Báo cáo tiểu luận Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội được nghiên cứu với nội dung gồm 5 chương. Chương 1: Tổng quan nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý luận; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu; Chương 5: Đề xuất giải pháp thúc đẩy sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên. Mời các bạn cùng tham khảo.
Lý do lựa chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học (NCKH) trong sinh viên đóng vai trò vô cùng thiết yếu trong công tác đào tạo, hội nhập quốc tế và văn hóa giáo dục hiện nay Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội đã tích hợp NCKH thành một phần học phần của nhiều ngành để nâng cao nhận thức và kiến thức của sinh viên Nhà trường tổ chức nhiều hoạt động NCKH phong phú, phổ biến đến các khoa, ngành và lớp học, trong đó đặc biệt thành công là các cuộc thi NCKH cấp trường, kết hợp thúc đẩy ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên qua chương trình “Sinh viên và ý tưởng khởi nghiệp” qua 3 mùa thành công rực rỡ Nhờ đó, trường đánh giá và xếp loại các đề tài NCKH xuất sắc để đề cử tham dự các hoạt động NCKH cấp cao hơn như “Tài năng Khoa học trẻ” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, góp phần thúc đẩy phong trào nghiên cứu, sáng tạo trong sinh viên.
Dù số lượng sinh viên tham gia Nghiên cứu Khoa học tại Trường Đại học Công Nghiệp đã tăng nhưng vẫn còn thấp do sinh viên chưa thực sự hiểu rõ và ứng dụng hoạt động này, trở thành vấn đề đáng quan tâm Tình hình dịch Covid-19 phức tạp ảnh hưởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên, đòi hỏi các biện pháp thúc đẩy hiệu quả hơn Nhiều nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên, từ đó, đề tài của tôi hướng đến phân tích các yếu tố này trước dịch Covid-19, đặc biệt với sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội.
Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cơ sở lý luận
Một số vấn đề cơ bản về NCKH
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là quá trình tham vấn và điều tra có hệ thống nhằm gia tăng lượng kiến thức, phản ánh bản chất và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội (Theo Collis & Hussey, 2014) Khoa học bao gồm hệ thống tri thức chủ yếu phát triển từ kinh nghiệm và tri thức khoa học, giúp mở rộng và phát triển hiểu biết trong các lĩnh vực nghiên cứu NCKH nhằm mục tiêu ứng dụng phương pháp khoa học để phát triển kiến thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
NCKH mang tính phổ quát và tính khái quát hóa về vấn đề nghiên cứu thông qua việc đóng góp tri thức mới.
Nghiên cứu khoa học (NCKH) mang tính hệ thống và quy chuẩn nhờ vào việc thực hiện các công trình nghiên cứu theo một quy trình chuẩn, bao gồm các bước từ xác định vấn đề nghiên cứu, tổng quan tài liệu, đặt câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn phương pháp phù hợp, phân tích kết quả, đến việc đánh giá và tái thẩm định các giả thuyết liên quan Quá trình này đảm bảo tính hệ thống, chính xác và tin cậy của kết quả nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu khoa học.
Kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) được diễn giải và phân tích dựa trên các bằng chứng, dữ kiện và lập luận logic dựa trên phạm vi lý thuyết cũng như các giả định, giả thuyết nghiên cứu; đồng thời, kết quả còn dựa trên phân tích thống kê từ dữ liệu thu thập được, đảm bảo phù hợp và không vượt quá phạm vi của dữ liệu đã có Có nhiều loại hình nghiên cứu khoa học khác nhau, tùy thuộc vào mục đích và phương pháp tiếp cận để phục vụ tốt nhất cho quá trình nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm mở rộng kiến thức khoa học của con người trong một lĩnh vực cụ thể Loại hình nghiên cứu này tập trung vào việc trả lời các câu hỏi mang tính chất nguyên lý và nền tảng của khoa học Mục tiêu chính của nghiên cứu khoa học cơ bản là phát triển hiểu biết sâu sắc về các hiện tượng tự nhiên và các quy luật cơ bản của ngành khoa học đó Các kết quả của nghiên cứu này góp phần hình thành nền tảng kiến thức vững chắc cho các nghiên cứu ứng dụng sau này.
Nghiên cứu khoa học ứng dụng là loại hình nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng các thành tựu khoa học và tri thức hiện có vào các mục đích cụ thể, góp phần thúc đẩy phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra, quyết định tham gia nghiên cứu khoa học càng trở nên cấp thiết, nhằm cung cấp các giải pháp ứng phó hiệu quả và nâng cao năng lực chống dịch của cộng đồng Đại dịch COVID-19 đã tác động mạnh mẽ đến các hoạt động nghiên cứu, thúc đẩy các nhà khoa học tham gia tích cực hơn để tìm ra các phương pháp phòng chống và điều trị bệnh nhanh chóng hơn.
Năm 2019 ghi nhận tâm dịch COVID-19 đầu tiên tại thành phố Vũ Hán, miền Trung Trung Quốc, đây là sự kiện mang tính quy luật do diễn ra trong thời gian dài và ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Thuyết hành vi hoạch định
Thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991) phát triển từ Thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen & Fishbein, 1975), nhấn mạnh rằng một hành vi có thể được dự đoán hoặc giải thích dựa trên các quyết định thực hiện hành vi đó Thuyết cho thấy rằng thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức về hành vi đều ảnh hưởng đến việc hình thành ý định hành vi Trong đó, chuẩn chủ quan bao gồm các yếu tố bên ngoài tầm kiểm soát của cá nhân.
Thuyết tự quyết
Thuyết tự quyết của Deci & Ryan (1985) phân loại động cơ hành động của con người thành động cơ bên ngoài, động cơ bên trong, và không động cơ, trong đó động cơ bên ngoài và động cơ bên trong là những yếu tố quyết định chính (Ryan & Deci, 2000) Theo đó, động cơ bên trong phản ánh sự tự thúc đẩy và đam mê cá nhân, còn động cơ bên ngoài liên quan đến phần thưởng hoặc áp lực từ bên ngoài, và hai loại động cơ này không loại trừ lẫn nhau mà còn bổ sung, tác động cùng nhau đến hành vi của sinh viên trong quyết định tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH).
Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham MASLOW
Abraham Maslow (1906-1945) cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ các nhu cầu cơ bản của họ Ông xác định rằng các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao dựa trên mức độ quan trọng, gồm 5 bậc khác nhau Các nhu cầu này được thể hiện rõ ràng qua mô hình hình chữ Maslow, giúp hiểu rõ động lực thúc đẩy hành vi của con người.
Mục tiêu, đối t ợng, phạm vi ƣ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh h ởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh ƣ viên
Tr ờng Đại học Công Nghiệp Hà Nội trong dịch Covid – 19.ƣ b Mục tiêu cụ thể :
Phản ánh thực trạng tham gia NCKH của sinh viên điển hình là sinh viên Tr ờngƣ Đại học Công Nghiệp Hà Nội tr ớc diễn biến dịch Covid –ƣ 19.
Trong bối cảnh dịch Covid-19, nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia Nghiên cứu Khoa học của sinh viên Khoa Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội Các yếu tố như mức độ tiếp cận nguồn tài nguyên, khả năng thích nghi với các hình thức học tập trực tuyến, và ý thức tự giác trong học tập đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy tinh thần nghiên cứu của sinh viên Đánh giá mức độ ảnh hưởng cho thấy dịch bệnh đã làm giảm khả năng tham gia NCKH do hạn chế về tiếp xúc trực tiếp và các hoạt động thí nghiệm, song vẫn có những yếu tố tích cực như sự hỗ trợ từ giảng viên và môi trường học tập linh hoạt Việc phân tích các yếu tố này giúp đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia NCKH của sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh, góp phần thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học trong thời kỳ khó khăn.
Đề xuất các giải pháp tạo động lực thúc đẩy sinh viên tham gia vào hoạt động NCKH.
Nhân tố ảnh h ởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên ƣ
Tr ờng Đại học Công Nghiệp Hà Nội trong dịch Covid – 19.ƣ
Đối t ợng ƣ nghiên cứu
Quyếết đ nh thamị gia NCKH c a sinh viếnủ
S quan tâm,ự khuyếến khích t phía nhàừ
Môi trường nghiến Đ ng cộ ơ
Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Trong tình hình dịch Covid – 19 (cụ thể tháng 11/2021)
Không gian: Tr ờng Đại học Công Nghiệp Hàƣ Nội.
Các yếu tố môi trường đại học ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội trong bối cảnh dịch Covid-19 Môi trường học tập tích cực, hỗ trợ từ giảng viên, cơ sở vật chất hiện đại cùng môi trường đổi mới sáng tạo thúc đẩy sinh viên tham gia nghiên cứu Ngoài ra, nhận thức về tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học đối với sự phát triển bản thân và sự nghiệp cũng là yếu tố quyết định Trong thời kỳ dịch Covid-19, sự thích nghi với các hình thức học tập trực tuyến và sự hỗ trợ từ nhà trường giúp nâng cao khả năng tham gia của sinh viên vào các hoạt động nghiên cứu Tất cả những nhân tố này góp phần tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học trong hoàn cảnh dịch bệnh.
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Năng lực sinh viên được định nghĩa là “sự kết hợp của nhiều kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó” (Uỷ ban Cộng đồng châu Âu, 2005, tr.3, xem trong Nguyễn Thành Ái, 2015) Khi năng lực sinh viên càng cao, toàn diện về nhiều mặt và đạt được cả 3 yếu tố gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ, sẽ thúc đẩy khả năng tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên Điều này giúp chúng ta hình thành giả thiết rằng, nâng cao năng lực sinh viên sẽ góp phần thúc đẩy họ tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu và phát triển.
H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực sinh viên với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. b Động cơ
Dựa trên lý thuyết về tính tự quyết của Deci và Ryan (1985), động cơ hành động của con người được phân loại thành động cơ bên ngoài, động cơ bên trong và không động cơ, trong đó động cơ bên ngoài và động cơ bên trong đóng vai trò quyết định quan trọng (Ryan & Deci, 2000) Động cơ bên trong xuất phát từ lòng yêu thích, đam mê nghiên cứu khoa học của sinh viên, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tham gia hoạt động này Ngược lại, động cơ bên ngoài liên quan đến nhận thức về các khó khăn, lợi ích của việc tham gia nghiên cứu khoa học, từ đó ảnh hưởng đến quyết định có hay không tham gia Khi động cơ về nghiên cứu khoa học ngày càng tăng lên, sẽ thúc đẩy quyết định tham gia hoạt động của sinh viên một cách tích cực, dẫn đến giả thuyết về tác động tích cực của động cơ nội tại và ngoại tại đối với việc tham gia Nghiên cứu Khoa học của sinh viên.
H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa động cơ với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. c Môi trường nghiên cứu
Môi trường nghiên cứu bao gồm cơ sở vật chất như trang thiết bị, tài liệu tham khảo, thư viện và các yếu tố về giảng viên như trình độ chuyên môn, sự nhiệt huyết trong hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), cùng với các chính sách phúc lợi của Nhà nước như luật về NCKH và chế độ khen thưởng Một môi trường nghiên cứu tốt, đáp ứng nhu cầu của sinh viên trong việc tham gia NCKH sẽ thúc đẩy tích cực sự tham gia của sinh viên vào hoạt động nghiên cứu Chính vì vậy, nhóm em đưa ra giả thuyết rằng môi trường nghiên cứu có ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia của sinh viên vào NCKH.
H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa môi trường nghiên cứu với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. d Sự quan tâm, khuyến khích từ phía nhà trường
Sự quan tâm và khuyến khích từ phía nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động Nghiên cứu Khoa học (NCKH) của sinh viên, thông qua các chế độ thưởng về vật chất và tinh thần Các hình thức truyền thông như tuyên truyền qua website, và phổ biến thông qua giáo viên chủ nhiệm của từng khoa, ngành góp phần nâng cao nhận thức về NCKH trong sinh viên Chính sách nhà trường hấp dẫn, cùng các hoạt động truyền thông mạnh mẽ sẽ thu hút ngày càng nhiều sinh viên tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học Nhóm em đã đưa ra giả thuyết rằng, mức độ quan tâm, khuyến khích này có mối liên hệ trực tiếp đến hành vi và sự tham gia của sinh viên trong các chương trình NCKH.
H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sự quan tâm, khuyến khích của nhà trường với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. e.Dịch Covid – 19
Dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đáng kể đến các chính sách giãn cách xã hội, qua đó làm gián đoạn việc tiếp cận tài liệu và hoạt động nhóm của sinh viên trong nghiên cứu khoa học (NCKH) Yếu tố khoảng cách và hạn chế gặp mặt trực tiếp đã trở thành trở ngại lớn trong quá trình thảo luận, trao đổi thông tin và tiến hành nghiên cứu.
H5: Có mối quan hệ ngược chiều giữa sự quan tâm, khuyến khích của nhà trường với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. f Ngành học và giới tính
Có sự chênh lệch rõ rệt giữa giới tính nam và nữ trong việc tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), cho thấy giới tính ảnh hưởng đến quyết định của sinh viên Bên cạnh đó, các ngành học như khối kinh tế và khối kỹ thuật cũng góp phần làm hình thành sự khác biệt trong việc tham gia NCKH của sinh viên Những yếu tố này đều là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên, cần được xem xét để thúc đẩy sự đa dạng và mở rộng hoạt động nghiên cứu trong các ngành học khác nhau.
H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sự quan tâm, khuyến khích của nhà trường với quyết định tham gia NCKH của sinh viên.
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm tiến hành nghiên cứu theo định tính kết hợp với nghiên cứu định
Nghiên cứu tổng quan
Qua việc nghiên cứu các thuyết tạo động lực và tham khảo các bài viết về động lực nhóm, chúng ta đã nhận thức rõ về khái niệm cơ bản liên quan đến động lực Đồng thời, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố thúc đẩy tinh thần học tập và nghiên cứu của sinh viên Điều này góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo và khuyến khích sinh viên phát triển năng lực nghiên cứu sáng tạo.
Nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu khám phá nhằm phân tích các tài liệu thứ cấp và tiến hành thảo luận nhóm với sinh viên tham gia nghiên cứu để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Nghiên cứu định l ợng ƣ
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để phân tích sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên dựa trên số lượng tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, bao gồm cả sinh viên tham gia và không tham gia Đồng thời, nghiên cứu còn nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lý do tại sao sinh viên không tham gia nghiên cứu khoa học và mức thời gian mà sinh viên tham gia dành cho hoạt động nghiên cứu.
Ph ơng pháp chọn mẫu: là ph ơng pháp chọn mẫu ngẫuƣ ƣ nhiên
Sinh viên năm 3 thường có đánh giá cao nhất về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu khoa học, tiếp theo là sinh viên năm 2 Trong khi đó, sinh viên năm nhất mới nhập học thường ít biết đến hoạt động nghiên cứu khoa học, ảnh hưởng đến mức độ quan tâm và tham gia của họ vào các hoạt động này.
Ph ơng pháp chọn mẫu, thu thập, xử lí ƣ dữ liệu
Quy trình thu thập thông tin
Bước 1: Xác định dữ liệu
Dữ liệu cần thu thập gồm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp, nhằm hiểu rõ các nhân tố tác động chính Các giá trị định lượng hoặc mô tả của dữ liệu sẽ giúp phân tích chính xác các yếu tố này, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự tham gia của sinh viên vào hoạt động nghiên cứu khoa học Điều này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu tại trường, đồng thời thúc đẩy phong trào nghiên cứu trong sinh viên.
Trong bước thứ hai, cần xác định nguồn thu thập dữ liệu để đảm bảo lượng thông tin phong phú và đủ số phiếu khảo sát, nhóm quyết định sử dụng Google Biểu Mẫu để thiết kế và phát hành phiếu khảo sát một cách hiệu quả.
Bước 3: Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu bằng ph ơng pháp điều tra mẫu thông qua phiếu hỏi.ƣ
Bước 4: Thiết kế công cụ
Dùng công cụ google biểu mẫu.
Bước 5: Thử nghiệm công cụ
Bạn cần thử nghiệm tính khả thi của công cụ trên nhóm đối tượng điều tra và được điều tra để đảm bảo hiệu quả và độ chính xác Hướng dẫn rõ ràng, dễ hiểu giúp người dùng dễ dàng đọc, hiểu và trả lời mà không gây đa nghĩa, đồng thời việc nhập dữ liệu cần được thực hiện đơn giản, dễ truyền tải và lưu trữ an toàn.
Bước 6: Tiến hành thu thập dữ liệu
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả
a Thống kê về năm học của sinh viên
Hình 4:Biểu đồ tỉ lệ (%) các khóa của sinh viên
Dựa trên biểu đồ, đa số sinh viên tham gia khảo sát là sinh viên năm hai và năm ba, trong khi sinh viên năm nhất chiếm một phần nhỏ Một số sinh viên năm tư hiện đang bận học để chuẩn bị thi tốt nghiệp, do đó không thể tham gia khảo sát Thống kê cho thấy mức độ nhận biết về Nghiên cứu Khoa học (NCKH) của sinh viên khá cao, góp phần nâng cao ý thức nghiên cứu trong cộng đồng sinh viên.
Hình 5: Biểu đồ thể hiện (%) số sinh viên biết đến NCKH
Dữ liệu khảo sát cho thấy gần 96,1% sinh viên tham gia hoạt động Nghiên cứu Khoa học (NCKH), cho thấy sự phổ biến và sự quan tâm lớn từ phía sinh viên Nguyên nhân chính giúp sinh viên biết và tham gia NCKH là do tiếp cận qua các học phần, hướng dẫn của thầy cô và các trang webs về NCKH Các nguồn thông tin này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh viên tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Hình 6: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) lí do sinh viên biết đến NCKH
Dưới 81,6% sinh viên biết đến học phần Nghiên cứu Khoa học (NCKH), chủ yếu thông qua các anh chị khóa trên (40,8%) và thầy cô giáo (60,5%) Ngoài ra, có khoảng 35,5% sinh viên biết đến NCKH qua bạn bè hoặc các trang web, mạng xã hội Tuy nhiên, còn lại 5,3% sinh viên vẫn chưa biết đến hoạt động NCKH, cho thấy cần tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức về vai trò của nghiên cứu khoa học trong sinh viên.
2 Các nhân tố ảnh h ởng đếnƣ NCKH
Bảng khảo sát đ a ra 5 mức độ để sinh viên đánh giá ƣ với:
Các nhân tố ảnh h ởng ƣ đến NCKH
Thống kê về nhận thức của sinh viên
Hình 7: Biểu đồ tỉ lệ nhận thức về lợi ích khi tham gia NCKH
Nhìn vào biểu đồ, chúng ta thấy rằng Nghiên cứu khoa học (NCKH) mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên, bao gồm nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng mềm, xây dựng các mối quan hệ, trải nghiệm thực tế và nhận được sự vinh danh, khen thưởng Các sinh viên đều thể hiện sự đồng ý và hoàn toàn đồng ý về những lợi ích này, cho thấy tầm quan trọng của NCKH trong quá trình học tập và phát triển cá nhân.
Hình 8: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ nhận thức của sinh viên về khó khăn khi tham gia
Khó khăn lớn trong việc tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) bao gồm việc tiếp cận tài liệu nghiên cứu còn gặp nhiều trở ngại, khó phân bổ thời gian hợp lý để thực hiện NCKH, cũng như gặp khó khăn trong việc lập nhóm làm việc Đa số sinh viên thường chọn hình thức làm việc độc lập hoặc hợp tác với bạn cùng lớp, đồng ý với ý kiến này để vượt qua các thách thức trong quá trình nghiên cứu.
2.2 Thống kê về môi trường học tập
Hình 9: Thống kê về cơ sở vật chất của nhà trường
Trường đại học tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) với không gian thoải mái và tiện ích Nhà trường trang bị đầy đủ các thiết bị, máy móc hiện đại phục vụ công tác NCKH của sinh viên Ngoài ra, thư viện của trường còn sở hữu hệ thống tài liệu tham khảo phong phú và đa dạng, hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
Hình 10: Thống kê về giảng viên
Nghiên cứu khoa học (NCKH) đặc thù liên quan đến các lĩnh vực mang tính khoa học hay cần chuyên môn cao và hiểu biết sâu rộng Vì vậy, nhu cầu về các yếu tố liên quan đến NCKH đều được sinh viên đồng ý và cho rằng phù hợp Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu hiệu quả và đạt được kết quả tốt nhất.
Hình 11:Thống kê về kiến thức
Mức ảnh hưởng tích cực đến quyết định tham gia Nghiên cứu Khoa học của sinh viên liên quan đến sự am hiểu sâu rộng và kiến thức chuyên môn Trong khi đó, nhiều sinh viên cho rằng yếu tố tích lũy cao mới tham gia NCKH là hạn chế, bởi vì để tham gia NCKH không chỉ cần điểm tích lũy cao mà còn cần có kỹ năng mềm và các yếu tố khác Điều này chứng tỏ rằng việc tham gia NCKH đòi hỏi nhiều yếu tố đa dạng, không chỉ dựa vào thành tích học tập.
2.3 Thống kê về năng lực sinh viên
Hình 12: Thống kê về kĩ năng của sinh viên
Sinh viên muốn tham gia nghiên cứu khoa học cần có các kỹ năng quan trọng như thuyết trình, tư duy logic và phân tích tốt Những kỹ năng này phù hợp với thống kê về kiến thức đã nêu trên, giúp sinh viên nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển bản thân một cách hiệu quả.
Hình 13: Thống kê về thái độ của sinh viên
Sinh viên chưa thực sự quan tâm và tham gia tích cực vào hoạt động Nghiên cứu Khoa học (NCKH), điều này thể hiện rõ qua khảo sát cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH trong trường còn rất thấp so với tổng số sinh viên toàn trường.
2.4 Thống kê về sự quan tâm, khuyến khích từ phía nhà trường
Hình 14: Thống kê về sự quan tâm khuyến khích từ nhà trường
Nhà trường đã cập nhật thông tin về NCKH một cách kịp thời và nhanh chóng, nâng cao ý thức và động lực của sinh viên trong nghiên cứu khoa học Đồng thời, nhà trường tổ chức nhiều chương trình ngoại khóa về NCKH nhằm khuyến khích sinh viên tham gia tích cực và phát triển kỹ năng nghiên cứu Ngoài ra, các hoạt động trao thưởng, học bổng cho những sinh viên xuất sắc trong nghiên cứu đã thúc đẩy phong trào NCKH trong toàn trường.
2.5 Thống kê ảnh hưởng Covid-19
Hình 15 cho thấy ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến ý định tham gia của sinh viên, khi đại đa số chịu tác động khá lớn do khó khăn trong teamwork và việc thu thập dữ liệu bị cản trở Tuy nhiên, dịch bệnh cũng tạo động lực giúp sinh viên thích nghi với môi trường mới.
2.6 Thống kê về ý định tham gia NCKH của sinh viên
Hình 16: Thống kê ý định tham gia NCKH của sinh viên
Phần lớn sinh viên chưa thực sự quan tâm và tích cực tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), theo khảo sát thực tế tại các trường đại học, mức độ tham gia của sinh viên vào hoạt động NCKH còn rất hạn chế, chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số sinh viên toàn trường.
Thống kê về năng lực sinh viên
Hình 12: Thống kê về kĩ năng của sinh viên
Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu khoa học cần có các kỹ năng quan trọng như thuyết trình tốt và tư duy logic vững vàng Những kỹ năng này không chỉ nâng cao hiệu quả nghiên cứu mà còn phù hợp với thống kê về kiến thức đã được đề cập, giúp sinh viên phát triển toàn diện để đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu.
Hình 13: Thống kê về thái độ của sinh viên
Nhận thấy rằng, sinh viên chưa thực sự quan tâm và chủ động tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) Thực tế khảo sát cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH tại trường rất thấp, chiếm phần nhỏ trong tổng số sinh viên toàn trường Điều này cho thấy cần có các giải pháp thúc đẩy sự quan tâm và tham gia tích cực của sinh viên vào hoạt động NCKH để nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng nghiên cứu của sinh viên.
Thống kê về sự quan tâm, khuyến khích từ phía nhà tr ờng ƣ
Hình 14: Thống kê về sự quan tâm khuyến khích từ nhà trường
Nhà trường đã chủ động và nhanh chóng cập nhật thông tin về nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu trong sinh viên Đồng thời, tổ chức nhiều chương trình ngoại khóa về NCKH nhằm khuyến khích sự sáng tạo và đam mê nghiên cứu của sinh viên Nhà trường cũng thường xuyên trao thưởng, học bổng cho những sinh viên tích cực tham gia NCKH, tạo động lực để họ phát triển kỹ năng và kiến thức chuyên môn.
2.5 Thống kê ảnh hưởng Covid-19
Hình 15 cho thấy thống kê ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với ý định tham gia của sinh viên Đại đa số sinh viên nhận thấy dịch bệnh ảnh hưởng khá lớn, gây khó khăn trong việc teamwork và thu thập dữ liệu Tuy nhiên, dịch bệnh cũng tạo động lực giúp sinh viên thích nghi với môi trường xung quanh.
2.6 Thống kê về ý định tham gia NCKH của sinh viên
Hình 16: Thống kê ý định tham gia NCKH của sinh viên
Sinh viên chưa thực sự có nhu cầu hoặc ý thức rõ ràng về việc tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) Thực tế khảo sát cho thấy, mặc dù có một số sinh viên tham gia NCKH tại trường, nhưng tỷ lệ này vẫn còn rất nhỏ so với tổng số sinh viên toàn trường, phản ánh rằng hoạt động này chưa trở thành phần quan trọng trong đời sống sinh viên.
Thống kê về ý định tham gia NCKH của sinh viên
Hình 16: Thống kê ý định tham gia NCKH của sinh viên
Theo khảo sát, nhận thấy sinh viên chưa thực sự quan tâm và tích cực tham gia vào hoạt động Nghiên cứu Khoa học (NCKH), khi số lượng sinh viên tham gia còn rất thấp so với tổng thể sinh viên của trường.
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Đề xuất giải pháp
Từ đó, nhóm 12 đ a ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự tham gia NCKH của sinh viên ƣ Đại học Công nghiệp Hà Nội nh sau:ƣ
Thứ nhất: Cần tạo ra một môi trường NCKH lý tưởng cho sinh viên
Việc rà soát, điều chỉnh và thiết kế chương trình học phù hợp giúp tăng cường kiến thức nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giảm thời gian học trên lớp để họ có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động NCKH Khơi dậy đam mê nghiên cứu trong trường và lớp thông qua việc tạo cơ hội trao đổi, làm việc cùng các giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành, từ đó truyền động lực nghiên cứu mạnh mẽ cho sinh viên Phòng Quản lý khoa học phối hợp với Đoàn trường phát động phong trào thi đua NCKH, xây dựng môi trường và truyền thống NCKH trong toàn trường Khuyến khích thành lập câu lạc bộ NCKH trong trường, tổ chức sinh hoạt thường xuyên để sinh viên có cơ hội tham gia cùng giảng viên vào các đề tài nghiên cứu Đầu tư xây dựng hệ thống thư viện phong phú, đầy đủ nguồn kiến thức và hệ thống máy tính kết nối mạng giúp sinh viên truy cập tài liệu cần thiết cho các công trình nghiên cứu Khi thực hiện nghiên cứu, sinh viên cần hiểu rõ lịch sử, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu; hệ thống tài liệu tham khảo phong phú, gồm sách in và điện tử, hỗ trợ giải đáp các câu hỏi trong quá trình nghiên cứu.
Thứ hai: Cần thiết phải xây dựng động cơ tham gia NCKH của sinh viên
Để thúc đẩy sinh viên ham học hỏi, khám phá và sáng tạo, cần tạo cơ hội để họ thể hiện khả năng bản thân, vì động cơ thể hiện giúp kích thích cảm xúc tích cực trong nghiên cứu khoa học Đồng thời, cần ngăn chặn các động cơ tham gia nghiên cứu chỉ để đối phó hoặc vì ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách Giảng viên có thể hỗ trợ sinh viên bằng cách sử dụng nội dung môn học phù hợp, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích hoạt động khoa học cả trong và ngoài trường để sinh viên có thể tiếp cận NCKH và tích hợp công nghệ thông tin vào nghiên cứu Hướng đến những đề tài liên ngành sẽ giúp sinh viên mở rộng lĩnh vực kiến thức Với sinh viên, họ cần nhận thức rằng tham gia nghiên cứu khoa học là hình thức tự học, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và sáng tạo không ngừng Việc tự học, tự đặt vấn đề và xây dựng kế hoạch học tập, nghiên cứu cá nhân là yếu tố then chốt để phát triển bản thân trong hoạt động nghiên cứu.
Thứ ba: Nâng cao năng lực của sinh viên
Các giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực của sinh viên bằng cách giao các bài tập nghiên cứu cho cá nhân và nhóm, khuyến khích sinh viên tự tìm đọc tài liệu và nghiên cứu trên các tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước Họ tổ chức các hoạt động trao đổi trên các diễn đàn chính thức và không chính thức, giúp sinh viên mở rộng kiến thức và kỹ năng Ngoài ra, tổ chức thi cuối môn bằng hình thức làm tiểu luận giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng tìm kiếm, đọc, tổng hợp tài liệu, xác định vấn đề, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, làm việc nhóm, trình bày và bảo vệ ý tưởng Quá trình này còn hướng sinh viên viết bài đăng hội thảo, hướng tới các bài báo quốc tế, từ đó chuyển giao giá trị nghiên cứu vào thực tiễn đời sống.
Thứ tư: Tăng cường sự quan tâm và khuyến khích của nhà Trường đối với hoạt động NCKH của sinh viên
Cơ sở vật chất và nguồn kinh phí là yếu tố thiết yếu để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, cần nhận được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường Để tạo môi trường nghiên cứu lý tưởng, nhà trường nên tăng cừng kinh phí hỗ trợ sinh viên dựa trên mức độ hoàn thành đề tài, ưu tiên những đề tài có tính ứng dụng cao, nhằm thúc đẩy động lực nghiên cứu của sinh viên Ngoài ra, giảng viên cần định hướng rõ ràng cho sinh viên nghiên cứu, đề ra các vấn đề cần khám phá và khuyến khích họ tích cực tìm hiểu, khám phá, đồng thời hỗ trợ sinh viên vượt qua khó khăn trong quá trình nghiên cứu.
Thứ năm : Thay đổi nhận thức, cách tiếp cận mới cho sự phát triển trong bối cảnh dịch Covid 19
Sinh viên cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước Thực tế vừa qua cho thấy phương pháp học truyền thống: thầy – trò, trường – lớp trực tiếp tương tác không còn phù hợp trong bối cảnh dịch bệnh, khi tất cả mọi người đều phải học và làm việc trực tuyến để đảm bảo an toàn Dù ban đầu gặp nhiều khó khăn, nhờ sự thích nghi, chúng ta đã hình thành thói quen học trực tuyến, mở ra cơ hội phát triển công nghệ tổ chức, công nghệ dạy học và công nghệ vận hành của nhà trường Nhân dịp này, các cơ sở giáo dục cần nhìn nhận lại và điều chỉnh các phương thức phù hợp với điều kiện mới, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận với nghiên cứu khoa học (NCKH) hơn, nâng cao chất lượng học tập trong thời kỳ đặc biệt.
Học trực tuyến hiệu quả đòi hỏi mỗi sinh viên phải tự trau dồi và rèn luyện kỹ năng tự học, đây là kỹ năng quan trọng nhất và là năng lực bắt buộc đối với mỗi người Kỹ năng tự học giúp sinh viên tự chủ trong việc học, nâng cao hiệu quả và thích nghi tốt với môi trường học tập trực tuyến Để thành công trong học trực tuyến, việc phát triển kỹ năng tự học là yếu tố then chốt cần được chú trọng hàng đầu.
Trong thời kỳ 4.0, "Công dân học tập" hướng tới tự học và tự tìm tòi nghiên cứu khoa học, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài và không xác định được thời điểm kết thúc Để học online hiệu quả, sinh viên cần thành thạo các chức năng của điện thoại thông minh, máy vi tính và máy tính bảng để truy cập chương trình, gọi đúng tên các phần mềm và tương tác với giảng viên hỗ trợ đề tài nghiên cứu khoa học Việc tạo không gian học tập thoải mái, chuẩn bị sẵn dụng cụ học tập và chọn vị trí học thích hợp như nơi yên tĩnh, sáng sủa, thoáng mát là những yếu tố then chốt giúp tiếp thu kiến thức tốt hơn.
Trong thời dịch bệnh, đặc biệt là hiện nay, sinh viên dành nhiều thời gian học tập tại nhà và cần xây dựng thói quen đọc sách và học tập mỗi ngày như một món ăn tinh thần không thể thiếu Thay vì lãng phí thời gian truy cập mạng để tìm thông tin “hot”, hãy tập trung vào việc học các chương trình phù hợp và tham khảo các đề tài nghiên cứu khoa học trước đó, giúp duy trì thói quen học đều đặn hàng ngày Khi có thói quen học và đọc mỗi ngày, chúng ta sẽ cảm thấy thiếu hụt khi ngày nào đó không thể thực hiện, như thể thiếu một yếu tố cần thiết cho tinh thần, và thói quen này chính là liều thuốc bổ cho trí não Việc học tập liên tục giúp rèn luyện tư duy, kích thích sự sáng tạo, từ đó thúc đẩy sự tự tin trong công việc và cuộc sống Những kiến thức thu nhận được còn giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và có thể lan tỏa, chia sẻ đến người thân, bạn bè, đồng nghiệp, góp phần phòng chống dịch hiệu quả trong cộng đồng.
Thảo luận
Thành công
Đề tài nghiên cứu đã đạt một số thành công nhất định so với mục đích nghiên cứu đề
Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên trong thời kỳ dịch Covid-19 tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Các yếu tố này bao gồm môi trường học tập, sự hỗ trợ từ giảng viên và ý thức trách nhiệm của sinh viên trong nghiên cứu Kết quả này giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học đối với sự phát triển của sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh.
Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp kịp thời nhằm giảm thiểu tác động của dịch Covid-19 đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Các biện pháp này giúp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu trong bối cảnh dịch bệnh, đảm bảo sinh viên vẫn duy trì hoạt động khoa học một cách hiệu quả Nhờ đó, sinh viên có thể vượt qua khó khăn, duy trì đà học tập và nghiên cứu trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp.
Hạn chế
Dữ liệu thu thập có thể bị ảnh hưởng bởi mẫu nhỏ, chỉ gồm 73 phiếu với ý nghĩa phù hợp cao, dẫn đến hạn chế trong việc tổng quát hóa kết quả Mô hình hiện chỉ giải thích được 96.05% vấn đề nghiên cứu, có thể do kích thước mẫu còn hạn chế so với quy mô tổng thể Ngoài ra, nhiều yếu tố quan trọng chưa được đưa vào khảo sát, và nhóm nghiên cứu còn mắc phải các sai sót trong quá trình thực hiện nghiên cứu, ảnh hưởng đến độ chính xác và độ tin cậy của kết quả.
Giáo dục đại học ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng chất lượng sinh viên tốt nghiệp vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và đổi mới kinh tế - xã hội Mặc dù hệ thống có nhiều cán bộ có trình độ cao, nhưng số lượng giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học Việc kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học vẫn còn nhiều hạn chế, cần cải thiện để nâng cao hiệu quả giáo dục đại học.
Sự tăng nhanh số lượng sinh viên nhưng số lượng giảng viên không theo kịp dẫn đến mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng đào tạo Thực tiễn cho thấy, việc không quan tâm đủ mức đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, hoặc xem nhẹ và định hướng không phù hợp, đã làm giảm chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, không đáp ứng các yêu cầu về khoa học kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên mạnh mẽ hơn, đồng thời đưa ra các giải pháp sáng tạo nhằm phát triển hoạt động này tại các trường cao đẳng và đại học.
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong bối cảnh dịch Covid-19 là rất quan trọng Hiểu rõ các nhân tố này giúp khai thác hiệu quả các động lực thúc đẩy sinh viên tham gia NCKH, từ đó nâng cao số lượng đề tài hoàn thành và chất lượng các nghiên cứu Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng còn giúp đề xuất các giải pháp phù hợp, kịp thời hỗ trợ sinh viên trong mùa dịch, góp phần thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học trong nhà trường.