1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN tố TỤNG HÌNH sự CHƯƠNG 1 2 3 4 5 6

56 350 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo Luận Tố Tụng Hình Sự Chương 1 2 3 4 5 6
Chuyên ngành Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Bài tập
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 99,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Quan hệ pháp luật TTHS chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (3)
  • 2. Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự (3)
  • 3. Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS (3)
  • 4. Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật TTHS. 2 5. QHPL mang tính quyền lực nhà nước là quan hệ pháp luật TTHS (3)
  • 6. Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT. 2 7. Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy (3)
  • 8. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS (4)
  • 9. Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả phiên tòa hình sự (4)
  • 10. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong Luật TTHS (4)
  • 11. Kết quả kiểm tra đánh giá chứng cứ tại phiên toà là căn cứ duy nhất để toà án đưa ra bản án quyết định (5)
  • 12. Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. 4 BÀI TẬP (5)
  • I. NHẬN ĐỊNH (10)
    • 1. Người có thẩm quyền giải quyết VAHS là người THTT (10)
    • 2. Giám thị, phó giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (10)
    • 3. Thẩm phán chủ toạ phiên toà phải phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của viện kiểm soát trong cùng VAHsS (0)
    • 4. Chỉ có viện kiểm soát viên thực hành quyền cong tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toà (0)
    • 5. Một người có thể đồng thời tham gia tố tụng với hai tư cách trong cùng một VAHS (11)
    • 6. Những người TGTT có quyền và lợi ích pháp lý trong VAHS có quyền đề nghị thay đổi người THTT (11)
    • 7. Đương sự có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch (11)
    • 8. Những người TGTT có quyền vời lợi ích pháp lý có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình (0)
    • 9. Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa (12)
    • 11. Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo (12)
    • 12. Người thân thích của Thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án đó (13)
    • 13. Người giám định có thể là người thân thích của bị can, bị cáo (13)
    • 14. Yêu cầu thay đổi người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội dưới 18 tuổi và người đại diện của họ luôn chấp nhận (13)
    • 15. Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố (13)
    • 16. Đầu thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện (14)
    • 17. Người có nhược điểm về thể chất có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng (14)
    • 18. Chức danh điều tra viên chỉ có trong TTHS (14)
    • 19. Trong VAHS, có thể không có người TGTT với tư cách là bị hại (14)
  • II. BÀI TẬP (15)

Nội dung

CÁC CÂU TRẢ LỜI NHẬN ĐỊNH MÔN HỌC LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ . CÂU TRẢ LỜI BÀI TẬP luật học tố tụng hình sự đề cương đại học luuaatj 6 chương tố tụng hình sự THẢO LUẬN tố TỤNG HÌNH sự CHƯƠNG 1 2 3 4 5 6 THẢO LUẬN tố TỤNG HÌNH sự CHƯƠNG 1 2 3 4 5 6 THẢO LUẬN tố TỤNG HÌNH sự CHƯƠNG 1 2 3 4 5 6

Quan hệ pháp luật TTHS chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Quan hệ pháp luật TTHS không chỉ phát sinh khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự mà còn có thể bắt nguồn từ các tình huống khác như phạm tội quả tang, xảy ra trước khi có quyết định khởi tố, hoặc phát sinh sau đó trong trường hợp đồng phạm Hiểu rõ các mốc thời gian này giúp làm rõ phạm vi và sự phát sinh của các quan hệ pháp luật TTHS trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hình sự Điều này đặc biệt quan trọng để đảm bảo các quy trình pháp luật được thực hiện đúng quy định và quyền lợi của các bên liên quan được bảo vệ một cách hợp lý.

Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự

Quan hệ pháp luật TTHS bắt đầu khi cơ quan có thẩm quyền tham gia vào vụ án hình sự, không chỉ xuất hiện sau mà còn có thể xảy ra trước và song hành cùng quan hệ pháp luật hình sự Ví dụ điển hình là trường hợp phạm tội quả tang, thể hiện rõ mối liên hệ pháp luật TTHS với quá trình điều tra và xử lý vụ án hình sự.

Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS

Quan hệ pháp luật TTHS chỉ điều chỉnh các quan hệ có ít nhất một bên mang quyền lực nhà nước Nếu không có bên nào trong quan hệ là cơ quan nhà nước hoặc có thẩm quyền của nhà nước, thì đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS Ví dụ, mối quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội không có bên nào mang quyền lực nhà nước, do đó không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật TTHS.

Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật TTHS 2 5 QHPL mang tính quyền lực nhà nước là quan hệ pháp luật TTHS

5 QHPL mang tính quyền lực nhà nước là quan hệ pháp luật TTHS.

Quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước khi được thiết lập để phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quá trình giải quyết vụ án hình sự, phù hợp với các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Do đó, nhận định rằng quan hệ pháp luật này phải luôn làm phát sinh mới là sai.

Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT 2 7 Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy

Phương pháp phối hợp - chế ước không chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các cơ quan tố tụng hình sự mà còn quản lý mối quan hệ giữa người có thẩm quyền trong THTT với cơ quan, cũng như giữa các người THTT với nhau trong hệ thống cơ quan tố tụng, bao gồm các cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

7 Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy

Quan hệ giữa điều tra viên và người bào chữa chỉ được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy trong khuôn khổ của một vụ án cụ thể Khi quan hệ này xuất hiện trong cùng một vụ án, phương pháp quyền uy sẽ đảm bảo tính hợp pháp và đúng quy trình Tuy nhiên, nếu quan hệ giữa điều tra viên và người bào chữa không liên quan đến cùng một vụ án, thì không phát sinh quan hệ pháp luật hình sự, và các mối quan hệ này sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của phương pháp quyền uy.

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án nhằm đảm bảo tính vô tư, khách quan trong quá trình xét xử Vô tư khách quan là yếu tố cốt lõi được chú trọng trong mọi lĩnh vực tố tụng nhằm đảm bảo công bằng và chính xác cho các quyết định pháp lý Nguyên tắc này không chỉ được quy định trong luật Tố tụng hình sự mà còn thể hiện trong các thủ tục hành chính và tố tụng dân sự, góp phần củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp luật.

Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả phiên tòa hình sự

Theo Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Tòa án có thể xét xử kín trong các trường hợp đặc biệt nhằm bảo vệ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ quyền lợi của người dưới 18 tuổi hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự Tuy nhiên, các quyết định tuyên án vẫn phải được công khai để đảm bảo quyền lợi và công bằng trong quá trình tố tụng.

Quy định này nhằm bảo vệ các bí mật nhà nước và lợi ích của đương sự, đồng thời thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với quyền riêng tư, nhân phẩm và danh dự của họ trong quá trình xét xử vụ án.

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong Luật TTHS

Theo quy định tại điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và điều 18 Bộ luật Tố tụng hành chính 2015, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử không chỉ áp dụng trong tố tụng hình sự mà còn mở rộng sang tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.

Kết quả kiểm tra đánh giá chứng cứ tại phiên toà là căn cứ duy nhất để toà án đưa ra bản án quyết định

Theo Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự, ngoài kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên toà, kết quả tranh tụng cũng là căn cứ để toà án đưa ra bản án quyết định chính xác Tranh luận tại phiên toà đóng vai trò quan trọng trong việc xác định đúng sai của các chứng cứ, góp phần đảm bảo công bằng trong quá trình tố tụng hình sự Quy trình xét xử dựa trên cả kết quả xét hỏi, tranh luận và đánh giá chứng cứ để đưa ra phán quyết công minh và đúng pháp luật.

BL TTHS đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, tạo điều kiện cho các chủ thể đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra và đánh giá chứng cứ Các bên tranh tụng có quyền đề xuất yêu cầu phù hợp trong quá trình xét xử, góp phần bảo đảm tính khách quan và công bằng của quá trình xét xử Nguyên tắc này thúc đẩy sự công bằng, minh bạch và hiệu quả trong quá trình giải quyết vụ án.

Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình 4 BÀI TẬP

CSPL: Điều 29 và khoản 1 điều 70 BL TTHS năm 2015.

Trong tố tụng hình sự, tiếng nói và chữ viết bắt buộc phải là tiếng Việt, nhưng người Thẩm phán và người Thẩm tra có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình khi cần có người phiên dịch theo quy định pháp luật Việc sử dụng người phiên dịch chỉ được thực hiện trong trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể thể hiện bằng tiếng Việt.

A Xác định Quan hệ xã hội giữa các chủ thể trong vụ án trên

B tố cáo cơ quan công an phường X về mối quan hệ xã hội giữa người có thẩm quyền tố tụng theo quy định tại Điều 5 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự và Điều 46 Luật tố tụng hình sự 2015, cùng với người tham gia tố tụng theo khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Công an phường X đã tiến hành kiểm tra vụ việc và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra của quận theo quy định Quan hệ xã hội giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quy định rõ trong khoản 1 Điều 34 của Luật Tố tụng hình sự, đảm bảo quá trình điều tra diễn ra đúng pháp luật Việc chuyển hồ sơ nhanh chóng giúp thúc đẩy quá trình xử lý vụ án efficiently, nâng cao hiệu quả công tác điều tra và xử lý tội phạm.

Điều tra viên N là người được phân công trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, đảm bảo thực thi đúng quy trình và quy định của pháp luật Hoạt động của điều tra viên N dưới sự kiểm sát của kiểm sát viên M nhằm tăng cường tính khách quan, minh bạch trong quá trình điều tra Quan hệ xã hội giữa những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, như điều tra viên và kiểm sát viên, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự pháp luật và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan (Khoản 2 Điều 34 Bộ Luật Tố tụng hình sự)

Toà án chỉ định Luật sư C làm người bào chữa cho bị cáo A vì A là người chưa thành niên, đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong quá trình tố tụng Quan hệ xã hội giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, trong đó luật sư đóng vai trò trung tâm là người bào chữa, bảo vệ quyền lợi của bị cáo Việc toà án chỉ định luật sư phù hợp nhằm đảm bảo quá trình xét xử công bằng, khách quan và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tranh tụng.

Điều tra viên N được giao nhiệm vụ hòa giải giữa bị can A, cha mẹ A và bị hại B để thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án một cách khách quan, công bằng Quan hệ xã hội giữa người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, như bị can, đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tra nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Việc điều tra viên N thực hiện nhiệm vụ hòa giải giúp xây dựng niềm tin, giảm thiểu xung đột, đồng thời thúc đẩy tiến trình tố tụng diễn ra thuận lợi hơn.

A, người đại diện theo pháp luật: cha mẹ A, bị hại: B)

Cơ quan điều tra quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng đối với A trong trường hợp quan hệ xã hội giữa cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, cụ thể là bị can A theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự Việc miễn trách nhiệm và hòa giải nhằm thúc đẩy quá trình xử lý vụ án một cách công bằng, nhân đạo, đồng thời duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên liên quan trong hệ thống tư pháp Điều này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật trong việc cân nhắc các yếu tố xã hội, giúp giảm bớt căng thẳng và thúc đẩy sự hợp tác giữa người bị tố cáo và các cơ quan chức năng.

B Xác định phương pháp điều chỉnh của luật TTHS đối vs từng QHXH

(2) PP Phối hợp- chế ước

(3) PP Phối hợp- chế ước

1 Trong quá trình giải quyết vụ án trên có thể phát sinh quan hệ giữa những chủ thể nào?

A bị Cơ quan Điều tra tỉnh X khởi tố vụ án và khởi tố điều tra về tội trộm cắp tài sản, thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra.

- Thứ hai: A nhờ luật sư B bào chữa cho mình - Quan hệ giữa người tham gia tố tụng

- Thứ ba: Cơ quan có thẩm quyền nhờ C phiên dịch cho A - Quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

- Thứ tư: A với phiên dịch C- quan hệ giữ người tham gia tố tụng với nhau

Vào ngày thứ năm, Cơ quan Điều tra đã hoàn tất bản kết luận điều tra và đề nghị Viện Kiểm sát Nhân dân truy tố bị can A về tội trộm cắp, thể hiện rõ mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình xác minh và xử lý vụ án.

Vào thứ sáu, Viện kiểm sát nhân dân (VKS) đã tiến hành lập bản cáo trạng về tội danh trộm cắp đối với bị cáo A, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Quá trình này nhấn mạnh vai trò của VKS trong việc đảm bảo công bằng và khách quan trong quá trình xét xử vụ án Việc soạn thảo cáo trạng là bước quan trọng, giúp xác định rõ hành vi phạm tội, từ đó đưa ra các biện pháp truy cứu trách nhiệm hình sự phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vào thứ bảy, tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo A mức án 5 năm tù, thể hiện rõ mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình xét xử.

2 Trong những quan hệ đó, quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của LuậtTTHS?

- Quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật TTHS: thứ 1, 3, 5, 6 và 7

3 Xác định phương pháp điều chỉnh đối với từng quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật TTHS?

- Phương pháp phối hợp - chế ước: 5

Người đàn ông sinh năm 1976, cư trú tại huyện X, tỉnh Y, là người Hoa gốc Việt với trình độ học vấn lớp 1/10, đã bị công an bắt quả tang mua bán 1,75kg ma túy Tòa án nhân dân tỉnh Y đã tuyên án tử hình về tội mua bán trái phép chất ma túy trong bản án hình sự sơ thẩm.

Khi tử tội là người nước ngoài có đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định, vụ án sẽ được xử lý theo các quy định của điều ước quốc tế đó và pháp luật Việt Nam Trong trường hợp này, quyền ưu đãi ngoại giao hoặc miễn trừ lãnh sự có thể ảnh hưởng đến quyền truy tố và xét xử của cơ quan tố tụng Việt Nam, yêu cầu phối hợp với các cơ quan ngoại giao để xác định quyền và nghĩa vụ của người phạm tội Các quy trình thủ tục thường bao gồm xem xét giấy tờ ngoại giao, thực hiện các quy định về miễn trừ, và có thể chuyển vụ án cho cơ quan ngoại giao hoặc đại diện lãnh sự phù hợp để xử lý theo đúng quy định pháp luật quốc tế.

Theo khoản 2 Điều 5 BLHS 2015, người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế Trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó, nếu có Trong trường hợp không có quy định nào của điều ước hoặc tập quán quốc tế, trách nhiệm hình sự sẽ được xử lý bằng con đường ngoại giao.

Vì vậy, hành vi phạm tội của A sẽ bị xử lý theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó, đảm bảo tính pháp lý và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về xử lý vi phạm.

2 Nếu A không sử dụng thành thạo Tiếng Việt và đề nghị có người phiên dịch cho mình thì yêu cầu này có được chấp nhận không?

NHẬN ĐỊNH

Người có thẩm quyền giải quyết VAHS là người THTT

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định tại điểm B khoản 1 điều 4 BLTTHS bao gồm người tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động điều tra Theo quy định này, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm hai chủ thể rõ ràng, được phân định tại Khoản 2 Điều 34 và Khoản 2 Điều 35 BLTTHS 2015 Do đó, người giải quyết vụ án hình sự có thể là người tiến hành tố tụng hoặc không phải là người tiến hành tố tụng, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Ví dụ, A là Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội Biên phòng, được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định Do đó, A có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 4 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 Tuy nhiên, A không phải là người tiến hành tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của BLTTHS 2015.

Do đó, câu nhận định này sai.

Giám thị, phó giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 35 BLTTHS 2015, Giám thị và Phó giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra theo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự Cụ thể, nhiệm vụ này được quy định rõ tại Điều 38 của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự Tuy nhiên, ngoài các quy định này, giám thị và phó giám thị trại giam không được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, câu nhận định sai

3 Thẩm phán chủ toạ phiên toà phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của viện kiểm sát trong cùng VAHS

Dựa trên tinh thần của Nghị quyết 03/2004, Điều 49 và Khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) 2015, pháp luật quy định rằng để đảm bảo tính khách quan trong xét xử vụ án hình sự, người thân thích của Thẩm phán có thể tham gia giải quyết vụ án với vai trò Viện kiểm sát Tuy nhiên, họ có thể bị từ chối hoặc thay đổi nếu có căn cứ chứng minh rằng họ không đủ vô tư, khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và tính khách quan của quá trình tố tụng hình sự.

Pháp luật quy định rõ ràng về việc chủ tọa phiên tòa có thể bị thay đổi hoặc từ chối giải quyết vụ án hình sự khi có mối quan hệ thân thích với Viện kiểm sát Tuy nhiên, quy định không đề cập đến trường hợp chủ tọa có thể bị thay đổi hoặc từ chối tham gia phiên tòa nếu là người thân thích của Viện kiểm sát.

Do đó, câu nhận đình này sai

4 Chỉ có kiểm sát viên thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toà

CSPL Khoản 3 Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự

Trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà Viện kiểm sát có quyền thực hành quyền công tố và quyết định về việc buộc tội bị cáo tại phiên toà, phù hợp với quy định tại Điều 266 của Luật Tố tụng hình sự.

5 Một người có thể đồng thời tham gia tố tụng với hai tư cách trong cùng một VAHS

Dựa vào quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, pháp luật không quy định rõ ràng về số lượng tư cách tố tụng mà một người có thể tham gia trong cùng một vụ án Điều này dẫn đến thực tiễn xảy ra trường hợp một người vừa tham gia với vai trò đại diện theo pháp luật của bị hại, vừa đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Vì pháp luật không cấm và không quy định chi tiết về việc một người có thể tham gia với nhiều tư cách tố tụng cùng lúc, nên hoàn toàn có thể tham gia với hai tư cách tố tụng trong một vụ án.

6 Những người TGTT có quyền và lợi ích pháp lý trong VAHS có quyền đề nghị thay đổi người THTT

Theo Điều 50 của Luật TTHS, những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp trong việc giám sát, xác nhận điều tra, truy tố và xét xử, trừ các trường hợp đã được quy định rõ ràng trong luật Tuy nhiên, những người này không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng nếu không thuộc các trường hợp được quy định trong điều luật Điều này đảm bảo tính nhất quán và khách quan trong quá trình tố tụng, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

7 Đương sự có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch

Điều 65 Luật TTHS không quy định quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong việc đề nghị thay đổi người giám định hoặc người phiên dịch, dẫn đến họ không có quyền thực hiện yêu cầu này Mặc dù theo điểm g Khoản 1 Điều 4 Luật TTHS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đương sự, nhưng quyền đề nghị thay đổi người giám định hoặc người phiên dịch không thuộc về họ Do đó, những người liên quan đến vụ án không có quyền yêu cầu thay đổi người giám định hoặc người phiên dịch theo quy định của pháp luật hiện hành.

8 Những người TGTT có quyền, lợi ích pháp lý có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình

Theo Điều 65 khoản 2 điểm Đ Bộ luật tố tụng hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, họ hoàn toàn có quyền nhờ luật sư giúp đỡ trong quá trình bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

9 Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa

Theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, không chỉ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, mà cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được hưởng quyền này trong quá trình tố tụng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình.

10.Trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người THTT

Theo quy định tại khoản 1, Điều 76 và khoản 3, Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa chỉ được thay đổi khi có yêu cầu từ người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của họ Người bào chữa sẽ không bị thay đổi nếu là người thân thích của người bị buộc tội, trừ khi có đề nghị cụ thể từ phía người bị buộc tội hoặc người đại diện của họ về việc thay đổi người bào chữa.

11 Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Theo Khoản 2 Điều 66 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người thân thích của bị can, bị cáo không nằm trong danh sách những người không được làm chứng trong vụ án hình sự Vì vậy, người thân thích của bị can, bị cáo vẫn có thể làm chứng nếu họ biết thông tin liên quan đến vụ án hoặc tội phạm, và sẽ được cơ quan có thẩm quyền triệu tập để làm chứng.

12 Người thân thích của Thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án đó

Theo Khoản 2 Điều 66 BLTTHS 2015, người thân thích của Thẩm phán không thuộc nhóm người bị cấm làm chứng Do đó, họ hoàn toàn có thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án Nếu người thân thích của Thẩm phán biết được các tình tiết liên quan đến vụ án, họ có thể được triệu tập để làm chứng trong quá trình tố tụng.

13 Người giám định có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng khi họ là người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo, nhằm đảm bảo tính khách quan và trung lập trong quá trình giám định Việc từ chối này giúp giảm thiểu xung đột lợi ích và đảm bảo kết quả giám định chính xác, khách quan theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Khi thuộc trường hợp là người thân thích, người giám định cần được thay đổi để bảo vệ tính minh bạch và công bằng trong quá trình xét xử Luật pháp quy định rõ ràng về các trường hợp từ chối hoặc thay đổi người giám định nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên và tính khách quan của quá trình tố tụng hình sự.

CSPL: Điểm a Khoản 5 Điều 68 BLTTHS 2015.

14 Yêu cầu thay đổi người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội dưới 18 tuổi và người đại diện của họ luôn chấp nhận

CSPL: khoản 4, 5 điều 72; khoản 3 điều 77 BLTTHS 2015

Trong các trường hợp người bị buộc tội dưới 18 tuổi hoặc người đại diện của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa, cần lưu ý rằng người bào chữa có thể bị hạn chế theo quy định tại khoản 4 điều 72, chỉ định những người không đủ điều kiện để bào chữa Ngoài ra, khi một người bào chữa đại diện cho nhiều bị cáo trong cùng một vụ án mà quyền và lợi ích của họ xung đột, sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả và tính công bằng của việc bào chữa Do đó, việc lựa chọn người bào chữa phù hợp là yếu tố quyết định để đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội.

5 điều 72) thì yêu cầu thay đổi người bào chữa không được chấp nhận.

15 Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố VAHS đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 điều 76 BLTTHS

CSPL: điểm b khoản 1 điều 76 BLTTHS 2015, điểm a khoản 3 mục II nghị quyết03/2004

Một người có thể đồng thời tham gia tố tụng với hai tư cách trong cùng một VAHS

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, pháp luật không quy định rõ một người có thể tham gia với bao nhiêu tư cách tố tụng trong cùng một vụ án Do đó, trong thực tế, có thể xảy ra trường hợp một người vừa tham gia với tư cách là đại diện pháp luật của bị hại, vừa là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Điều này cho thấy, mặc dù pháp luật không cấm và không quy định rõ về việc một người tham gia với nhiều tư cách tố tụng, nhưng vẫn hoàn toàn có thể tham gia với hai tư cách trong cùng một vụ án.

Những người TGTT có quyền và lợi ích pháp lý trong VAHS có quyền đề nghị thay đổi người THTT

Theo Điều 50 Luật Tố tụng hành chính, người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án hành chính, tuy nhiên, nếu không thuộc các trường hợp quy định, họ không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.

Đương sự có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch

Điều 65 của Luật TTHS không quy định quyền đề nghị thay đổi người giám định hoặc người phiên dịch của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Theo điểm g Khoản 1 Điều 4 của Luật TTHS, dù người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đương sự, nhưng họ không có quyền yêu cầu thay đổi người giám định hoặc người phiên dịch trong quá trình tố tụng.

8 Những người TGTT có quyền, lợi ích pháp lý có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình

Theo điểm Đ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều này cho phép họ có quyền nhờ luật sư bào chữa để đảm bảo quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng.

9 Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa

Theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, không chỉ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa mà cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được quyền này trong quá trình tố tụng, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình.

10.Trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người THTT

Theo quy định tại khoản 1, Điều 76 và khoản 3, Điều 77 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bào chữa chỉ bị thay đổi khi có yêu cầu từ người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ Người bào chữa sẽ không bị thay đổi nếu họ là người thân thích của người bị buộc tội, trừ trường hợp có đề nghị thay đổi từ phía người bị buộc tội hoặc đại diện, nhằm đảm bảo quyền lợi và thủ tục tố tụng đúng quy định.

11 Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Theo Khoản 2 Điều 66 BLTTHS 2015, người thân thích của bị can, bị cáo vẫn được làm chứng trong vụ án hình sự vì không thuộc các trường hợp không được làm chứng theo quy định Do đó, khi những người thân thích này có kiến thức về các tình tiết liên quan đến tội phạm hoặc vụ án, họ vẫn có thể được triệu tập làm chứng bởi cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tố tụng.

12 Người thân thích của Thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án đó

Theo Khoản 2 Điều 66 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người thân thích của Thẩm phán không thuộc các trường hợp không được làm người làm chứng Do đó, họ hoàn toàn có thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án if có liên quan Nếu người thân thích của Thẩm phán biết được các tình tiết quan trọng của vụ án, họ có thể được triệu tập để làm chứng, góp phần đảm bảo công lý và minh bạch trong quá trình tố tụng.

13 Người giám định có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Người giám định cần từ chối tham gia tố tụng hoặc có thể bị thay đổi nếu họ là người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo Việc này đảm bảo tính khách quan và tránh xung đột lợi ích trong quá trình tố tụng Trách nhiệm của người giám định là giữ gìn sự trung thực, công bằng trong quá trình đánh giá, nhưng trong những trường hợp liên quan đến người thân thiết, họ cần phải từ chối để đảm bảo tính minh bạch của quá trình tố tụng Tôn trọng quy định này giúp nâng cao hiệu quả và độ tin cậy của công tác giám định trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

CSPL: Điểm a Khoản 5 Điều 68 BLTTHS 2015.

14 Yêu cầu thay đổi người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội dưới 18 tuổi và người đại diện của họ luôn chấp nhận

CSPL: khoản 4, 5 điều 72; khoản 3 điều 77 BLTTHS 2015

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

5 điều 72) thì yêu cầu thay đổi người bào chữa không được chấp nhận.

15 Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố VAHS đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 điều 76 BLTTHS

CSPL: điểm b khoản 1 điều 76 BLTTHS 2015, điểm a khoản 3 mục II nghị quyết03/2004

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

16 Đầu thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

17 Người có nhược điểm về thể chất có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng

CSPL: điểm b khoản 2 điều 66 BLTTHS 2015

Những người không được làm chứng theo luật định là những người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được các tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm hoặc vụ án, hoặc không thể khai báo đúng đắn Tuy nhiên, những người có nhược điểm về thể chất nhưng vẫn có khả năng nhận thức các tình tiết liên quan hoặc khai báo đúng đắn vẫn có thể trở thành người làm chứng hợp pháp.

18 Chức danh điều tra viên chỉ có trong TTHS

CSPL: khoản 1 điều 45 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015

Theo đó, điều tra viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ điều tra hình sự.

19 Trong VAHS, có thể không có người TGTT với tư cách là bị hại

Theo Điều 143, cơ quan có thẩm quyền chỉ tiến hành khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu phạm tội rõ ràng Yêu cầu của bị hại được xem như một điều kiện góp phần xác định dấu hiệu phạm tội, chứ không phải là căn cứ tự động để khởi tố vụ án Điều này đảm bảo rằng việc khởi tố chỉ diễn ra khi có đủ bằng chứng và căn cứ pháp lý, giúp duy trì tính khách quan và chính xác trong công tác điều tra hình sự.

Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa

Theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, không chỉ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa mà còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được quyền này trong quá trình tố tụng Quyền tự bào chữa này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên liên quan trong quá trình giải quyết vụ án.

10.Trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người THTT

Theo quy định tại khoản 1, Điều 76 và khoản 3, Điều 77 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bào chữa chỉ bị thay đổi khi có yêu cầu từ người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ Người bào chữa sẽ không bị thay đổi nếu là người thân thích của người bị buộc tội, trừ khi chính người bị buộc tội hoặc người đại diện của họ có đề nghị thay đổi người bào chữa Do đó, việc thay đổi người bào chữa chỉ diễn ra khi có yêu cầu rõ ràng từ các bên liên quan trong tố tụng hình sự.

Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Theo Khoản 2 Điều 66 BLTTHS 2015, người thân thích của bị can, bị cáo không thuộc trường hợp không được làm chứng trong vụ án hình sự Vì vậy, họ vẫn có thể làm chứng nếu biết thông tin liên quan đến tội phạm hoặc vụ án, và được cơ quan tố tụng triệu tập.

Người thân thích của Thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án đó

Theo Khoản 2 Điều 66 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, người thân thích của Thẩm phán không nằm trong danh sách những người không được làm chứng, cho phép họ tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng Do đó, người thân thích của Thẩm phán có thể được triệu tập làm chứng nếu họ biết về các tình tiết liên quan đến vụ án.

Người giám định có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Người giám định cần từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi họ là người thân thích của bị hại, đương sự, hoặc của bị can, bị cáo Việc này đảm bảo tính khách quan và tránh xung đột lợi ích trong quá trình tố tụng Điều kiện này giúp duy trì tính công bằng của quá trình điều tra và xét xử, đồng thời tuân thủ quy định pháp luật về vai trò của người giám định.

CSPL: Điểm a Khoản 5 Điều 68 BLTTHS 2015.

Yêu cầu thay đổi người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội dưới 18 tuổi và người đại diện của họ luôn chấp nhận

CSPL: khoản 4, 5 điều 72; khoản 3 điều 77 BLTTHS 2015

Trong trường hợp người bị buộc tội dưới 18 tuổi hoặc người đại diện của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa, pháp luật quy định rõ rằng những người được chỉ định để bào chữa không thuộc diện những người không được bào chữa theo khoản 4 Điều 72 Ngoài ra, nếu một người bào chữa đồng thời đại diện cho nhiều người bị buộc tội trong cùng một vụ án nhưng quyền và lợi ích của các bị can, bị cáo đối lập nhau, thì việc bảo vệ quyền lợi của từng bên cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính công bằng.

5 điều 72) thì yêu cầu thay đổi người bào chữa không được chấp nhận.

Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố

CSPL: điểm b khoản 1 điều 76 BLTTHS 2015, điểm a khoản 3 mục II nghị quyết03/2004

Theo điểm b khoản 1 điều 76, “Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi,” luật chỉ căn cứ vào thời điểm bị buộc tội mà không đề cập đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Do đó, nếu hành vi phạm tội xảy ra khi chưa thành niên, nhưng người đó đã đủ 18 tuổi tại thời điểm khởi tố, thì không thuộc đối tượng bị xử lý theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS).

Đầu thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện

Theo Điều 4 Khoản 1 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, đầu thú là việc người phạm tội, sau khi bị phát hiện, tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình Đặc biệt, tự thú còn được hiểu là việc người phạm tội tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện hoặc bị bắt giữ Việc tự nguyện khai báo này giúp thể hiện sự hợp tác của người phạm tội và có thể được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quá trình xử lý vụ án.

Người có nhược điểm về thể chất có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng

CSPL: điểm b khoản 2 điều 66 BLTTHS 2015

Những người không được làm chứng theo luật định là những người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm hoặc vụ án, hoặc không thể khai báo chính xác Tuy nhiên, những người có nhược điểm về thể chất nhưng vẫn còn khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn về các tình tiết liên quan đến vụ án vẫn có thể làm chứng hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Chức danh điều tra viên chỉ có trong TTHS

CSPL: khoản 1 điều 45 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015

Theo đó, điều tra viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ điều tra hình sự.

Trong VAHS, có thể không có người TGTT với tư cách là bị hại

Theo điều 143, cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu phạm tội, do đó yêu cầu của bị hại chỉ là điều kiện, không phải là căn cứ để khởi tố vụ án Dù có dấu hiệu tội phạm và không thuộc trường hợp cần yêu cầu của bị hại theo khoản 1 điều 155, hành vi phạm tội vẫn có thể bị khởi tố, bất kể bị hại có yêu cầu hay không Vì vậy, trong vụ án hình sự, có thể không có người tham gia tố tụng với tư cách là bị hại, theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.

BÀI TẬP

1 Xác định tư các tham gia tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong vụ án trên tại phiên tòa sơ thẩm?

Tình tiết bổ sung thứ nhất

- Đối với A và B TGTT với tư cách là bị cáo

- Đối với công ty X TGTT với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Đối với N TGTT với tư cách là người đại diện hợp pháp của công ty X

- Đối với công ty Z TGTT với tư cách là bị hại

- Đối với M TGTT với tư cách là người đại diện hợp pháp của công ty Z

- Đối với ông D TGTT với tư cách là Hội thẩm nhân dân

2 Tòa án sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp này? Ai có thẩm quyền giải quyết?

Tình tiết bổ sung thứ hai

Trong phiên tòa sơ thẩm, thẩm phán có thể không đảm bảo tính khách quan nếu phát hiện rõ các mối quan hệ tình cảm hoặc quan hệ kinh tế liên quan, ảnh hưởng đến khả năng đưa ra quyết định công bằng Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự vô tư của thẩm phán để duy trì tính công bằng của quá trình tố tụng Khi có căn cứ rõ ràng về sự liên quan này, thẩm phán cần tránh khỏi các hoạt động xét xử để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và tính minh bạch của hệ thống tư pháp.

Trong trường hợp có căn cứ rõ ràng chứng minh mối quan hệ tình cảm thân thiết và kinh tế giữa Thẩm phán và luật sư F, có thể khẳng định rằng Thẩm phán khó đảm bảo tính khách quan và vô tư trong quá trình xét xử Điều này dẫn đến việc Tòa án có thể tiến hành thay đổi Thẩm phán mà không làm ảnh hưởng đến vai trò của luật sư F, nhằm đảm bảo tính công bằng và trung lập của phiên tòa.

Chuyên gia pháp lý F đã tham gia bào chữa cho bị cáo A từ khi khởi tố bị can, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị cáo Việc thay đổi Thẩm phán trước phần xét hỏi diễn ra theo quyết định của Hội đồng xét xử, dựa trên kết quả biểu quyết tại phòng nghị án theo đa số Quy trình này thể hiện sự minh bạch và công bằng trong quá trình tố tụng, góp phần nâng cao hiệu quả xét xử vụ án.

- Căn cứ Điều 49, Khoản 1,2 Điều 53, điểm a Khoản 4 Điều 72 BLTTHS 2015 và trên tin thần của Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP

3 Đề nghị của Kiểm sát viên có hợp lý không? Tài sao?

Đề nghị của Kiểm sát viên là không hợp lý vì luật sư F đã tham gia bào chữa cho bị cáo A từ khi khởi tố bị can, điều này phản ánh giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự và đảm bảo quyền lợi của bị cáo.

Luật sư F tham gia tố tụng từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố, mặc dù chưa có quyết định phân công Thẩm phán Điều này đồng nghĩa với việc luật sư F không thuộc diện bị cấm bào chữa do liên quan thân thích của người trong vụ án.

- Căn cư điểm a Khoản 4 Điều 72 BLTTHS 2015

1 Tư cách TGTT của B: a B làm đơn yêu cầu BTTH:

Trong trường hợp này, tư cách tham gia tố tụng của B là bị hại, dù ý chí chủ quan của N không nhằm cố ý gây thương tích cho B nhưng khách quan cho thấy hành vi chống đối người thi hành công vụ có thể gây thương tích cho người khác Nếu B nộp đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, cần xác định rõ B là bị hại để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của B trong vụ án Trong khi đó, nếu B không làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền và lợi ích của B có thể bị ảnh hưởng, do đó việc xác định vai trò của B là bị hại rất quan trọng trong quá trình xét xử.

Trường hợp này, tư cách Trung gian tố tụng của B là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trong quá trình xét xử, ý chí chủ quan của N không nhằm cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho B Đồng thời, B không có đơn yêu cầu bồi thường đối với N, điều này ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ án.

2 Tư cách TGTT của A và N:

- N là bị can A là bị đơn dân sự.

- N là bị can A là người giám hộ.

Dưới 18 tuổi, tư cách tham gia tố tụng của N không bị ảnh hưởng bởi việc N đúng 14 tuổi 6 tháng Theo pháp luật tố tụng hình sự, người dưới 18 tuổi có quy định chung về tư cách tham gia tố tụng, do đó, dù N mới 14 tuổi 6 tháng, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của N vẫn được áp dụng theo quy định chung này.

3 Giả sử ông B không bị thiệt hại về sức khỏe thì ông B có thể tham gia tố tụng với tư cách như thế nào?

Ông B có thể tham gia tố tụng với tư cách Nguyên đơn dân sự nếu không bị thiệt hại về sức khỏe Để thể hiện yêu cầu, ông B cần nộp đơn bồi thường thiệt hại Việc này cho phép ông có quyền tham gia tranh tụng và đòi bồi thường thiệt hại hợp pháp Đây là thủ tục cần thiết để bảo vệ quyền lợi của ông B trong quá trình tố tụng dân sự.

Trong trường hợp N đề nghị thay đổi Điều tra viên K, việc này chỉ được chấp nhận nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 49 và Điều 51 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Nếu Điều tra viên K đã từng trực tiếp tiến hành điều tra vụ án N trước đây trong một vụ án khác về tội gây rối trật tự công cộng bị oan, thì đề nghị thay đổi Điều tra viên chỉ có thể được chấp nhận nếu có căn cứ về mặt pháp lý phù hợp theo quy định của luật Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của bị can, bị cáo, đồng thời giữ vững tính khách quan trong quá trình điều tra.

Trong trường hợp Điều tra viên K từng tham gia điều tra vụ án mà N bị oan, việc xác định sự vô tư của Điều tra viên K là điều cần thiết Để kết luận rằng Điều tra viên K không trung thực trong quá trình thi hành nhiệm vụ, N phải cung cấp căn cứ rõ ràng và thuyết phục chứng minh được sự thiếu khách quan, không trung thực của Điều tra viên K Việc này góp phần đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong quá trình điều tra và xét xử, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bị oan.

1 Xác định tư cách của các chủ thể tham gia tố tụng trong vụ án trên?

- Đối với ông B và bà C TGTT với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị can A

- Đối với A TGTT với tư cách là bị can

- Đối với ông D TGTT với tư cách là bị hại

- Đối với ông X và ông Y TGTT với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Đối với luật sư K TGTT với tư cách là người bào chữa

- Đối với luật sư L TGTT với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại D

Trong quá trình điều tra, nếu điều tra viên là cháu ruột của bị can hoặc bị hại, điều này có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của quá trình tố tụng Để đảm bảo sự công bằng và chính xác trong việc xác định sự thật, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định rõ những trường hợp phải thay đổi hoặc từ chối tham gia tố tụng của người có thẩm quyền, trong đó bao gồm người thân thích của các bên tham gia vụ án Người thân thích gồm vợ, chồng, cha mẹ, ông bà, anh, chị, em ruột, và các họ hàng nội ngoại, chú bác, cậu, cô, dì, cháu ruột, nhằm đảm bảo quá trình điều tra diễn ra khách quan, tránh các trường hợp có thể làm sai lệch kết quả điều tra.

Trong trường hợp này, ông D tham gia vụ việc với vai trò là bị hại, đồng thời điều tra viên phụ trách giải quyết vụ án là cháu ruột của ông D Do sự liên quan họ hàng trực tiếp này, cần thiết phải thay đổi điều tra viên để đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong quá trình điều tra hoặc điều tra viên phải từ chối giải quyết vụ án để tránh xung đột lợi ích.

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 49 BLTTHS 2015.

Trong quá trình điều tra, nếu kiểm sát viên phát hiện điều tra viên được phân công giải quyết vụ án là cha của luật sư K, cần thực hiện các bước xử lý phù hợp nhằm đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong quá trình tố tụng Theo quy định của pháp luật, điều tra viên này phải được loại khỏi quá trình điều tra để tránh xung đột lợi ích hoặc ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án Việc này nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và duy trì tính khách quan của kết quả điều tra, đồng thời đảm bảo không có sự can thiệp hoặc ảnh hưởng từ mối quan hệ gia đình Trách nhiệm của các cơ quan chức năng là thực hiện kiểm tra, xử lý kịp thời theo đúng quy định để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong tố tụng hình sự.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, có sự phân biệt rõ ràng giữa người bào chữa cho người bị buộc tội và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự Tuy nhiên, tư cách tham gia tố tụng của hai chủ thể này là giống nhau Pháp luật tố tụng hình sự quy định một số khác biệt về các trường hợp không cho phép người bào chữa thực hiện quyền của mình, trong khi người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự không bị hạn chế về việc tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Ngày đăng: 13/12/2022, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w