủ thể khác nhau trong xây dựng và thực thi chính sách, khác biệt với cách thức quản lí mang tính chỉ đạo đơn phương, mệnh lệnh trước đây(16) Từ những đặc trưng này của quản trị, có học giả xem quản trị là một “hệ hình” (paradigme) mới của Nhà nước trong tương lai(17)

2 Qu ản trị quốc gia tốt

Từ những phân tích ở mục trên, có thể thấy quản lý nhà nước, quản

trị nhà nước/quản trị quốc gia là vấn đề thể chế, là sự biểu hiện của thể

chế Hiệu quả quản trị quốc gia chính là thước đo tác động của thể chế

Trang 11

Kể từ thập niên 1980, cùng với khái niệm quản trị quốc gia, khái niệm quản trị quốc gia tốt được đề cập đến ngày càng nhiều Nguyên

nhân được lý giải là bởi thực trạng quản trị quốc gia kém (bad governance) mà các dấu hiệu đặc trưng là tình trạng tham nhũng, chính quyền thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực ngày càng nghiêm trọng trên

thế giới, dẫn đến nhu cầu cần tìm ra biện pháp giải quyết(21) Trong bối

cảnh đó, quản trị quốc gia tốt trở thành một yếu tố quan trọng trong các

chương trình nghị sự về chính trị và kinh tế cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia; đồng thời được xem như một trong những tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển của một đất nước

Cũng giống như khái niệm quản trị quốc gia, có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị quốc gia tốt Tuy nhiên, theo các cơ quan Liên

hợp quốc, quản trị quốc gia tốt bao gồm 8 đặc trưng chính (major

Trang 12

9

characteristic)(22) đó là: Sự tham gia (participatory), định hướng đồng

thuận (consensus oriented), trách nhiệm giải trình (accountable), sự

minh bạch (transparent), sự kịp thời (responsive), tính hiệu lực (effective), tính hi ệu quả (efficient), tính bình đẳng và không loại trừ chủ

thể nào (equitable and inclusive) và tuân thủ pháp quyền (follows the

rule of law), cụ thể như sau(23):

S ự tham gia

Sự tham gia của người dân được xem là một yếu tố cốt lõi của quản

trị quốc gia tốt Quản trị quốc gia tốt đòi hỏi phải có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại

diện (representative) hoặc các thiết chế trung gian hợp pháp (legitimate intermediate institution) Các Nhà nước cần thông báo và tổ chức cho người dân tham gia vào quản lý xã hội Điều này đòi hỏi các Nhà nước phải bảo đảm các quyền tự do hiệp hội và biểu đạt, cũng như sự tồn tại

và vận hành của xã hội công dân có tổ chức (organized civil society)

Pháp quy ền

Quản trị quốc gia tốt đòi hỏi phải có khuôn khổ pháp luật công

bằng và pháp luật phải được thực thi một cách không thiên vị (impartially) Bên cạnh đó, quản trị quốc gia tốt đòi hỏi các quyền con người, đặc biệt là quyền của các nhóm thiểu số, phải được bảo vệ một cách đầy đủ và hiệu quả Việc thực thi pháp luật một cách không thiên

vị đặt ra yêu cầu bảo đảm một nền tư pháp độc lập (independent judiciary) và một lực lượng cảnh sát liêm chính, vô tư (impartial and incorruptible police force)

Trang 13

hiểu, bao gồm trên các phương tiện truyền thông, để mọi người đều có

thể trực tiếp tiếp cận

S ự kịp thời

Quản trị quốc gia tốt đòi hỏi các thiết chế và tiến trình cung cấp dịch vụ công của Nhà nước phải phục vụ tất cả các chủ thể có liên quan trong một khung thời gian có thể chấp nhận được (within a reasonable timeframe)

để đạt được mục tiêu đó Nó cũng đòi hỏi các Nhà nước phải vạch ra

một chiến lược hay viễn cảnh rộng và dài hạn (a broad and long-term perspective) về những gì cần thiết cho sự phát triển ổn định về con

Trang 14

11

người và cách thức đạt được những mục tiêu của sự phát triển đó Điều này chỉ có thể đạt được khi có sự hiểu biết đầy đủ về bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của một cộng đồng hay quốc gia

Bình đẳng và không loại trừ chủ thể nào

Quản trị quốc gia tốt đòi hỏi sự bình đẳng và không loại trừ nhóm hay cá nhân nào trong xã hội khỏi quá trình phát triển Sự thịnh vượng

của một xã hội phụ thuộc vào việc bảo đảm tất cả các thành viên trong

xã hội cảm nhận rằng, họ là một thành tố trong đó chứ không bị gạt ra bên lề Điều này có nghĩa là tất cả các nhóm xã hội, đặc biệt là các nhóm

dễ bị tổn thương, đều phải có cơ hội được duy trì và nâng cao sự thịnh vượng của họ

Hi ệu lực và hiệu quả

Quản trị quốc gia tốt có nghĩa là các tiến trình và thể chế đem lại những kết quả đáp ứng các nhu cầu của xã hội trong khi chỉ tiêu tốn các nguồn lực ở mức tối thiểu Khái niệm hiệu quả trong quản trị quốc gia

tốt còn bao hàm việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững và bảo vệ môi trường

Trách nhi ệm giải trình

Trách nhiệm giải trình là một yêu cầu cốt yếu của quản trị quốc gia tốt Không chỉ các cơ quan nhà nước mà các tổ chức xã hội công dân và khối tư nhân cũng phải có trách nhiệm giải trình trước công chúng và trước các đối tác Phạm vi chủ thể và đối tượng hướng tới của trách nhiệm giải trình khác nhau giữa các quốc gia, phụ thuộc vào việc

Trang 15

12

các quyết định và hành động được tiến hành hay áp dụng ở trong hay ở ngoài cơ quan, tổ chức đó Trách nhiệm giải trình có mối quan hệ khăng khít với pháp quyền và sự minh bạch Không thể có trách nhiệm giải trình nếu không tôn trọng và thực hiện các nguyên tắc pháp quyền và

sự minh bạch

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy quản trị quốc gia tốt là một

t ập hợp những tiêu chí cho sự vận hành của xã hội nhằm hướng đến

m ục tiêu thúc đẩy, bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững của một

qu ốc gia Quản trị quốc gia tốt không phải là một mô hình tổ chức, hoạt động của một Nhà nước hay một hệ thống chính trị, mà là các nguyên

t ắc định hướng cho việc thiết kế và vận hành bộ máy nhà nước hoặc hệ

th ống chính trị đó (24)

Cũng từ những phân tích nêu trên, có thể thấy quản trị quốc gia tốt là khái niệm rất rộng lớn, bao trùm cả ba chiều cạnh chính, đó là(25):

V ề kinh tế: Thể hiện ở các nguyên tắc nhằm thúc đẩy tính công khai,

minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như tính hiệu

quả trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực công, về xã hội: Thể

hiện ở các nguyên tắc nhằm thúc đẩy sự bình đẳng và sự tham gia của

người dân vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội Về chính

tr ị: Thể hiện ở các nguyên tắc nhằm tăng cường pháp quyền và trách

nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước Do tính chất rộng lớn như vậy, việc bảo đảm tất cả các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt là không

dễ dàng Trong thực tế, hiện mới có ít quốc gia đạt được tất cả các tiêu chí của quản trị quốc gia tốt Tuy nhiên, đây là mục tiêu mà các quốc gia vẫn cần nỗ lực đạt được để phát triển bền vững

Trang 16

13

3 Qu ản trị quốc gia ở Việt Nam từ Đổi mới (1986) đến nay

Quản trị quốc gia, và cùng với nó là quản trị quốc gia tốt, là khái

niệm mới ở Việt Nam Trước đây, các khái niệm này hầu như không được nhắc đến Tư duy từ trước tới nay ở Việt Nam thiên về quản lý

nhà nước (state management) (tức nghiêng về government - cai trị, áp

đặt), chứ chưa phải theo hướng quản trị nhà nước/quản trị quốc gia

(governance)

Kể từ cuối thập niên 1990, khái niệm governance bắt đầu được đề

cập ở Việt Nam, chủ yếu qua các tài liệu của các cơ quan Liên hợp quốc như UNDP hay WB

Gần đây, khái niệm quản trị nhà nước/quản trị quốc gia tốt mới được nhắc đến nhiều trong giới học thuật, trong đó đặc biệt là ở Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội - nơi đầu tiên tổ chức nghiên cứu và giảng dạy, bao gồm cả một chương trình đào tạo thạc sĩ về quản trị nhà nước (kết hợp với vấn đề phòng, chống tham nhũng)

Mặc dù vậy, trong thực tế, kể từ Đổi mới (1986), do tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, quản lý nhà nước ở Việt Nam đã liên

tục có những thay đổi sâu rộng theo hướng quản trị Sự thay đổi này

diễn ra ở tất cả các phương diện, gắn với tất cả các nguyên tắc của quản

trị quốc gia tốt Có thể thấy điều đó qua những nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền; bảo đảm sự tham gia của người dân vào quản lý xã hội; bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các

cơ quan nhà nước; bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể trong xã hội

và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương; bảo đảm tính kịp thời, hiệu lực,

Trang 17

14

hiệu quả và sự đồng thuận xã hội trong việc hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước

Tuy nhiên, hiện ở nước ta vẫn còn những hạn chế nhất định trong

tất cả các mặt nêu trên Mức độ hạn chế tuy khác nhau trong từng lĩnh vực, nhưng xét tổng quát, có thể thấy rằng cần có biện pháp thúc đẩy thực hiện tất cả các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt ở Việt Nam Đây là một yêu cầu cấp thiết, bởi lẽ, quản trị quốc gia tốt là một “chuẩn

mực” quốc tế trong toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; hầu hết các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt đồng thời là những “luật chơi” trong

“sân chơi” quốc tế Vì thế, nếu không thúc đẩy quản trị quốc gia tốt thì không thể hội nhập quốc tế, hoặc không thể hưởng lợi đầy đủ từ quá trình hội nhập quốc tế Không chỉ vậy, các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt hiện cũng chính là nhu cầu, đòi hỏi nội tại của đất nước, về mặt chính trị, việc đề cao các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt giúp Nhà nước củng cố được tính chính danh của mình

Cùng với quá trình Đổi mới, hội nhập quốc tế, nhận thức và ý

thức của người dân Việt Nam hiện nay đã thay đổi rất nhiều so với trước đây Yêu cầu của người dân về dân chủ, pháp quyền, nhân quyền, bình đẳng xã hội, về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả

hoạt động của bộ máy nhà nước đã tăng lên và ngày càng cao hơn Trong khi đó, cùng với sự phát triển hết sức nhanh chóng của công nghệ thông tin, những cơ hội hay điều kiện cho sự tham gia của người dân vào quản trị quốc gia đã trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn bao giờ

hết Tất cả tạo ra áp lực rất lớn phải chuyển đổi mô hình từ quản lý nhà nước truyền thống sang quản trị theo những nguyên tắc của quản trị

Trang 18

15

quốc gia tốt đã nêu ở trên

4 Bước tiến mới về quản trị quốc gia trong các văn kiện Đại

h ội Đảng toàn quốc lần thứ XIII

Tuy chưa được đề cập một cách trực tiếp, song trong thực tế, nhiều nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt đã được đề cập trong một số văn kiện do Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành kể từ khi Đổi mới (1986), trong đó đáng kể nhất là các nguyên tắc pháp quyền; công khai, minh

bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy

nhà nước; sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước

Nhưng cũng cần thấy rằng, do thiếu nhận thức tổng quát về tầm quan trọng và nội hàm của quản trị quốc gia tốt, cho nên những nội dung có liên quan trong các văn kiện của Đảng từ Đổi mới đến nay còn tản mát, có phần thiếu nhất quán, chưa tạo ra những điểm nhấn cần thiết tương xứng với ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề

Trong các văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, ngoại

trừ Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII(26), thuật ngữ “quản trị” xuất hiện rất nhiều lần trong: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Báo cáo tổng kết

thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 -

2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021

- 2025; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Trang 19

16

Trong đó, khái niệm quản trị được sử dụng để chỉ các vấn đề đa dạng như quản trị doanh nghiệp, quản trị tổ chức (quản trị nội bộ), quản trị đại học, quản trị toàn cầu, quản trị quốc gia (bao gồm cả quản trị nhà nước), quản trị chính quyền địa phương, quản trị hiện đại

Xét riêng về quản trị quốc gia, khái niệm này được sử dụng trong các văn kiện sau đây:

- Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa), tiểu mục 2 (Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn(27)) nêu rõ: Xây d ựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy

ho ạch, kế hoạch nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia Xây

dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; hỗ

trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới Tập trung sửa đổi những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở phát triển kinh tế Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, ủy quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành

- Trong Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội 10 năm 2011 - 2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội 10 năm 2021 - 2030; tại Mục IV (Các đột phá chiến lược), tiểu

mục 1 nêu rõ: Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, nhất là

Trang 20

và sau 5G, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối (blockchain), in 3D, internet kết nối vạn vật, an ninh mạng, năng lượng sạch, công nghệ môi trường để chuyển đổi, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế(29)

- Trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021- 2025, tại Mục II (Các hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm), tiểu mục 3 (Bài học kinh nghiệm) nêu rõ: Ba là, thể chế pháp luật phải được xây dựng cơ bản đầy

đủ, đồng bộ với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; cải cách bộ máy chính quyền các cấp, xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động là nền tảng Coi

trọng tính cân đối, hiệu quả trong tất cả các khâu huy động, phân bổ, sử

dụng các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Phải coi trọng đổi

Trang 21

- Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của

Đảng, tại mục “Các đột phá chiến lược”, nêu rõ đột phá thứ nhất là hoàn thi ện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh

t ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả (32)

Những ghi nhận mang tính định hướng trên đây bước đầu cho thấy

có một sự chuyển biến lớn trong tư duy của Đảng về cơ chế vận hành

và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, cụ thể là từ quản lý nhà nước sang

quản trị quốc gia, hay từ government sang governance Đây có thể xem

là một sự phát triển mới về mặt lý luận của Đảng Tuy nhiên, như đã nêu ở các phần trên, nhiều nội dung của quản trị quốc gia tốt đã được thúc đẩy ở Việt Nam kể từ Đổi mới Vì vậy, đây không phải là vấn đề

mới trong thực tế Nói cách khác, sự phát triển về lý luận của Đảng trong vấn đề này có nguồn gốc từ thực tế trong nước Sự phát triển đó cũng phù hợp với xu hướng chung, mang tính quy luật trên thế giới, gắn liền với quá trình dân chủ hóa, toàn cầu hóa, và sự phát triển của khoa

học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ số trong thế kỷ XIX

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, cách tiếp cận về quản trị quốc gia

Trang 22

19

trong các văn kiện nêu trên mới chỉ giới hạn ở một phần ý nghĩa của

vấn đề Cụ thể, trong văn kiện quan trọng nhất (Báo cáo chính trị), quản

trị quốc gia mới chỉ được đặt trong mối quan hệ của thể chế kinh tế như

là một điều kiện hay yêu cầu của việc “hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn” Cách đặt vấn đề như vậy vô hình trung đã giới hạn quản trị

quốc gia trong quản trị về kinh tế, trong khi không thể tách rời quản trị

quốc gia về kinh tế với quản trị quốc gia trên các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội Trong thực tế, quản trị quốc gia tốt trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội chính là căn cốt cho sự phát triển của các lĩnh vực khác, kể cả thể chế kinh tế thị trường

Trong các Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, vấn đề

quản trị quốc gia được tiếp cận rộng hơn, không chỉ gắn với lĩnh vực kinh tế, mà bao trùm cả các vấn đề xã hội Tuy nhiên, các văn kiện này

có xu hướng chỉ nhấn mạnh các yêu cầu về hiệu lực, hiệu quả của quản

trị quốc gia tốt, còn các yêu cầu khác chưa đề cập một cách đúng mức Việc một số yêu cầu có thể bị coi nhẹ sẽ khó có thể tạo ra và duy trì một nền quản trị quốc gia tốt một cách toàn diện và bền vững

Ngoài ra, trong cả ba văn kiện nêu trên, thuật ngữ “quản trị quốc gia” chưa được sử dụng một cách nhất quán Ở một số mục, các Báo cáo vẫn dùng một số thuật ngữ khác như “quản lý nhà nước”, “quản trị

Trang 23

20

nhà nước” hay “quản trị”, “quản trị doanh nghiệp” cho những vấn đề

giống nhau Điều này dẫn đến khó khăn trong việc hiểu và cụ thể hóa

tư duy mới của Đảng về quản trị quốc gia trong thực tế

5 M ột số yêu cầu đối với hệ thống pháp luật nhằm thể chế hóa

qu ản trị quốc gia theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII

Từ những phân tích ở phần 4, có thể thấy rằng, để phát huy tinh

thần đề cao quản trị quốc gia của Đại hội XIII vào cuộc sống, cần có sự

thống nhất về xu hướng chuyển dịch từ tư duy quản lý sang quản trị Cụ

thể như sau:

Th ứ nhất, như đã nêu, quản trị quốc gia tốt hiện là một yêu cầu

xuất phát cả từ trong và ngoài nước Đây là một điều kiện không thể thiếu, có tính chất sống còn với sự phát triển của đất nước trong bối cảnh mới hiện nay

Th ứ hai, quản trị quốc gia tốt phải là một trong những nội dung

độc lập, có tính chất nền tảng, chi phối các vấn đề chính trị, kinh tế, xã

hội khác Quản trị quốc gia tốt đồng thời là một nguyên tắc nền tảng cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị

Bên cạnh đó, từ những phân tích ở các mục trên, có thể thấy rằng,

c ần có những điều chỉnh trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước

ta để phản ánh đầy đủ các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt Cụ thể

như sau:

- Về nguyên tắc pháp quyền: Cần chuyển từ quan điểm hẹp Nhà nước pháp quyền sang pháp quyền, thượng tôn pháp luật (rule of law)

Trang 24

21

như một tôn chỉ, nền tảng vận hành của toàn xã hội chứ không chỉ bó

hẹp trong khuôn khổ Nhà nước, hay trong mối quan hệ giữa Nhà nước

và công dân Bản thân Nhà nước pháp quyền cũng phải được củng cố

bằng các cơ chế hữu hiệu và hiệu quả thay vì những quy định pháp lý mang tính hình thức Trong đó, có 02 yếu tố cơ bản, thậm chí là quan trọng nhất của pháp quyền là sự độc lập của Tòa án và chất lượng của pháp luật với tư cách là nền tảng của pháp quyền về mặt nội dung (rule

of law substantive)

- Về trách nhiệm giải trình: Tại nước ta, trách nhiệm giải trình

là vấn đề còn khá mới mẻ trên phương diện lý luận và thực tiễn Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đánh giá:

“Trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền chưa được quy định

rõ ràng ”(33) Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tiếp tục khẳng định: Việc công khai, minh

bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế; và xác định nhiệm vụ,

giải pháp: Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình(34) Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm giải trình ở Việt Nam chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, nhiều vấn đề chưa được làm rõ, còn có những tranh luận khác nhau, chưa luận giải được thực tiễn phong phú của đời sống xã

hội Những hạn chế trong nghiên cứu lý luận đã làm nhận thức thiếu đầy đủ về trách nhiệm giải trình, từ đó làm cho hiệu quả trong thực

Trang 25

22

hiện trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp chưa cao Thực

tế này đòi hỏi phải thúc đẩy nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm giải trình trong quản trị nhà nước, giúp xác lập các

cơ sở khoa học, định hướng cho việc hoàn thiện trách nhiệm giải trình trên nhiều phương diện, nhất là thực hiện hiệu quả pháp luật về trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền trên thực tế

- Về sự tham gia của công chúng vào quản trị nhà nước: Do nhận

thức nên vai trò, vị trí của các tổ chức xã hội còn ít nhiều bị xem nhẹ,

thậm chí bị coi là nhạy cảm Điều này làm thiếu đi một thành tố trụ cột

của quản trị tốt, nhất là trong bối cảnh hiện nay, các quốc gia phải đối

mặt với nhiều rủi ro có tính truyền thống (dịch bệnh, thiên tai ), cũng như phi truyền thống (ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia) Trong bối cảnh phức tạp của xã hội hậu công nghiệp, cần phải có sự chung tay của nhiều chủ thể khác nhau, đặc biệt là cần huy động sự tham gia tích cực

của các chủ thể phi nhà nước Để thực hiện được điều này, cần hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của hội theo hướng giảm bớt

sự can thiệp từ cơ quan công quyền, tôn trọng và bảo đảm tính tự quản

của các tổ chức xã hội

- Phòng, chống tham nhũng (PCTN): Quản trị tốt không thể tồn tại nếu PCTN yếu Quản trị tốt và PCTN như 2 mặt của một vấn đề, sẽ không thực hiện được quản trị tốt nếu PCTN không hiệu quả, và ngược lại, chỉ có thể PCTN hiệu quả nếu thực hiện tốt các thành tố còn lại quản

trị tốt Dù hệ thống pháp luật về PCTN của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn quốc tế, nhưng việc thực hiện

Trang 26

23

pháp luật về PCTN trên thực tế gặp rất nhiều vướng mắc, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau

- Hiệu lực và hiệu quả: Để đáp ứng tiêu chuẩn này của quản trị

quốc gia tốt, cần sử dụng các tiêu chí định lượng của kinh tế học, quản trị học vào trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt là trong việc cung cấp các dịch vụ công Việc cung cấp dịch vụ công không chỉ dựa trên tiêu chí “bảo đảm lợi ích chung”, mà còn cần phải đáp ứng tiêu chí

hiệu quả

K ết luận

Việc ghi nhận một số thành tố của quản trị tốt trong các văn kiện

của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là một bước tiến lớn trong nhận

thức của Đảng và Nhà nước về quản trị quốc gia, đáp ứng được nhu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như các đòi hỏi tự thân của xã hội Việt Nam trước những thách thức trong thế kỷ XXI Tuy nhiên, quản trị

quốc gia vẫn còn là những vấn đề còn khá mới mẻ tại Việt Nam, đòi hỏi

sự nghiên cứu thấu đáo và thảo luận nghiêm túc từ giới hàn lâm cũng như những nhà hoạch định chính sách, nhằm thúc đẩy, đưa các nguyên

tắc của quản trị quốc gia tốt lan tỏa vào cuộc sống, nhằm “xây dựng

một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu”(35) ❑

—————————

Bài viết là một phần kết quả của Đề tài khoa học cấp Bộ “Quản trị tốt

nhằm phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” do Viện Chiến lược

và Khoa học Thanh tra chủ trì thực hiện trong các năm 2021 - 2022

Trang 27

24

1 Daniel Kaufmann, Aart Kraay, Massimo Mastruzzi The Worldwide

Governance Indicators Methodology and Analytical Issues, The World

Bank Development Research Group Macroeconomics and Growth Team, September 2010 Xem: https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id

=1682130, truy cập ngày 20/4/2021

2 World Bank (2006), Making PRSP Inclusive, xem: https://documents1 worldbank.org/curated/en/591511520425305241/pdf/123975-WP-ENGLI- SH-Making-PRSP-inclusive-PUBLIC.pdf, truy cập ngày 08/7/2021

3 UNDP (1997), Governance & Sustainable Human Development, A

UNDP Policy Document, https://digitallibrary.un.org/record/3831662, truy

cập ngày 20/5/2021

4 ADB (2005), Governance: Sound Development Management Governance, https://www.adb.org/sites/default/files/institutional-document /32027/govpolicy.pdf, truy cập ngày 20/5/2021

5 Quản trị doanh nghiệp đề cập đến cách thức tổ chức, quản lý, thực hiện các hoạt động trong nội bộ của một doanh nghiệp Về “cooperate

governance”, ví dụ, xem OECD (2004), Principles of Corporate

Governance, http://www.oecd.org/corporate/ca/corporategovernance- principles/31557724.pdf, truy cập ngày 20/4/2021

6 Quản trị quốc tế đề cập đến hoạt động của các tổ chức quốc tế và các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, xung đột, tranh chấp lãnh thổ, chống khủng bố Về “international governance”, ví dụ, xem trang web của Chatham House, tại https://www.chathamhouse.org/research/topics/intemational-law-and-

govemance/international-governance , truy cập ngày 20/4/2021

7 Ví dụ, về quản trị ở cấp địa phương, xem mục Local Governance trên trang web của UNDP http://www.undp.org/content/undp/en/ home/ ourwork/democraticgovernance/focus_areas/focus_local_govemance.html

8 Corina Adriana Dumitrescu, The Concept Of Good Governance In Aristotle’s View, tại http://cogito.ucdc.ro/nr_3_en/l%2020THE

%20C0NCEPT%200F%20GOOD%20GOVERNANCE% 20IN% 20_eng_

Trang 28

25

.pdf, truy cập ngày 20/4/2021

9 Về NPM, xem Ewan Ferlie, The New Public Management and Public

Management Studies, Exford University Press Published online: 29 March

2017, https://doi.org/10.1093/acrefore/9780190224851.013.129, truy cập ngày 20/4/2021

10 Về vấn đề này, xem Oehler-Sincai, Iulia Monica, Strengths And

Weaknesses Of The New Public Management (NPM)- Cross-Sectional And Longitudinal Analysis, Paper for the Conference organized by the SOG and

the QoG Institute, University of Gothenburg - New Public Management and the Quality of Government, November 13-15, 2008

Tại https://mpra.ub.uni-muenchen.de/11767/l/MPRA_paper_l1767.pdf, truy cập ngày 20/4/2021

11 Về vấn đề này xem Stephen P Osborne, The New Public Governance?,

Public Management Review, Volume 8, 2006 - Issue 3, Pages 377-387/ Published online: 18 Feb 2007 Tại https://www.tandfonline.com/doi/ abs/ 10.1080/14719030600853022?journalCode=rpxm20, truy cập ngày 20/4/2021

12 Xem World Bank (1992), Governance and Development, World Bank,Washington, DC; UNDP (1997) Governance for Sustainable Human

Development, UNDP, New York; Commonwealth Foundation (1999), Citizens and Governance: Civil Society in the New Millennium,

Commonwealth Foundation, London

13 Arthur Benz, Yannis Papadopoulos, (eds, 2006), Governance and

Democracy: Comparing National, European and International Experiences,

Nxb Routledge, London, tr.273-292

14 Xem, Seth Lartey and Deepti Sastry, Governance in the Commonwealth:

Current Debates, trong Governance in the Commonwealth: Current Debates

(Seth Lartey and Deepti Sastry edited), © 2010 Commonwealth Foundation, http://www.commonwealthfounda-

tion.com/sites/cwf/files/downloads/Governance_in_the_Commonwealth_current_debates.pdf, tr.10, truy cập ngày 20/4/2021

Trang 29

26

15 United Nations Economic and Social Commission for Asia and the

Pacific, What is Good Governance? Tại http://www.unescap.org/sites/ default/files/good-governance.pdf, truy cập ngày 20/4/2021

16 Nguyễn Văn Quân, Vai trò của tổ chức xã hội trong quản trị nhà nước

hi ện nay, Tạp chí Luật học, số 7/2018, tr.55

17 Chevallier, Jacques, La gouvernance, un nouveau paradigme étatique?,

Revue française d’administrationpublique, vol n°105-106, no 1-2, 2003, tr

203-217

18 Thu H ằng, Trần Thường, Thủ tướng: Thể chế tiến bộ sẽ mở đường cho

đất nước phát triển, xem: tuong-the-che-tien-bo-se-mo-duong-cho-dat-nuoc-phat-trien-687546.html,truy cập ngày 8/7/2021

https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/thu-19 Xem quyển 3 và 6 của tác phẩm Chính trị luận, bản tiếng Việt, tại http://icevn.org/vi/node/366, truy cập ngày 20/5/2021

20 Cũng xem Corina Adriana Dumitrescu, tlđd

21 Xem Good Governance in Multiethnic Communities, Conditions,

Instruments, Best Practices, Ways to Achieve and Measure Good Governance at the Local Level, A joint publication of the Ethnocultural

Diversity Resource Center and the King Baudouin Foundation, 2007 Xem: http://www.annalindhfoundation.org/sites/annalindh.org/files/documents/publication/pub_1660_good20governance_multiethnic_com_light.pdf, tr.13, truy cập ngày 20/4/2021 Cũng xem Miriam Wyman, Thinking about

Governance: A Draft Discussion Paper, prepared for The Commonwealth

Foundation Citizens and Governance Programme, tại http://www.education.gov.mt/youth/pdf_cyf/CYF_Themes_Concept_Papers/cg_governance_paper.pdf, truy cập ngày 20/4/2021

22 M ột số tài liệu gọi là các nguyên tắc (principle) của quản trị tốt

23 United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific, What is Good Governance? và Good Governance in Multiethnic

Communities, Conditions, Instruments, Best Practices, Ways to Achieve and Measure Good Governance at the Local Level, tl đd

Trang 30

27

24 Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Anh, Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Minh

Tuấn (đồng chủ biên, 2017), Quản trị tốt: Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính

trị Quốc gia, tr.24

25 Xem Good Governance in Multiethnic Communities, Conditions,

Instruments, Best Practices, Ways to Achieve and Measure Good Governance at the Local Level , tlđd, tr.13

26 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2021; Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 2, Nxb Chính

trị quốc gia Sự thật, 2021

27 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử

XIII, T ập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tr.132

28 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, T ập 1, sđd, tr.220

29 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, T ập 1, sđd, tr.227

30 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, T ập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, tr.81

31 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, T ập 2, sđd, tr 131-132

32 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, T ập 2, sđd, tr.337

33 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội

Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tr.243

34 Nghị quyết số 18-NQ/TW “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ

ch ức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”

35 Đảng Cộng sản Việt Nam (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

l ần thứ XIII, Tập 1, sđd, tr.205

Ngu ồn: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật - 2021 - số 9(401) - tr.3-14

Trang 31

28

 PGS, TS LÊ TH Ị THANH HÀ

H ọc viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm t ắt: Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào thì quản lý phát tri ển xã hội cũng có vai trò quyết định đối với tiến bộ xã hội Đặc

bi ệt, hiện nay Việt Nam đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và hướng tới mục tiêu vì sự phát triển bền vững thì vai trò chỉ đạo, định hướng của Đảng trong quản lý phát triển xã hội càng có ý nghĩa quyết định Bài viết khái quát chiến lược quản lý phát triển

xã h ội ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng trong

nh ững năm tới

T ừ khóa: Quản lý phát triển xã hội; Đại hội XIII của Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam

heo C.Mác: “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội

biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các

cá nhân đối với nhau”(1) Điều này cho thấy, xã hội là tổng hòa

những mối liên hệ đa dạng, đan xen, nhất là mối liên hệ về lợi ích giữa các cá nhân, nhóm người, cộng đồng Có thể thấy, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại đều có những hình thức quản lý xã hội khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị của xã hội đó Trong chủ nghĩa tư bản, theo Ph.Ăngghen: “ khi đã nắm được chính quyền

sẽ củng cố địa vị của nó trên lưng các giai cấp lao động và biến việc

T

Trang 32

29

quản lý xã hội thành việc bóc lột quần chúng”(2) Vì vậy, cần xây dựng

một xã hội mà ở đó, quản lý phát triển xã hội phải đạt tới: “ sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của

tất cả mọi người”(3)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách

có liên quan đến quyền lợi thiết yếu nhất của con người, đó là: Xóa bỏ

nạn đói, nạn dốt, các khoản thuế khóa vô lý, xóa bỏ chế độ đầu độc thể

chất con người bằng thuốc phiện và rượu cồn, tổ chức tổng tuyển cử,

thực hành tự do tôn giáo - tín ngưỡng Người khẳng định: “Mục đích

của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự

do, giàu mạnh Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng

một xã hội sung sướng, vẻ vang”(4) Quản lý phát triển xã hội theo quan

điểm của Hồ Chí Minh là Nhân dân được hạnh phúc trên cơ sở xã hội

độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh Người chỉ rõ: “ chính sách của

Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm

là Đảng và Chính phủ có lỗi”(5) Do đó, công tác quản lý phát triển xã

hội của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm lo đến đời sống của Nhân dân, vì hạnh phúc của Nhân dân

Thực tế cho thấy, phát triển xã hội được coi là phát triển lĩnh vực

xã hội trong một tổng thể kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Phát triển

xã hội xét đến cùng là phát triển con người, xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa các giai tầng xã hội, bảo đảm an sinh và an toàn xã hội(6) Khái

niệm “quản lý phát triển xã hội” lần đầu tiên được Đảng ta đưa vào Văn

Trang 33

30

kiện Đại hội XII, thể hiện cách tiếp cận mới trong quản trị phát triển

quốc gia Tại Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; có các giải pháp quản

lý hiệu quả để giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn

có thể dẫn tới xung đột xã hội ”(7)

Theo đó, quản lý phát triển xã hội là sự tác động có định hướng,

có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể (con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội ) nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững Quản

lý phát triển xã hội là một cấu trúc đa dạng, ở chiều cạnh này có khi bị điều chỉnh bởi thể chế chính thức, còn ở chiều cạnh khác lại chịu điều

chỉnh bởi các thể chế phi chính thức; có chiều cạnh mang nội dung kinh tế, chịu điều chỉnh bởi quan hệ thị trường không đầy đủ, nhưng nội dung khác lại mang tính phi kinh tế chịu điều chỉnh bởi giá trị văn hóa, đạo đức(8)

Thực tiễn ở Việt Nam sau 35 năm đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

đã minh chứng tính đúng đắn trong quyết định của Đảng và Nhà nước

Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở xã hội được quan tâm; đã hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, trong đó có nhiều mục tiêu và giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước thời hạn, được đánh giá là điểm sáng; đang tích cực triển khai thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030”(9) Kết

quả này cho thấy, những tín hiệu tích cực của công tác quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập

Trang 34

31

ngày càng sâu rộng

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời

gian qua cũng tồn tại một số hạn chế, nếu không giải quyết thấu đáo sẽ

dẫn đến những hệ lụy khó lường Về mặt nguyên lý, Việt Nam đang xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, chính sách của công cuộc đổi mới Thực tế cho thấy, giữa phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế luôn có những khoảng cách nhất định, tình trạng bất bình đẳng xã hội đang có xu hướng ngày càng gia tăng Báo cáo của Oxfam năm 2017 cho thấy, năm 2014 Việt Nam có 210 người siêu giàu (tài sản ròng trên 30 triệu đô la Mỹ), chiếm 12% GDP cả nước và con

số này sẽ tăng lên 403 vào năm 2025 Theo đó, nhóm kinh doanh và quản lý có thu nhập trung bình gấp 17 lần những người làm công ăn lương và gấp 113 lần người nghèo Người giàu nhất Việt Nam có thu nhập một ngày bằng 10 năm thu nhập của người nghèo nhất, và với tài

sản này, có thể đưa toàn bộ 13 triệu người nghèo thoát nghèo ngay tức

khắc(10) Bên cạnh đó, quyền lợi người lao động ở một số nơi chưa được

bảo vệ; tình trạng chạy theo tăng trưởng kinh tế mà bất chấp ô nhiễm, suy thoái môi trường, thiếu quan tâm thỏa đáng tới phát triển bền vững

vẫn còn diễn ra

Một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề trên là do còn tồn tại một số hạn chế nhất định trong công tác quản lý phát triển xã hội:

“Quản lý phát triển xã hội và giải quyết một số vấn đề xã hội chưa được

quan tâm đúng mức, chưa được kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa; [ ] Giảm nghèo chưa bền vững, chưa

Trang 35

32

có giải pháp hữu hiệu để xử lý vấn đề phân hóa giàu - nghèo, gia tăng

bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột

xã hội [ ] Chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, phúc lợi xã hội có mặt còn hạn chế”(11) Trước những bất cập đó, Đảng ta đã chỉ ra mục tiêu của quản lý phát triển xã hội, trong đó nhấn mạnh: “QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG, BẢO ĐẢM

TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI”(12) Để đạt được mục tiêu trên, cần

thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ sau:

M ột là, phát triển hài hòa cơ cấu xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội

Xã hội là một hệ thống đa cơ cấu về: Giai tầng, dân cư, lao động, dân số, dân tộc, tôn giáo luôn trong quá trình vận động, biến đổi Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam hiện nay, định hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, thì cơ cấu xã hội càng biến đổi mạnh mẽ Tại Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “…dự báo đúng cơ cấu biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây

dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý

kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật

tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”(13) Đây được coi là yêu cầu tất yếu trong quản lý phát triển

xã hội nhằm hạn chế bất bình đẳng xã hội; kiểm soát phân tầng xã hội; bảo đảm quyền lợi cho những người yếu thế, dễ bị tổn thương; tránh những bất ổn, xung đột trong xã hội, giữ vững mối quan hệ đổi mới, ổn định và phát triển; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Do đó, việc dự báo chính xác những biến đổi của cơ cấu xã hội có ý nghĩa vô cùng

Trang 36

33

quan trọng, tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và thực hành quản lý xã hội Đồng thời, phát triển hài hòa cơ cấu xã hội cũng như kiểm soát biến đổi xã hội sẽ là cơ sở thực tiễn nhằm phát triển xã

hội bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thực tế cho thấy, phân tầng xã hội trong điều kiện cơ chế thị trường là điều tất yếu bởi không một quốc gia nào có thể bảo đảm sự đồng đều về thu nhập cho tất cả mọi người Tuy nhiên, để kiểm soát tốt phân tầng xã hội, Chính phủ cần xây dựng hệ thống chính sách phù hợp,

xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội làm cơ

sở để phát triển bền vững Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp, chính đáng của nhân dân”(14) Có thể thấy, giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội sẽ tạo động lực để phát triển cá nhân, phát triển xã hội; giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội cần thực hiện nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh

tế, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản

xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Đồng thời, “Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc

độ tăng năng suất lao động”(15) Do đó, cần thiết lập cơ chế, chính sách

để người lao động tự tạo ra việc làm; khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo

Hai là, b ảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an toàn xã hội

V ề bảo đảm an sinh xã hội: Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định:

“Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân

Trang 37

34

với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm sự trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế”(16) Đây được coi là công cụ quan trọng trong thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay Sự vận hành của hệ thống an sinh xã hội nhằm thực hiện 2 chức năng chính: Phân phối lại thu nhập (giảm thiểu bất bình đẳng trong thu nhập của xã hội) và quản lý các rủi ro đối với các thành viên trong xã hội (hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương, nhóm thiệt thòi)

Thực tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế nhanh trong bối cảnh hội nhập

quốc tế ngày càng sâu, rộng đi kèm với bất bình đẳng về thu nhập đã, đang và sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro với nhóm người nghèo, dễ bị

tổn thương Điều này đòi hỏi quá trình quản lý phát triển xã hội phải xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, góp phần giảm thiểu rủi ro, bất bình đẳng, mâu thuẫn và xung đột xã hội

V ề bảo đảm an ninh con người: Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam

đang xây dựng hướng tới mục tiêu con người được giải phóng khỏi áp

bức bóc lột, bất công, người dân được ấm no, tự do, hạnh phúc Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất trong quản lý phát triển xã hội là nhằm bảo đảm an ninh con người trước các mối đe dọa của thiên tai, dịch bệnh Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang bùng phát như hiện nay thì vấn đề an ninh con người càng cần được quan tâm đặt lên hàng đầu Theo số liệu thống kê, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, năm 2020 Việt Nam đã có 1,2 triệu người thất nghiệp; 4,5 triệu người bị giảm giờ làm; 12,7 triệu người tạm ngừng, nghỉ kinh doanh; 21,9 triệu người

giảm thu nhập Theo đó, các ngành chịu ảnh hưởng nặng nề là: Vận tải, kho bãi 80%; dịch vụ lưu trú 82%; nghệ thuật, giải trí 89% Tỷ lệ thất

Trang 38

35

nghiệp tăng 2,5% năm 2020, cao nhất trong 10 năm qua(17) Thực tế cho

thấy, trước những tổn thất do dịch Covid-19 gây ra, Đảng và Nhà nước

ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương Những kết quả đạt được trong cuộc chiến chống lại đại dịch thời gian qua là minh chứng cho nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong chiến lược bảo đảm an ninh con người cho người dân Tuy nhiên, để đạt được kết quả cao hơn theo hướng bền vững, trong thời gian tới, công tác quản lý phát triển xã hội cần tiếp tục xây dựng hệ

thống chính sách đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực (an ninh kinh tế; an ninh lương thực; an ninh sức khỏe; an ninh môi trường; an ninh cá nhân)

V ề bảo đảm an toàn xã hội: Quản lý phát triển xã hội với mục tiêu

bảo đảm an ninh xã hội chính là thước đo quan trọng hàng đầu, phản ánh chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân Thực tế cho thấy, dù người dân có thu nhập tốt, mức sống cao nhưng nếu xã hội bất

ổn về chính trị, luôn bị đe dọa bởi khủng bố, chiến tranh, thiên tai, dịch

bệnh sẽ gây tâm lý hoang mang, lo sợ Do đó, quản lý phát triển xã hội

sẽ không đạt được mục tiêu bền vững và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã

hội Chẳng hạn, đại dịch Covid-19 đã làm cho nhiều người dân bị tổn

hại về sức khỏe thể chất và tinh thần với nhiều người bị mất việc làm, giảm thu nhập Vì vậy, ngay từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, Đảng

và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, đối phó với dịch bệnh(18) Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhận định, trong thời gian tới để giữ

vững an toàn xã hội cần: “Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống

dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự

Trang 39

36

phòng”(19) Đồng thời, “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an

sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”(20)

Ba là, th ực hiện chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng,

t ừng lĩnh vực nhằm giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích

Có thể thấy, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của đời sống con người nên việc thực hiện chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng,

từng lĩnh vực, giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích sẽ tạo tiền đề để đất nước phát triển bền vững

V ề chính sách dân số: Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Xây

dựng và thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, tận dụng

và phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng, đồng thời chuẩn bị điều kiện thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm mức tăng dân số hợp lý và cân

bằng giới tính khi sinh”(21) Bên cạnh đó, yêu cầu phát triển kinh tế - xã

hội đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó, mục tiêu ưu tiên của chính sách dân số chuyển từ kiểm soát quy mô dân số sang nâng cao

chất lượng dân số và phát triển dân số được coi là bước tiến mới trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về chính sách dân số

Việt Nam hiện đang tron/8g giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”, nếu không tận dụng thì cơ hội “vàng” sẽ bị bỏ qua Theo dự báo, xu hướng già hóa dân số nhanh cũng sẽ tạo không ít thách thức trong chiến lược phát triển dân số ở nước ta Thực tế cho thấy, mức sinh không đồng đều

Trang 40

37

theo từng vùng và vấn đề mất cân bằng giới tính có xu hướng ngày càng gia tăng (năm 2010 là 111,2 bé trai/100 bé gái; năm 2015 là 112,8 bé trai/100 bé gái và năm 2019 là 111,5 bé trai/100 bé gái(22)) Vì vậy, cần

có chính sách can thiệp từ các cấp chính quyền nhằm đảm bảo mức sinh thay thế như hiện nay, từng bước hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

V ề chính sách lao động việc làm: Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp của

lực lượng trong độ tuổi lao động ở nước ta duy trì ở mức thấp và giảm

dần (trừ năm 2020 tỷ lệ thất nghiệp tăng do đại dịch Covid-19): “Tỷ lệ lao động qua đào tạo được cải thiện, ước đạt 64,5% năm 2020, trong đó

có bằng cấp, chứng chỉ đạt 24,5%, tăng so với năm 2015 (19,9%)”(23) Tuy nhiên, phần lớn lao động Việt Nam còn yếu về chuyên môn, thiếu

về kỹ năng, thể lực và tác phong lao động công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định, trong thời gian tới cần: “Phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền

vững”(24) Thực hiện tốt chính sách việc làm được coi là yếu tố thúc đẩy

sự phát triển bền vững, do đó, trong thời gian tới cần tập trung vào 3 nội dung: Kiện toàn khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động; chú trọng hỗ trợ lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, các khu công nghiệp và lao động vùng biên; hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, phụ nữ nghèo nông thôn

V ề chính sách đối với người có công: Nhiều năm qua, chính sách

với người có công của Đảng và Nhà nước ta đã từng bước được hoàn thiện Chế độ, chính sách hỗ trợ đối với người có công đã được triển khai thực hiện đồng bộ, như: Chính sách bảo hiểm y tế; hỗ trợ về nhà

Ngày đăng: 13/12/2022, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w