LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 Ở VIỆT NAM HIỆN NAY MẠCH QUANG THẮNG Đào tạo nhân tài trong thời kỳ mới 195 CAO VĂN SÂM Đào tạo nhân lực cho cách mạng PH
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO
PGS,TS Phạm Minh Sơn
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
BAN BIÊN TẬP
TS Nguyễn Thanh Thảo
ThS Lê Thị Phương Hảo
ThS Vũ Thị Hồng Luyến
ThS Phạm Thị Thúy Hằng
ThS Trương Thị Mỹ Linh
CN N ghiêm Thị Thu Trang
CN Nguyễn Thị Kiều Trinh
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 024 38340041
PHẦN I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
LƯƠNG ĐÌNH HẢI Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng 3
THÂN THỊ HẠNH Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tinh thần Đại hội
LÊ THỊ VÂN HẠNH Vận dụng triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào quản lý nguồn nhân lực 65
NGÔ ĐÌNH XÂY Đào tạo nguồn nhân lực lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 79
NHÂM CAO THÀNH Đột phá chiến lược về phát triển
Trang 3LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MẠCH QUANG THẮNG
Đào tạo nhân tài trong thời kỳ mới 195
CAO VĂN SÂM Đào tạo nhân lực cho cách mạng
PHẠM THỊ KHANH Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 212
PHẠM THỊ LƯƠNG DIỆU – PHẠM NGUYÊN PHƯƠNG Tác động của cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - thực trạng và giải pháp 231
NGUYỄN NGỌC KHÁNH Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thực hiện chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm
TRẦN ĐÌNH THẢO Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công
NGUYỄN MINH HẢI Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Việt
CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI
CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG
NGHIỆP 4.0 Ở MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Mô hình đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực khu vực công tại một số
quốc gia và những gợi mở đối với
TRẦN MINH TUẤN – NGUYỄN XUÂN DŨNG
Kinh nghiệm của thế giới về phát
triển nguồn nhân lực trong lĩnh
vực nghiên cứu và phát triển 109
NGUYỄN AN NINH
Phát triển nhân lực ở các nước
đang tiến vào Cách mạng công
TRẦN THỊ THANH THỦY
Kinh nghiệm đào tạo lãnh đạo
chiến lược của Xin-ga-po 149
NGUYỄN THỊ GIÁNG HƯƠNG – ĐÀO THỊ KIM LÂN
Chính sách thu hút nguồn nhân
lực cho phát triển kinh tế - xã hội
vùng dân tộc thiểu số của
Ca-Na-Đa và tham chiếu cho Việt Nam 158
NGUYỄN BÁ CHIẾN – ĐOÀN VĂN TÌNH
Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực cho nền công vụ - từ kinh
nghiệm quốc tế đến giải pháp cho
TRẦN VĂN HÙNG
So sánh chất lượng nguồn nhân lực Việt
Trang 4L ỜI GIỚI THIỆU
Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân;
đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; tạo ra những thay đổi lớn trên thị trường lao động Vì vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay đang là vấn đề sống còn của một đất nước, quyết định sự phát triển của xã hội Đầu tư cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là những khoản đầu tư chiến lược chủ chốt, và mang tính đột phá để có thể đáp ứng được những yêu cầu của thời đại
Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, quyết sách, chiến lược, tư duy, tầm nhìn mới và nhiều giải pháp cụ thể trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ mới
Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, song so với yêu cầu đặt ra, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế
Để góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về đào
Trang 5tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước trên thế giới trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, từ đó đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở
Việt Nam hiện nay, chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn một số bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu uy tín đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, biên soạn ấn phẩm Thông tin chuyên đề số 05/2022 với chủ đề “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
b ối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”
Kết cấu thông tin chuyên đề gồm ba phần:
Ph ần I: Lý luận chung về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
ch ất lượng cao
Ph ần II: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
b ối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở một số nước trên thế giới
Ph ần III: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong b ối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam hiện nay
Trong quá trình biên soạn ấn phẩm, chúng tôi có sử dụng một số tài liệu từ các tạp chí và internet mà chưa có điều kiện xin phép trực tiếp tác giả Ấn phẩm chỉ sử dụng với mục đích làm tài liệu tham khảo nội bộ, không vì mục đích kinh doanh Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tác giả Mặc dù Ban Biên tập đã hết sức cố gắng, song trong quá trình biên tập, không tránh khỏi khiếm khuyết Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
Trân trọng cảm ơn!
BAN BIÊN T ẬP
Trang 6PH ẦN I
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
Vi ện Nghiên cứu Con người,
Vi ện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Nh ận ngày 5 tháng 5 năm 2021 Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2021
Tóm tắt: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phát triển
ngu ồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Đại hội đánh giá: Nhân lực có những bước phát triển nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội Bối cảnh mới đòi hỏi nâng cao
ch ất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài N ội dung của phát triển, nâng cao, tạo đột phá trong phát tri ển nguồn nhân lực được Đại hội XIII cụ thể hóa vào các chương trình, k ế hoạch, mục tiêu phát triển của nhiều lĩnh vực, ngành, thành
ph ần kinh tế Đại hội đã thể hiện tư tưởng gắn kết rõ ràng hơn giữa phát tri ển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với các nội dung, các
Trang 7v ấn đề, các chủ trương khác Nội dung quan trọng của đột phá về ngu ồn nhân lực được xác định là: Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt, đẩy mạnh phát tri ển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu c ầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc
t ế Phát triển, đột phá về nguồn nhân lực không chỉ là nội dung, yêu
c ầu, đòi hỏi, mà còn là giải pháp để thực hiện thành công các mục tiêu, nhi ệm vụ mà Đại hội đặt ra
Từ khóa: Nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực
ch ất lượng cao, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
heo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xã hội phát triển luôn do tác động của hệ thống các động lực khác nhau Các động lực đó cũng có vai trò và vị trí khác nhau ở từng thời kỳ lịch sử và từng quốc gia - dân tộc Trong đó, động lực quyết định sự phát triển xã hội trong toàn bộ chiều dài lịch sử là phương thức sản xuất Yếu tố quyết định trong phương thức sản xuất là lực lượng sản xuất và yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất lại là người lao động Cần phải lưu ý rằng người lao động chứ không phải nhân tố con người nói chung Như vậy, quốc gia đông dân không hẳn đã giàu có phồn vinh Chất lượng dân số, mà cụ thể và chính xác hơn là chất lượng người lao động, tức chất lượng nhân lực, mới là nhân tố quyết định Chất lượng nhân lực quyết định cả chất lượng thể chế và tính chất văn hóa, văn minh, tiến bộ của xã hội Chất lượng nhân lực tốt sẽ làm
T
Trang 8cho lực lượng lao động trở thành yếu tố động nhất, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của phương thức sản xuất
Ở giai đoạn hiện nay, Đảng ta chủ trương khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng
bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định thì tất nhiên phát triển nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung trở thành một trong
những tâm điểm của đường lối Dù dưới góc độ tiếp cận hoặc nội dung nào, lý luận hay thực tiễn, thực trạng hay giải pháp, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đều nhấn mạnh đến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao
Khi đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, chỉ ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, Đại hội XIII nhận định:
―Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng‖(1) Tuy nhiên, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhiều năm qua, không chỉ 5 năm gần đây mà cả 35 năm đổi mới, vẫn ―chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội‖ Đây là nhận định rất chính xác, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường thế giới và ở nước ta đang chuyển qua giai đoạn phát triển mới, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi thế giới ngày càng nhanh chóng, toàn cầu hóa và những vấn đề toàn cầu đang
có những biểu hiện mới, khác biệt trước đây Nguồn nhân lực, nhất là
Trang 9nguồn nhân lực chất lượng cao, có vai trò quyết định đối với chất lượng, tốc độ, quy mô phát triển các lực lượng sản xuất và do đó quyết định tốc độ phát triển mọi mặt của đất nước
Đánh giá chung về 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, 30 năm thực hiện Cương lĩnh
1991 và 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Văn kiện Đại hội XIII thể hiện quan điểm nhất quán về phát triển nguồn nhân lực Trong hơn
ba thập kỷ qua, nhất là 10 năm gần đây do chú trọng nhiều hơn vào xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực nên chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đã không ngừng được nâng lên Nhờ đó, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, bối cảnh không thuận lợi, nhưng kinh tế - xã hội nước ta đã liên tục đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực
Đặc biệt trong 5 năm gần đây, các thành tích dường như được
cộng hưởng và có hiệu ứng xã hội tích hợp Tốc độ tăng trưởng kinh
tế luôn được duy trì ở mức độ khá cao so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Việc đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và thực hiện các mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm đều có nhiều chuyển biến tích cực, hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và con người
Hiện nay, bối cảnh trong và ngoài nước đang có những thay đổi nhanh chóng: ―Kinh tế thế giới đang lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-
Trang 1019 Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu ‖(2) Cách mạng khoa học - công nghệ và cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi các công nghệ sản xuất và đời sống xã hội một cách nhanh chóng Toàn
cầu hóa đang có những xu thế mới với nhiều cơ hội mới xuất hiện, nhưng thách thức cũng gia tăng, khó lường
Đối với Việt Nam, để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt các đòi hỏi của sự phát triển trong thực tiễn Đại hội XIII đã xác định quan điểm chủ đạo trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2021-2030 là: ―Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh
mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước‖(3)
Quan điểm chủ đạo này thể hiện tư tưởng nhất quán và bao trùm
Trang 11của Đảng, luôn xem con người là chủ thể của chế độ, là động lực quyết định, là trung tâm, là mục tiêu, là nguồn lực vô giá, là thước đo
sự phát triển của xã hội và đất nước Trong điều kiện nước ta hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực có tính đột phá cho phát triển Nếu nguồn nhân lực không đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn trong giai đoạn phát triển mới, thì nó là điểm nghẽn, cản trở tất cả các quá trình kinh tế - xã hội khác, khiến cho tất cả các nguồn lực khác trở nên kém hiệu quả Chính vì vậy, để phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030
với những mục tiêu chiến lược và các nhiệm vụ cụ thể, Đại hội XIII
tiếp tục khẳng định và phát triển một cách nhất quán quan điểm chỉ đạo về nguồn nhân lực: ―Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút
và trọng dụng nhân tài‖ (4)
Quan điểm tạo đột phá, phát triển nguồn nhân lực được Đại hội XIII quán triệt trong nhiều lĩnh vực, nội dung, mục tiêu cụ thể của đường lối Để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển
mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, trong giai đoạn 2021-2025 và đến 2030 thì rõ ràng, nước ta phải thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhưng, để làm được những điều đó, tất yếu phải dựa vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Việc thực hiện các nhiệm vụ, như điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, các vùng phù hợp với thực tiễn đất nước và trình độ phát triển khoa học,
Trang 12công nghệ hiện đại trên thế giới, cũng như việc đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và thế giới; nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, tạo cơ
sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số, đều phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực của đất nước
Đại hội XIII đã cụ thể hóa việc ―thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tài nguyên, môi trường biển; phòng,
chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo‖(5) gắn liền với phát triển nguồn nhân lực Nội dung của chủ trương phát triển kinh tế biển bao gồm cả việc ―tổ chức tốt việc xây dựng và quản lý thống nhất quy hoạch không gian biển quốc gia, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và chuyên ngành về biển, đảo Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Đẩy mạnh phát triển và nâng cao hiệu quả các ngành kinh tế biển, các khu kinh tế, khu công nghiệp và các đô thị ven biển‖(6); ―tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, điều tra tài nguyên, môi trường biển; xây dựng
cơ sở dữ liệu số về biển, đảo, nâng cao năng lực giám sát môi trường biển, dự báo thiên tai, biến đổi khí hậu vùng biển, ven biển‖(7) Để triển khai các nội dung trên, Đại hội khẳng định: ―Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển, nhất là nhân lực chất lượng cao‖(8) vừa được coi như một trong các nội dung mục tiêu chiến lược trung hạn và dài
hạn, vừa được coi là phương pháp, phương thức thực hiện các mục tiêu
Trang 13phát triển bền vững kinh tế biển
Tiếp theo, trong chủ trương ―tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp‖(9) với các nội dung cụ thể: Đẩy nhanh việc xử lý nợ, thoái vốn, cổ phần hóa,
cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; thúc đẩy đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, áp dụng chế độ quản trị doanh nghiệp hiện đại để nâng cao hiệu quả, đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước Nhà nước
có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ, trang trại trong nông nghiệp Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, v.v Trong những nội dung này Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: ―Phát triển nguồn nhân lực‖ Đó vừa là nội dung của đường lối
về phát triển doanh nghiệp, vừa là giải pháp quyết định để phát triển các doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay
Trong các chủ trương lớn với các nội dung cụ thể, như hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh
tế biển, v.v Đại hội XIII đều nhấn mạnh đến phát triển nguồn nhân lực Đó vừa là một trong những nội dung của các chủ trương lại vừa là một trong những giải pháp thực hiện các chủ trương đó Phát triển nguồn nhân lực là một trong những thuật ngữ tiếp tục được nhắc đến nhiều lần trong Văn kiện Đại hội lần này Nội dung của phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được cụ thể hóa vào chương
Trang 14trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển của nhiều lĩnh vực, ngành, thành phần kinh tế
Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh những nội dung lớn gắn liền với việc phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: ―Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người‖(10) Gắn giáo dục, đào tạo với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự tiếp tục nhất quán quan điểm từ các lần Đại hội trước đây Nhưng ở Đại hội XIII này ngoài việc cụ thể hóa và
nhấn mạnh thêm trong các nội dung cụ thể của từng vấn đề, lĩnh vực, Đảng đã thể hiện tư tưởng gắn kết rõ ràng hơn giữa phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao, với các nội dung, các vấn đề, các chủ trương khác Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn với phát triển con người, với phát triển giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ, thị trường lao động, v.v đều thể hiện rõ điều này:
―Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo đúng hướng, hiệu quả Đầu tư thích đáng cho giáo dục và đào tạo chất lượng cao, trình độ cao‖(11)… ―Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục và đào tạo Hoàn thiện và thực hiện ổn định các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục
và đào tạo, thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào các
Trang 15trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề‖(12)…; ―Phấn đấu đưa nước
ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục và đào tạo ở khu vực, bắt kịp với trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế‖(13) ―Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ Nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc làm mục tiêu Rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ‖(14) Giáo dục, đào tạo được xem là khâu quyết định trong việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Cùng với nó là thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học
và công nghệ, hệ thống tổ chức cũng được xem là khâu rất quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên, bảo đảm
an ninh sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu,… vấn đề phát triển nguồn nhân lực cũng được gắn kết, lồng nghép, phối hợp với nhau
―Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nghiên cứu cơ bản và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về tài nguyên, môi trường, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu‖(15)
Trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, an ninh, trước diễn biến mới phức tạp, khó lường trong khu vực và thế giới, Đại hội XIII cũng gắn kết
Trang 16các nhiệm vụ, nội dung, giải pháp về quốc phòng, an ninh với việc phát triển nguồn nhân lực: ―Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới‖(16)
Với chủ trương ―phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc‖, Đại hội cũng khẳng định: Một trong những nội dung và giải pháp chủ yếu để ―Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ Xây dựng người phụ
nữ Việt Nam thời đại mới‖ là ―nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế‖(17)
Như vậy, tinh thần, tư tưởng chung của Đại hội là để thực hiện các mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ và kế hoạch, các định hướng phát triển, thì giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp chung, bao trùm, là vấn đề chiến lược Nhưng đó cũng là giải pháp cho từng lĩnh vực, cho từng ngành, từng mục tiêu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay Điều này, một mặt,
xuất phát từ cơ sở khoa học về tầm quan trọng, ý nghĩa và vai trò quyết định của nhân lực trong sự phát triển kinh tế, xã hội và đất nước
nói chung; m ặt khác, xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước sau
35 năm đổi mới và bối cảnh hiện thời đòi hỏi Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển nhanh trong khu vực và trên thế giới nhiều thập kỷ qua cho thấy, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, là đòn bẩy đột phá cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, v.v
Trang 17Trong quá trình thảo luận Dự thảo Báo cáo chính trị của Đại hội XIII, đã có nhiều ý kiến khác nhau khi đề xuất các đột phá chiến lược Những đề xuất về đột phá chiến lược mới như khoa học và công nghệ, rất có giá trị và ý nghĩa, được lồng ghép vào các nội dung của ba đột phá chiến lược đã được xác định từ các kỳ Đại hội trước đây Tại Đại hội XIII, Đảng ta vẫn xác định đột phá chiến lược thứ hai là: ―Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao‖(18) Nội dung của đột phá về nguồn nhân lực được xác định tại Đại hội này là: ―Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt, trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo, gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc‖(19)
Như vậy, nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được Đại hội XIII làm rõ thêm, đó là ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo quản lý và các lĩnh vực then chốt Điều này là hoàn toàn chính xác và phù hợp với thực tế phát triển đất nước ta hiện nay Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục để
có thể phát triển kinh tế, xã hội trong bối cảnh nước ta cần phát triển nhanh để rút bớt khoảng cách tụt hậu so với các quốc gia phát triển khác Thực tế nước ta hiện nay cho thấy nhân lực còn nhiều lao động
thủ công, nhân lực lao động phổ thông đông, tỷ lệ được đào tạo nghề
Trang 18lại thấp, thể lực yếu, thiếu và yếu nhiều phẩm chất xã hội, kỹ lực(20)
hạn chế nhiều Do vậy, không có sự đột phá trong phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, thì các mục tiêu phát triển của quốc gia ở các giai đoạn đến năm 2025, năm 2030, năm
2045 khó có thể đạt được
Theo chúng tôi, cấu trúc nguồn nhân lực chất lượng cao, ít nhất bao hàm ba bộ phận: Các nhà quản lý cấp cao, tầng lớp trí thức và đội ngũ doanh nhân Nếu một trong ba bộ phận này chưa đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển quốc gia thì nhiều vấn đề xã hội bất
cập sẽ nảy sinh, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo quản lý và các lĩnh vực then chốt trong giai đoạn hiện nay thực sự là mục tiêu chiến lược và là nhiệm vụ đặc biệt cấp thiết Ba bộ phận cấu thành nguồn nhân lực nói trên sẽ tạo thành ―cỗ xe tam mã‖ kéo toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội tiến lên phía trước Ba bộ phận này gắn kết, thống nhất và nếu đồng tâm hiệp lực thì toàn bộ nền kinh tế và sự phát triển của đất nước có thể diễn ra nhanh, mạnh, bền vững(21)
Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo thế và đà chưa từng có để phát triển, song, nền kinh tế nước ta vẫn còn rất nhiều hạn chế, yếu kém, khó khăn, thách thức và rủi ro Đến nay, nước ta chưa trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như mục tiêu và kế hoạch đã đặt ra Nước ta cũng chưa thu hẹp được khoảng cách phát triển, thậm chí có nguy cơ dãn cách xa so với các nước công nghiệp phát triển Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao trong bối cảnh cách mạng khoa học - công
Trang 19nghệ và cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng phát triển mạnh Ba đột phá chiến lược đã xác định từ gần 20 năm nay chưa có những đột phá thực sự Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Đây chính là điểm nghẽn của các điểm nghẽn, là nút thắt của các nút thắt đối với sự phát triển kinh
tế hiện nay Thực tế cho thấy, ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, do nhân lực
có chất lượng thấp về chuyên môn, nghiệp vụ, hoặc các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, trách nhiệm xã hội suy giảm, nên dẫn đến tệ tham nhũng, chất lượng sản phẩm làm ra kém, thực hiện tiến độ công
việc không đảm bảo, hiệu quả thấp, v.v Vì vậy, trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021- 2030, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh và bổ sung nội dung mới cho đột phá chiến lược về nguồn nhân lực, cụ thể hóa các nội dung đó vào nhiều lĩnh vực then chốt Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, Đại hội XIII nhấn mạnh và bổ sung nội dung phát triển nguồn nhân lực như sau: ―Tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn
với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí
tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam‖(22)
Với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Đại hội XIII đã bổ sung nội dung quan điểm về phát triển nguồn nhân lực: ―Đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và
Trang 20ngoài nước Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp, tận tụy, phục vụ nhân dân‖(23) Như vậy, lĩnh vực giáo dục - đào tạo được xem là lĩnh vực chủ yếu, tiên phong, có vai trò đặc biệt đối với việc phát triển nguồn nhân lực, trong
đó có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực Trong bối cảnh hiện nay, vai trò, nhiệm vụ đó càng trở nên quan trọng và bức thiết để ―đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội
Phát triển, tạo đột phá về chất lượng nguồn nhân lực không thể tập trung chỉ vào giáo dục, đào tạo ―ở trình độ‖ đại học và sau đại học,
mà phải ở tất cả các cấp độ, các lĩnh vực Điều này được Đại hội XIII
Trang 21khẳng định và nhấn mạnh: ―Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức Chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động‖(26)
―Đặc biệt chú ý phát hiện, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội‖(27) Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế nước ta hiện nay, khi tỷ lệ nhân lực ở các lĩnh vực, ngành, nghề, địa phương đã qua đào tạo bài bản thấp, còn nhân lực chưa qua đào tạo hoặc đào tạo không phù hợp với công việc còn tương đối phổ biến
Phát triển, tạo đột phá về chất lượng nguồn nhân lực không chỉ trong khu vực kinh tế nhà nước, mà còn ở cả khu vực kinh tế tư nhân,
hợp tác xã cũng được Đại hội XIII nhấn mạnh; ―Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả bền vững thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng
cao năng suất lao động” (28) (L.Đ.H nhấn mạnh) ―Hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và các tổ hợp tác Nâng cao trình độ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa
Trang 22học, công nghệ, phát triển mạnh nông nghiệp công nghệ cao nhằm tạo
đột phá về năng suất, chất lượng và quản trị ngành; nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp‖(29) (L.Đ.H nhấn mạnh)
Đối với chủ trương phát triển kinh tế vùng và hệ thống đô thị, việc phát triển nguồn nhân lực cũng được Đại hội XIII nêu ra với tính cách vừa là nội dung, vừa là giải pháp để thực hiện các mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế vùng và các đô thị, vùng đồng bào dân tộc thiểu số: ―Tiếp tục hoàn thiện thể chế về quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và bố trí nguồn lực nhằm phát huy lợi thế vùng‖(30) ―Lựa
chọn một số địa điểm, đô thị, vùng có lợi thế đặc biệt để xây dựng trung tâm kinh tế, tài chính với thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù có tính đột phá, có khả năng cạnh tranh quốc tế cao ( ) Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, giá trị lịch sử, truyền thống Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo sinh kế, việc làm, định canh, định
cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới Triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh
tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn‖(31)
Với vùng đồng bằng sông Hồng, nội dung và giải pháp phát triển mang tính đặc thù cả về khía cạnh phát triển nguồn nhân lực: ―Đi đầu trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số xã hội số Tập trung phát triển một số ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại: Điện tử, sản xuất phần mềm, trí tuệ nhân tạo, sản
Trang 23xuất ô tô, công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ thương mại logistics, ngân hàng, tài chính, du lịch, viễn thông, y tế chuyên sâu Mở rộng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch Thúc đẩy mạnh
mẽ các trung tâm đổi mới sáng tạo Tập trung xây dựng các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ‖(32)
Đối với vùng Tây Nguyên: ―Nâng cao hiệu quả các diện tích cây công nghiệp, cây dược liệu, hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối, xây dựng thương hiệu sản phẩm trên thị trường quốc tế Chú trọng khôi phục và phát triển kinh tế rừng Phát triển năng lượng tái tạo Phát triển các trung tâm du lịch lớn, hình thành các tuyến du lịch chuyên đề đặc thù vùng Tây Nguyên Phát triển nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục các giá trị truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên‖(33)
Bối cảnh thực tế hiện nay đặt ra yêu cầu về chuyển đổi số cho nền kinh tế và đời sống xã hội Việc phát triển nguồn nhân lực không thể không gắn liền và phục vụ sự chuyển đổi ấy: ―Đẩy nhanh xây
dựng xã hội số, tập trung vào chuyển đổi kỹ năng, mở các khóa học đại trà trực tuyến, đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng về công nghệ số và chuyển đổi số Chuẩn bị nguồn nhân lực cho chuyển đổi số để phát triển xã hội số‖(34)
Phát triển và đột phá về chất lượng nguồn nhân lực hiện nay cũng đòi hỏi gắn liền với việc tạo ra đột phá về hạ tầng kinh tế xã hội
Vì thế, Đại hội XIII của Đảng lần này cũng đã cụ thể hóa nội dung này và yêu cầu phải ―xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 24kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động ( ) Thực hiện tốt chức năng quản lý, phát triển mạnh nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển‖(35)
Tóm lại, xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, kinh nghiệm quốc tế, các lý luận về phát triển nguồn nhân lực và những đòi hỏi của bối cảnh mới của đất nước hiện nay, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt của đột phá về chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Đại hội yêu cầu phải khắc phục sự chậm trễ, những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực nhiều năm qua, phải thực sự có đột phá trong giai đoạn tới Đại hội đã bổ sung, cụ thể hóa các nội dung phát triển nguồn nhân lực trong nhiều lĩnh vực then chốt và một số vùng kinh tế quan trọng Phát triển, đột phá về nguồn nhân lực không chỉ là nội dung, yêu cầu, đòi hỏi mà còn là giải pháp để thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đặt ra
——————————
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.63
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.l06
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.110
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.115
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.125
6 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.125-126
7 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.l26
8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.126
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.133
10 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.136
Trang 2511 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.139
12 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.139-140
13 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.140
14 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.141
15 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.155
16 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.160
17 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.169
18 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.203
19 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.203-204
20 Kỹ lực bao hàm các loại kỹ năng và kỹ xảo trong cuộc sống, trong nghề nghiệp, giao tiếp, hoạt động cộng đồng, v.v
21 Xem: Lương Đình Hải, Xây dựng nguồn lực lao động chất lượng cao,
Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 3 (60) - 2012; Phát triển nguồn nhân
l ực chất lượng cao, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 6 (63) - 2012; Quan
ni ệm về nguồn nhân lực trong bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ
hi ện nay Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 2 (95) - 2018
22 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.220
23 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.221
24 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.231
25 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.231
26 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.232
27 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.234
28 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.240
29 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.243
30 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.251
31 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.252
32 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.253-254
33 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.255
34 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.264-265
35 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd., t.I, tr.284 và 286
Ngu ồn: Tạp chí Triết học - 2021 - Số 7 (362) - Tr.3-13
Trang 26PHÁT TRI ỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
THEO TINH TH ẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
TS THÂN TH Ị HẠNH Trường Đại học Ngoại thương
Ngày nh ận bài: 31/01/2022; Nhận kết quả phản biện: 23/3/2022; Duyệt đăng: 14/4/2022
Tóm tắt: Nguồn nhân lực là tài sản quan trọng nhất của một
qu ốc gia Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đất nước trong bối cảnh
h ội nhập quốc tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
c ộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực,
nh ất là nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ then chốt tạo động
l ực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai Trên
cơ sở khái quát những đột phá chiến lược của Đảng về phát triển ngu ồn nhân lực, bài viết đã làm rõ các thách thức và yêu cầu đặt ra trong quá trình t ổ chức thực hiện chủ trương về phát triển nguồn nhân
l ực chất lượng cao trong thời kỳ mới
Từ khóa: Đại hội XIII của Đảng; nguồn nhân lực; nguồn nhân
l ực chất lượng cao
Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực là tài sản quan trọng nhất của một quốc gia, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của đất nước Nguồn nhân lực
là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng tinh túy, cấu thành
Trang 27nguồn nhân lực của quốc gia, có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có khả năng thích ứng nhanh, làm chủ công nghệ; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có sức khỏe tốt, đóng góp tích cực, hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành nhân tố cạnh tranh mạnh mẽ, năng động giữa các quốc gia, góp phần bảo đảm cho sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước
Nhận thức rõ vai trò quan trọng đó, trong các kỳ Đại hội XI, XII, Đảng ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực là một nhiệm vụ then
chốt, có ý nghĩa, giá trị lâu dài nhằm tạo động lực để hoàn thành thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của các kỳ đại hội trước
đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) chủ trương: ―Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý
và các lĩnh vực then chốt‖[2, tr.203-204], chú trọng ―phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực
kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người‖[2, tr.231] và khẳng định đây là một khâu đột phá chiến lược, là điểm mới, điểm nhấn rất quan trọng trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng
1 Phát tri ển nguồn nhân lực chất lƣợng cao trên cơ sở đổi
m ới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Trang 28Giáo dục, đào tạo là ―chìa khóa‖ cho sự thành công trong phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh
tế nhanh và bền vững Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2021-2030, Đại hội XIII của Đảng khẳng định phát triển nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đổi mới giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, là
―động lực then chốt để phát triển đất nước‖[2, tr.136] Theo đó, cần chú trọng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng làm việc và khả năng thích ứng của con người với sự biến đổi nhanh chóng của xu thế toàn cầu hóa Đặc biệt, chú trọng giáo dục đạo đức, ―nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam‖[2, tr.136-137]; ―gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam‖ [2, tr.137]
Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong thời gian qua, công tác đổi mới giáo dục và đào tạo bước đầu có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Song, chương trình, nội dung đào tạo chưa gắn liền với thực tiễn tại doanh nghiệp, công tác đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ chế đào tạo cho một số ngành nghề đặc thù, cơ sở vật chất chưa được quan tâm đầu tư tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo nguồn nhân
Trang 29lực ở nước ta Theo thống kê, đến hết quý II/2021, lực lượng lao động của Việt Nam là khoảng 51,1 triệu người, trong đó tỉ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 26,1%[5], số lao động chưa qua đào tạo, chưa được công nhận trình độ kỹ năng là 73,9% Nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, hạn chế về kỹ năng sáng tạo, kỹ năng sống
Trước tình hình đó, Đảng nhấn mạnh cần thực hiện đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại; gắn giáo dục tri thức với đạo đức, năng lực sáng tạo, kỹ năng sống và giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam; đa dạng hóa các loại hình đào tạo; đẩy mạnh tự chủ đại học, có chính sách đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học; phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; nâng cao chất lượng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức; đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài nhằm thu hút nguồn nhân
lực chất lượng cao, tránh tình trạng ―chảy máu chất xám‖ Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực[2, tr.232-234]
2 Ƣu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt gắn với đẩy
m ạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học - công nghệ
Gần đây, nguồn nhân lực của Việt Nam được tăng cường cả về quy mô và chất lượng, một số ngành nghề, lĩnh vực đạt trình độ khu
Trang 30vực và quốc tế; lực lượng lao động tiếp tục tăng từ 54,2 triệu người năm 2015 lên 54,6 triệu người năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 51,6% năm 2015 lên khoảng 64,5% năm 2020; tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp[1] Tuy nhiên, số lượng cán bộ khoa học, chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán
bộ, công chức chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu cầu công việc; khả năng quản lý, điều hành, ý thức trách nhiệm còn hạn chế Đặc biệt,
một bộ phận cán bộ đang suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống, có biểu hiện ―tự diễn biến‖, ―tự chuyển hóa‖, quan liêu, xa dân, tham nhũng, tiêu cực Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần đổi mới mạnh
mẽ nguồn nhân lực theo hướng ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt; tăng cường các chính sách cải cách tiền lương, chế độ đãi ngộ; tạo môi trường điều kiện làm việc thuận lợi để đội ngũ cán bộ phát huy khả năng sáng tạo, chuyên tâm, tích cực tham gia vào quá trình đổi mới toàn diện của đất nước
Đồng thời, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đang tạo ra bước đột phá trên nhiều lĩnh vực, nhất là sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ số, kinh tế số, tạo ra
cả thời cơ và thách thức đối với mỗi quốc gia, dân tộc Nhận thức rõ vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ với phát triển nguồn nhân lực, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: ―khoa học và công nghệ
là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất,
Trang 31chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế [2,tr 140]
Nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới, điều kiện của đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần chú trọng phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước Đồng thời, tập trung phát triển công nghệ ưu tiên có khả năng ứng dụng cao như công nghệ số, thông tin, sinh học, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, năng lượng để người dân và doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn tài nguyên số Nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với
―phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số‖ [2, tr.204] là một trong những đột phá chiến lược
Để tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước trong tình hình mới, cần nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ; xây dựng chiến lược, tầm nhìn về công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn lực với đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng
và phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; có chính sách
ưu đãi, ưu tiên thu hút nhân tài, các nhà khoa học có tâm huyết với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các tổ chức khoa học và công nghệ góp phần cải
Trang 32thiện điều kiện làm việc cho nhân lực khoa học và công nghệ, phát huy khả năng sáng tạo của đội ngũ hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa quê hương, đất nước; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, ưu tiên các đối tác chiến lược
3 Phát tri ển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với xây
d ựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong s ự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Với quan điểm lấy con người là trung tâm, lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững của đất nước, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với ―khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc‖ [2, tr.54] Trong đó, nhấn mạnh
―phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Tăng đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hóa Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước‖ [2, tr.115-116]
Trang 33Văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước, đóng vai trò quyết định trong việc hình thành các phẩm chất, nhân cách ở con người; nuôi dưỡng và phát triển các khả năng của con người; giúp mỗi cá nhân định hướng những giá trị cốt lõi của dân tộc; khơi dậy tính năng động, sáng tạo của con người; góp phần ổn định và thúc đẩy sự phát triển của xã hội Phát triển văn hóa có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Do đó, văn hóa cần được củng cố, bồi đắp, phát huy thường xuyên và gắn bó chặt chẽ với công tác phát triển nguồn nhân lực, góp phần làm cho con người Việt Nam thực sự trở
thành s ức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, để vượt qua khó khăn, thách thức, tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, Việt Nam cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao trong mọi lĩnh vực, nhất là nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý ở cấp chiến lược và các lĩnh vực then chốt Nguồn nhân lực đó vừa phải
có ―phông kiến thức đa dạng‖, vừa có tầm nhìn chính trị trên nền tảng văn hóa chính trị Tầm nhìn đó phải dựa trên điều kiện thực tiễn của đất nước, trên cơ sở đánh giá khách quan, sáng suốt, kịp thời thích ứng với những biến động của tình hình thế giới và khu vực Những tri thức văn hóa về địa lý, lịch sử cùng những bài học, kinh nghiệm đã được tích lũy trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước là yếu tố căn bản để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 34K ết luận
Trong công cuộc cải biến xã hội sâu sắc, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là ―đầu tàu‖ trong sáng tạo, tiếp nhận, chuyển giao những thành tựu tiên tiến của khoa học và công nghệ, thực hiện những bước nhảy vọt, đi tắt đón đầu, rút ngắn thời gian thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, là điều kiện đảm bảo cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển đất nước nhanh
và bền vững Đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực, Đại
hội XIII của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố then chốt quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
——————————
Tài li ệu tham khảo:
[1] Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Chỉ số nguồn nhân lực Việt Nam
đứng thứ 2 trong khu vực, Tạp chí Tuyên giáo điện tử, https://tuyengiao.vn
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
l ần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
[3] Võ Văn Lợi (2019) Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu
c ầu của cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Tài chính điện tử,
https://tapchitaichinh.vn
[4] Đào Thị Thu Thủy (2020), Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa
h ọc và công nghệ của Việt Nam: Góc nhìn từ thực tiễn, Tạp chí Nghiên
cứu Chính sách và quản lý, số 2
[5] Tổng Cục thống kê (2021), Thông cáo báo chí tình hình lao động việc
làm quý II và 6 tháng đầu năm 2021, https://www.gso.gov.vn
Ngu ồn: Tạp chí Giáo dục lý luận - 2022 - Số 338 - Tr.13-16
Trang 35CHÍNH SÁCH PHÁT TRI ỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NHÂN LỰC
CH ẤT LƯỢNG CAO TRÊN QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG(*)
GS, TS ĐẶNG NGUYÊN ANH - TS TRẦN NGUYỆT MINH THU
Vi ện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Xã hội học
Ngày nh ận bài: 8/12/2017; Ngày nhận bài sửa: 30/1/2018; Ngày duyệt đăng: 26/2/2018
Tóm tắt: Nguồn nhân lực và nhân lực chất lượng cao luôn có
vai t rò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Hướng tới các mục tiêu phát triển đến năm
2020, t ầm nhìn 2030 và 2050, Việt Nam luôn khẳng định vai trò trung tâm c ủa nhân tố con người trong phát triển bền vững Trên quan điểm phát tri ển bền vững, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
s ự phát triển, bài viết tập trung tìm hiểu chính sách phát triển nhân
l ực và nhân lực chất lượng cao được thể hiện trong Chiến lược phát tri ển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Phát triển nguồn nhân
l ực và nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ cấp bách, có tính chi ến lược đối với Việt Nam, là lợi thế để từng bước nâng cao năng
l ực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế
Từ khóa: Nguồn nhân lực; phát triển nhân lực; nhân lực chất
lượng cao, phát triển bền vững
Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực là vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của mọi quốc gia, đặc biệt với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Phát triển
Trang 36nguồn nhân lực là điều kiện để thực hiện mục tiêu bền vững, bao trùm
và công bằng trong quá trình phát triển (Đặng Nguyên Anh, 2014b) Các quốc gia trên bình diện toàn cầu cũng như khu vực đều hướng đến một nền kinh tế hội nhập, hợp tác và kết nối Trong nền kinh tế đó, phát triển bền vững gắn với việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là một lợi thế, một nhân tố quyết định cho sự thịnh vượng, Thực tế cho thấy, có những quốc gia tuy không phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên, song vẫn đạt được thành tích đáng kể trong phát triển kinh tế, đạt được
mục tiêu phát triển bền vững bởi vai trò đóng góp quan trọng của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao (NLCLC)
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trong phong trào bảo vệ môi trường Phát triển
bền vững được định nghĩa: Là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của
hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (UN, 1987); là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa của phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường (UN, 1992) Tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững có thể đo lường qua quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống (Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg)
Nhiều quốc gia đã xác định nguồn nhân lực và nguồn NLCLC chính là yếu tố cơ bản nhất, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế nhiều biến động và cạnh
Trang 37tranh, ưu thế luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn NLCLC Tại Việt Nam, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định rõ tầm quan trọng của việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNCLC; tập trung đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với ứng dụng khoa học, công nghệ (Chỉ thị số 18/CT-TTg) Nghị quyết Đại hội XII cũng đã xác định việc cần phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững Nghị quyết cũng tiếp tục khẳng định việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là NLCLC là một trong ba đột phá chiến lược (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2016)
Với cách tiếp cận lấy con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển, bài viết tập trung tìm hiểu chính sách phát triển nhân lực Việt Nam trên quan điểm phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu;
“Đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng
nh ất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã
h ội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức
t ương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt
ti ếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới (Quyết định số
579/QĐ-TTg) của Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ
2011 - 2020
2 Định hướng phát triển và một số chỉ tiêu giám sát, đánh giá
Thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước, nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã
Trang 38được ban hành, dần đi vào cuộc sống và trở thành xu thế tất yếu Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ luôn hướng tới thúc đẩy năng lực nội sinh của quốc gia, thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, coi giáo dục là cội nguồn của mọi sức mạnh “Phát triển giáo dục phải là quốc sách hàng đầu
nh ằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài‖ (Điều 61, Hiến pháp năm 2013) Năng lực nội sinh đó sẽ được đánh giá bởi thực trạng nguồn nhân lực cũng như NLCLC, được thể
hiện qua sức sản xuất của xã hội, yếu tố quan trọng cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững
Căn cứ Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm
2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã được phê duyệt tại Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến
lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, là cơ sở cho sự phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ XXI, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế Đây cũng là căn cứ để cụ thể hóa các chiến lược phát triển khác trong cùng giai đoạn ở nước ta, bao gồm cả chiến lược phát triển nguồn nhân lực, hướng tới kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường, tạo cơ sở để phát triển bền vững đất nước
Trang 39Chi ến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020
Vấn đề nguồn nhân lực được nêu rõ ngay trong quan điểm của Chiến lược, khẳng định: Con người là trung tâm của phát triển bền vững, nhân tố và tiềm năng con người cần được phát huy tối
đa với vai trò chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển, yếu tố điều kiện cho hội nhập quốc tế Muốn vậy, cần tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội
bình đẳng, được tiếp cận những nguồn lực chung và được tham gia, đóng góp và hưởng lợi (Quyết định số 432/QĐ-TTg) Mục tiêu tổng quát của chiến lược được xác định: “Tăng trưởng bền vững,
có hi ệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi tr ường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ
v ững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
qu ốc gia” Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trở thành
động lực phát triển quan trọng, qua đó con người cần được phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật
Để thực hiện mục tiêu trên, chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 được chia làm bốn nội dung cơ bản gồm: các chỉ tiêu tổng hợp; các chỉ tiêu về kinh tế; các chỉ tiêu về xã hội; các chỉ tiêu về tài nguyên và môi trường Bài viết xin được giới thiệu các chỉ tiêu về xã hội trong giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Trang 40B ảng 1: CÁC CH Ỉ TIÊU VỀ XÃ HỘI GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VI ỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
TT Ch ỉ tiêu L ộ trình 2010 K ế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 2011-2020
1 T ỷ lệ nghèo (%) 2011 10% Giảm
1,5-2%/năm Giảm 1,5-2%/năm
2 T ỷ lệ thất nghiệp (%) 2011 2,88 <3,00 <3,00
3 Tỷ lệ lao động đang làm việc
6 S ố sinh viên/ 10.000 dân (SV) 2011 200 300 450
7 Số thuê bao Internet (số thuê
8,5 (Băng thông r ộng) 20 (Băng thông r ộng)
8
T ỷ lệ người dân được hưởng
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
t ế, bảo hiểm thất nghiệp (5%) 2011 Y tế: 60
XH: 38 YT:75 TN:73
XH: 51 YT:80 TN: 84,5
Ngu ồn: Thủ tướng Chính phủ (2012a)(Phụ lục các chỉ tiêu về xã hội giám sát và đánh giá
phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020)
Quá trình phát triển cần chú trọng cải thiện sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua giáo dục qua đổi mới, nội dung, phương pháp, tăng cường tính thực tiễn; tạo việc làm bền vững, tạo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực phát triển
và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua việc đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội Đây được xem là định hướng thuộc nhóm các định hướng ưu tiên trong giai đoạn 2011-2020, tạo tiền đề cho việc phát triển nhanh và bền vững nguồn nhân lực Việt Nam
Quá trình phát triển bền vững cần có sự hài hòa giữa tăng trưởng