(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam(Luận văn thạc sĩ) Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại trường cao đẳng Đường Sắt Phân hiệu phía nam
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2018
Học viên
Hoàng Thị Minh Thao
Trang 2CẢM TẠ
Được sự phân công của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn TS Đỗ Mạnh Cường, tác giả đã thực hiện đề tài “Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam”
Để hoàn thành khóa luận này, tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy Cao học tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi trong suốt khóa học
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn chân thành đến TS Đỗ Mạnh Cường, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, cán bộ, giáo viên, HSSV Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam đã tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ cung cấp thông tin cho tôi thực hiện nghiên cứu
Cảm ơn các bạn học viên cao học Giáo dục học K16B Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian khóa học
Do khả năng của người nghiên cứu nên luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, tác giả xin chân thành cảm ơn sự đóng góp quý giá từ quý Hội đồng Bảo vệ Luận văn Tốt nghiệp 2018 – Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,
để luận văn được tốt hơn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2018
Học viên
Hoàng Thị Minh Thao
Trang 3TÓM TẮT
Trường Cao đẳng Đường sắt, nơi duy nhất đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cho ngành Đường sắt Việt Nam Trong nhiều năm qua, công tác đào tạo tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam đã đạt những thành tích đáng kể, song vẫn tồn tại những hạn chế nhất định về chất lượng đào tạo nghề cũng như KQHT của SV chưa cao, đặc biệt các nghề phục vụ hoạt động chạy tàu
Trên thực tế, sinh viên khối nghề đường sắt thuộc Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam sau khi tốt nghiệp, sẽ được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan của ngành Yếu tố nào ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên? Phải chăng đó là động cơ học tập? Xuất phát từ lý do trên, với mong muốn làm rõ nguyên nhân trên cơ sở khoa học, ảnh hưởng của động cơ học tập tới KQHT của
SV, lực lượng lao động nòng cốt tương lai, góp sức trực tiếp vào chiến lược phát triển ngành Đường sắt Việt Nam, làm cơ sở cho đề xuất giải pháp gia tăng ĐCHT của SV nhằm nâng cao thành tích học tập của người học, tác giả chọn chủ đề nghiên cứu “Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam”
Cấu trúc luận văn gồm các phần sau:
Mở đầu: Nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, khách thể, giả thuyết, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và điểm mới của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp gia tăng động cơ học tập cho sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
Kết luận và kiến nghị: Nêu tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài và kiến nghị
Trang 4ABSTRACT
Railway College, the only address to train skilled human resources for Vietnam Railways In many years, training at the Southern Division of the Railway College has been achieved significant achievements However, still exist restrictions
of the training quality as well as the students’ low achievements, especially train service occupations
In fact, railroad students at the Southern Division of the Railway College will
be worked in the agencies of the branch after graduating from the school Do the factors affect students’ achievements? Is it motivation? From the reason, with the desire to clarify the causes on a scientific basis, the influence of learning motivation
to the students' achievements, center labor force of the future, that contribute directly to the development strategy of Viet Nam Railway branch, to make the basis for giving solution to increase the students’ learning motivation, to upgrade the learners’ achievements, the researcher selects the topic to research: “Relationship between learning motivation and students’ achievement of train operation branch at the Railway College - Southern Division”
The thesis consists of the following sections:
Introduction: The reasons for the topic, the objectives, the tasks, the objects, the subjects, the hypothesis, the researcher’s scopes, the research methods and the new discoveries of the topic are given
Chapter 1: Theories of the relationship between learning motivation with students’ achievements
Chapter 2: The state of the relationship between learning motivation with train operation branch students’ achievements at Railway College – Southern Division
Chapter 3: Proposing the solutions to increase the train operation branch students’ learning motivation
Conclusion and recommendations: Summarizing the research results of the project and the recommendations to the related functions
Trang 5MỤC LỤC
TRANG TỰA TRANG QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
CẢM TẠ iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
DANH SÁCH CÁC BẢNG xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Gỉa thuyết nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu: 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 3
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
7.2.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi 3
7.2.2 Phương pháp quan sát 3
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn 3
7.2.4 Phương pháp thống kê toán học 3
8 Đóng góp của luận văn 3
9 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 5
Trang 6CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ HỌC TẬP VỚI
THÀNH TÍCH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về động cơ học tập và thành tích học tập 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Hoạt động 13
1.2.2 Nhu cầu 14
1.2.3 Động cơ 14
1.2.4 Động cơ học tập 15
1.2.5 Thành tích học tập 16
1.3 Cơ sở lý luận của việc tìm hiểu mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên 17
1.3.1 Phân loại động cơ học tập 17
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên 22
1.3.3 Mối quan hệ giữa động cơ với các thành tố khác trong cấu trúc của hoạt động 22
1.3.4 Thành tích học tập 25
1.3.5 Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập 26
1.3.6 Đặc điểm sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Chương 2 30
THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ HỌC TẬP VỚI THÀNH TÍCH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU HÀNH CHẠY TÀU HỎA TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐƯỜNG SẮT – PHÂN HIỆU PHÍA NAM 30
2.1 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 31
Trang 72.2 Khảo sát thực trạng mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập
của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 32
2.2.1 Chọn mẫu 32
2.2.2 Công cụ nghiên cứu 33
2.2.3 Tổng hợp và phân tích thực trạng mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 34
2.2.3.1 Động cơ học tập của sinh viên 34
2.2.3.2 Thành tích học tập của sinh viên 38
2.2.3.3 Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 40
2.3.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
Chương 3 59
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIA TĂNG ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU HÀNH CHẠY TÀU HỎA TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐƯỜNG SẮT – PHÂN HIỆU PHÍA NAM 60
3.1 Cơ sở khoa học đề xuất giải pháp 60
3.1.1 Cơ sở thực tiễn 60
3.1.2 Cơ sở pháp lý 61
3.2 Đề xuất giải pháp gia tăng động cơ học tập cho sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa nhằm nâng cao thành tích học tập 63
3.2.1 Đo lường, đánh giá thành tích học tập của sinh viên 63
3.2.2 Xây dựng môi trường học tập tích cực 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 90
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc vĩ mô của hoạt động [27, 60] 24
Hình 2.1: Biểu đồ phân loại động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 38
Hình 2.2: Biểu đồ mức độ rất ảnh hưởng của các yếu tố đến động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 55Hình 2.3: Biểu đồ mức độ có ảnh hưởng của các yếu tố đến động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 56Hình 2.4: Biểu đồ mức độ không ảnh hưởng của các yếu tố đến động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 57
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các loại động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 35Bảng 2.2: Động cơ học tập bên trong của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 36Bảng 2.3: Động cơ học tập bên ngoài của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 36Bảng 2.4: Động cơ học tập xã hội của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 37Bảng 2.5: Động cơ học tập thành đạt của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 37Bảng 2.6: Thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 39Bảng 2.7: Mối quan hệ giữa các loại động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 40Bảng 2.8: Mối quan hệ giữa động cơ học tập bên trong với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 42Bảng 2.9: Mối quan hệ giữa động cơ học tập bên ngoài với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 43Bảng 2.10: Tổng hợp các loại động cơ học tập của sinh viên ngành Điện 44Bảng 2.11: Mối quan hệ giữa động cơ học tập bên trong với thành tích học tập của sinh viên ngành Điện 46Bảng 2.12: Mối quan hệ giữa động cơ học tập bên ngoài với thành tích học tập của sinh viên ngành Điện 47Bảng 2.13: Mối quan hệ giữa ngành học với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa và sinh viên ngành Điện 49Bảng 2.14: Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa 53Bảng 3.1: Điểm khác biệt giữa Đánh giá trên diện rộng và Đánh giá trên lớp học 65Bảng 3.2: So sánh đánh giá để cải tiến việc học với đánh giá kết thúc giai đoạn học tập 70
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trường Cao đẳng Đường sắt, nơi duy nhất đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cho ngành Đường sắt Việt Nam, bên cạnh đó Trường còn thường xuyên đào tạo các ngành – nghề phục vụ xã hội Trường hiện có 3 cơ sở tọa lạc tại ba khu vực
Hà Nội, Đà Nẵng và Bình Dương với gần 300 cán bộ, giáo viên, nhân viên Hằng năm, trường đào tạo, đào tạo lại trên 5.000 lao động cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Đường sắt Việt Nam và xã hội Công tác đào tạo tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam đã đạt những thành tích đáng kể, song vẫn tồn tại những hạn chế nhất định về chất lượng đào tạo nghề cũng như KQHT của HSSV chưa cao, đặc biệt các nghề phục vụ hoạt động chạy tàu
Một thực tế, sinh viên khối nghề đường sắt thuộc Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam sau khi tốt nghiệp, sẽ được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan của ngành Tuy nhiên, qua quan sát của tác giả thì KQHT của SV, đặc biệt ngành Điều hành chạy tàu hỏa, được đào tạo hàng năm, là thấp hơn và không
ổn định so với các ngành được đào tạo tại Phân hiệu, phần đông chỉ ở mức trung bình và trung bình khá
Yếu tố nào ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên? Phải chăng đó là động cơ học tập? Xuất phát từ lý do trên, với mong muốn làm rõ nguyên nhân trên cơ sở khoa học, ảnh hưởng của ĐCHT tới KQHT của SV, lực lượng lao động nòng cốt tương lai, góp sức trực tiếp vào chiến lược phát triển ngành Đường sắt Việt Nam, làm cơ sở cho đề xuất giải pháp gia tăng ĐCHT của SV nhằm nâng cao thành tích học tập của người học, tác giả chọn chủ đề nghiên cứu “Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam”
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc xác định ĐCHT, mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV và những yếu tố ảnh hưởng đến ĐCHT của SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa, người nghiên cứu đề xuất giải pháp gia tăng ĐCHT nhằm nâng cao TTHT của SV ngành
Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu thực trạng mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
Nhiệm vụ 3: Đề xuất giải pháp gia tăng ĐCHT nhằm nâng cao TTHT của
SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là động cơ học tập và thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa
Khách thể nghiên cứu là sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa và Điện tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
5 Gỉa thuyết nghiên cứu
Có mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía
Nam
6 Phạm vi nghiên cứu:
Xác định loại nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu mô tả
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam, không phân biệt các thành phần trong nhân khẩu học với thành tích học tập của sinh viên
Trang 13Giới hạn về đối tượng khảo sát: Nghiên cứu thực hiện trên sinh viên năm 2 tại Phân hiệu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tham khảo, thu thập tài liệu, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Tác giả sử dụng bản hỏi để tìm hiểu về động cơ, động cơ học tập của sinh viên, và những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên
7.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Với các dữ liệu thu thập được, người nghiên cứu sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2007 để xử lý kết quả điều tra và phân tích dựa trên tỷ lệ phần trăm (%), tương quan tích mô-men Pearson (rp) và kiểm nghiệm t cho hai mẫu độc lập (t)
8 Đóng góp của luận văn
Luận văn đưa thêm góc nhìn về động cơ, từ khái niệm đến cách phân loại động cơ học tập, đặc biệt công cụ nghiên cứu dạng hoàn thành câu do chính sinh viên tự suy nghĩ và trả lời để tìm hiểu về mối quan hệ giữa động cơ học tập với
thành tích học tập
Trang 149 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp gia tăng ĐCHT của SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG
CƠ HỌC TẬP VỚI THÀNH TÍCH HỌC TẬP CỦA
E L Thorndike (1874 – 1949), người đại diện cho Thuyết hành vi tạo tác, là nhà tâm lý học Động vật Mỹ Theo ông, ĐCHT là sự kích thích hướng hành vi đạt tới một kết quả Cho nên các yếu tố của ĐCHT bao gồm yếu tố bên trong mang tính chủ quan và các yếu tố bên ngoài mang tính khách quan [28]
C Hull (1884 – 1952) cho rằng, động cơ là cần thiết cho quá trình học tập và
là điều cốt lõi cho sự thích nghi có hiệu quả Ông nhấn mạnh vai trò sự căng thẳng trong động cơ và cho rằng việc giảm căng thẳng có ý nghĩa củng cố Theo quan điểm này, các xung năng sơ cấp có cơ sở sinh học được khơi dậy khi sinh vật bị tước đoạt Những xung năng này hoạt hóa sinh vật, khi được thỏa mãn hoặc giảm thiểu thì sinh vật ngừng hoạt động Thuyết giảm xung năng mang ý nghĩa cân bằng nội tại vì nó cho rằng một sinh vật bị khơi dậy xung năng là để duy trì thế cân bằng nội tại, một thế cân bằng bên trong các hệ và các quá trình của cơ thể Thuyết giảm xung năng cân bằng nội tại này của động cơ và học tập đã có ảnh hưởng cho tới giữa những năm 1950 khi nó bị thách thức bởi các dữ kiện mới [22]
Trang 16X L Runbinstein (1902 – 1960) khi phân tích ĐCHT, ông mô tả các loại ĐCHT biểu hiện ra bên ngoài thông qua hứng thú của học sinh Theo ông, ĐCHT như là mối quan hệ của trẻ đối với cái thúc đẩy trẻ học tập Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại mô tả các loại ĐCHT trên bình diện chủ quan, mà tác giả chưa chú ý đến mặt khách quan của ĐCHT, cái phản ánh bản chất của ĐCHT [26]
Năm 1946, A N Leonchiev với công trình “Sự phát triển ĐCHT của học sinh”, cho rằng ĐCHT là sự định hướng của trẻ vào việc lĩnh hội tri thức và đạt được điểm số cao, cũng như để cha mẹ, thầy cô giáo và các bạn khen Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, ông chia động cơ thành động cơ “hiểu biết” và động cơ “hành động” Động cơ “hiểu biết” trong những điều kiện nhất định nào đó sẽ trở thành động cơ “hành động” Ông cho rằng quá trình học tập của học sinh chỉ
có kết quả tốt khi học sinh có thái độ cần thiết đối với quá trình đó Vì vậy, theo ông thì việc giáo dục ĐCHT không thể tách rời cuộc sống và hoạt động của học sinh [12]
A N Leonchiev là người đại diện tiêu biểu cho dòng phái Tâm lý học xít, đã có những nghiên cứu đầy đủ và rõ ràng về lý luận động cơ của con người Những kết quả nghiên cứu của ông đã được nhiều nhà Tâm lý học trên thế giới vận dụng và phát triển để làm cơ sở khi nghiên cứu về động cơ của con người
Mác-M I Alekseeva đã nghiên cứu đặc điểm học tập của học sinh lớp 5 và lớp 8, xác định con đường hình thành ĐCHT tích cực cho học sinh Ông cho rằng ĐCHT của học sinh chia thành nhóm rất rõ ràng Những động cơ khác nhau trong đa số trường hợp có liên hệ qua lại với nhau, trong đó có một động cơ là cơ bản, những động cơ kia là thứ yếu [3]
Có thể tổng hợp như sau, những nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới, các tác giả đều cho rằng ĐCHT có vai trò rất lớn trong học tập của người học, đó là sự kích thích, thúc đẩy và định hướng người học vào hoạt động học tập;
có nhiều loại động cơ học tập, bao gồm yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong; động
cơ được chia thành các nhóm rõ ràng, một động cơ cơ bản và những động cơ còn lại là thứ yếu
Trang 17Về thành tích học tập
Nghiên cứu về TTHT/KQHT của SV, cụ thể là những yếu tố tác động đến KQHT của SV đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm Các nghiên cứu đã chỉ ra ở nhiều khía cạnh, các yếu tố khác nhau tác động đến KQHT của SV
Tác giả Gonzales NA (1996), nghiên cứu đã chỉ ra các mối quan hệ gia đình, bạn bè và khu phố ảnh hưởng đến KQHT của thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi Châu Nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của các biến trạng thái gia đình (thu nhập gia đình, giáo dục của cha mẹ, cấu trúc gia đình), các biến phụ huynh (hỗ trợ và mức độ kiểm soát của người mẹ), hỗ trợ của bạn bè và yếu tố khu phố trên 120 HS Trường Trung học người Mỹ gốc Phi Châu Ngoài các tác động chính của các biến này, yếu tố khu phố đã được kiểm tra và cho kết quả là có vai trò tác động đến cha
mẹ và sự hỗ trợ của bạn bè Các biến trạng thái gia đình không tiên đoán được kết quả học đường của thanh thiếu niên Sự hỗ trợ của người mẹ ở giai đoạn 1 liên quan đến thanh thiếu niên ở giai đoạn 2 Yếu tố khu phố có liên quan ít hơn, trong khi sự
hỗ trợ của bạn bè có mức điểm cao hơn qua các phân tích Yếu tố khu phố cũng ảnh hưởng thấp đến độ kiểm soát của người mẹ và sự hỗ trợ của bạn bè đối với thanh thiếu niên trong các phân tích [31]
Tác giả Muhamad Daniyal & ctg (2011) tập trung chủ yếu vào những yếu tố
về nhân khẩu học, tác giả đưa ra mô hình gồm 8 yếu tố có tác động đến kết quả học tập của sinh viên gồm: Thu nhập gia đình, trình độ của cha, trình độ của mẹ, quy
mô gia đình, những động cơ thúc đẩy của cha và mẹ, những hoạt động ngoại khóa, chuẩn mực của giảng viên, sự thích thú đối với môn học Kết quả nghiên cứu tình huống tại Đại học Islamia ở Pakistan cho thấy hầu hết các nhân tố đều có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 90%, 95%, 99% Muhamad Daniyal & ctg sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng có độ tuổi từ 19- 21, từ 22- 25 và từ 25 tuổi
trở lên [34Error! Reference source not found.]
Trang 18Tác giả Irfan Mushtaq & Shabana Nawaz Khan (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của SV, trọng tâm của nghiên cứu là kết quả kiểm tra cao của SV có liên quan với cách tiếp cận của SV đối với truyền thông, phương tiện học tập, sự hướng dẫn thích hợp và áp lực của gia đình Nghiên cứu dựa trên hồ sơ SV
và dữ liệu thu thập thông qua đánh giá của SV của một nhóm các trường cao đẳng
tư nhân [32]
Giáo sư S P Singh và ctg (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên; nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ sở vật chất, kỹ năng giao tiếp và sự hướng dẫn phù hợp từ cha mẹ có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của SV [35]
Nhìn chung, các nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ gia đình, bạn bè, khu phố, thu nhập gia đình, trình độ của cha, trình độ của mẹ, quy mô gia đình, những động cơ thúc đẩy của cha và mẹ, những hoạt động ngoại khóa, chuẩn mực của giảng viên, sự thích thú đối với môn học, phương tiện truyền thông, phương tiện học tập, sự hướng dẫn từ cha mẹ, kỹ năng giao tiếp, cơ sở vật chất có ảnh hưởng mạnh đến KQHT của sinh viên
1.1.2 Tại Việt Nam
Về động cơ học tập
Tác giả Phạm Thị Hồng Thái trong Luận văn Thạc sỹ: “Động cơ học tập của sinh viên ngành Tâm lý học Trường Đại học Văn Hiến” đã chỉ ra rằng có sự tồn tại song song giữa những động cơ học tập đúng đắn với những động cơ không đúng đắn ở sinh viên, do đó cần phải có những biện pháp giáo dục động cơ để sinh viên hoàn thành động cơ học tập của mình [24, 52]
Tác giả Phạm Văn Sỹ trong Luận văn Thạc sỹ “Động cơ học tập của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận: động cơ học tập của sinh viên Trường Nhân văn được thúc đẩy bởi nhiều loại động cơ khác nhau trong đó nổi bật là động cơ hoàn thiện tri thức và yếu nhất là động cơ xã hội Đa số sinh viên đều có động cơ học tập đúng đắn thể hiện qua mục đích, thái độ và hành vi trong học tập [22, 81]
Trang 19Tác giả Trần Nguyễn Hương Giang trong luận văn Thạc sỹ: “Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh trung học Marie Curie, quận 3, thành phố
Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận: trong quá trình tiến hành hoạt động học tập, động
cơ học tập sẽ được hình thành theo hai hướng là động cơ xuất phát từ hoạt động học tập và từ mối quan hệ của chủ thể với môi trường xung quanh Mặt khác, động cơ học tập của học sinh được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ, trong đó có những động cơ đóng vai trò chủ yếu và có những động cơ đóng vai trò thứ yếu Nhóm động cơ lĩnh hội tri thức luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh [7, 83]
Luận án Tiến sỹ Tâm lý học của Dương Thị Kim Oanh, tác giả đề cập đến một
số hướng tiếp cận trong nghiên cứu động cơ học tập như phân tâm học, hành vi, nhân văn, nhận thức, học tập xã hội và văn hóa xã hội Tác giả khẳng định việc tìm hiểu các hướng tiếp cận trong nghiên cứu về động cơ học tập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định rõ bản chất, phân loại, biểu hiện và các nhân tố tác động đến động cơ học tập của người học, từ đó có cơ sở lý luận vững chắc lượng hóa các khía cạnh nội dung (cái mà con người muốn vươn tới, muốn đạt tới) và khía cạnh lực (phản ánh độ mạnh của động cơ) trong học tập của người học, “Tác giả chọn cách phân loại động cơ học tập của F I Rakhômautulina làm cơ sở lý luận chính cho đề tài, vì cách phân loại này không chỉ nêu lên được đặc điểm chung của kiểu phân loại động cơ thành động cơ bên trong – động cơ nhận thức khoa học, động cơ bên ngoài – động cơ xã hội mà còn thể hiện được tính chất nghề nghiệp (động cơ nghề) và sự khác biệt cá nhân (động cơ vụ lợi, động cơ cá nhân, động cơ
tự khẳng định) trong động cơ học tập của sinh viên Bên cạnh đó, cách phân chia này cũng đã thể hiện được bản chất hoạt động của sinh viên là học tập – nghề nghiệp Chính vì căn cứ vào đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên, tác giả luận án đã xem xét bốn loại động cơ học tập chủ yếu là động cơ nhận thức khoa học, động cơ xã hội, động cơ nghề và động cơ tự khẳng định” [18, 10]
Tác giả Trịnh Quốc Thái trong luận án Tiến sỹ: “Nghiên cứu động cơ học tập của học sinh học lớp một dưới sự ảnh hưởng của phương pháp nhà trường” đã đưa
Trang 20ra kết luận: hoạt động học tập của các nhóm học sinh lớp một đều được thúc đẩy bởi một hệ thống những động cơ có nội dung phong phú và đa dạng Những động cơ này không tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ, rời rạc mà chúng được sắp xếp theo một thứ bậc nhất định, có động cơ chiếm ưu thế, có những động cơ giữ vai trò thứ yếu tạo thành một cấu trúc động cơ học tập từ khi các em bắt đầu tiến hành hoạt động học tập Cấu trúc đó được sắp xếp lại và sẽ được phát triển trong quá trình cả năm học [25, 110]
Như vậy, qua tổng quan các nghiên cứu về động cơ học tập trong nước, các tác giả cũng đều nhìn nhận động cơ là những cái thúc đẩy con người hoạt động, những kích thích mang tính định hướng và duy trì hoạt động, là yếu tố tâm lý bên trong của con người Việc phân loại động cơ học tập cũng rất phong phú và đa dạng, có động cơ học tập đúng đắn và động cơ học tập không đúng đắn; động cơ chủ yếu và động cơ thứ yếu; động cơ xuất phát từ hoạt động học và động cơ xuất phát từ mối quan hệ với môi trường xung quanh; động cơ nhận thức, động cơ xã hội, động cơ nghề và động cơ tự khẳng định mình; động cơ thể hiện qua mục đích, thái độ và hành vi trong học tập
Về thành tích học tập
Nghiên cứu về TTHT/KQHT của SV, cụ thể những yếu tố tác động đến KQHT của SV
Tác giả Võ Thị Tâm (2010) nghiên cứu các yếu tố tác động đến KQHT của
SV chính quy Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu xây dựng và kiểm định mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa đặc điểm SV với KQHT của SV chính qui đang học tại Đại học Kinh tế, tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm SV, gồm: động cơ học tập, cạnh tranh học tập, kiên định học tập, ấn tượng trường học và phương pháp học tập, đồng thời có sự khác biệt về các tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm SV và KQHT giữa nhóm SV nam và nhóm SV nữ; giữa nhóm SV thành phố và nhóm SV tỉnh Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan
hệ không đáng kể giữa cạnh tranh học tập và động cơ học tập với KQHT, mối quan hệ giữa phương pháp học tập và KQHT của nhóm SV nam yếu hơn nhiều so
Trang 21với nhóm SV nữ, mối quan hệ giữa tính kiên định học tập và ấn tượng trường học với KQHT của nhóm SV nam mạnh hơn nhóm SV nữ, kết quả phân tích đa nhóm theo nhóm SV thành phố và nhóm SV tỉnh thì không có sự khác biệt trong mối quan hệ giữa các yếu tố và KQHT [23]
Tác giả Nguyễn Thị Nga (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của SV, nghiên cứu thực hiện tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng, nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố học lực
12, yêu thích ngành học, thời gian tự học, phương pháp học tập, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường với biến KQHT của SV Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố học lực 12, yêu thích ngành học, thời gian tự học, phương pháp học tập, phương pháp giảng dạy của giảng viên quyết định trên 40% đến KQHT của SV; yếu tố điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường không ảnh hưởng đến KQHT; xếp loại học lực lớp 12 cao thì KQHT của
SV đạt điểm cao, học lực lớp 12 ảnh hưởng rõ rệt đến KQHT của SV năm thứ nhất
và năm thứ hai; yếu tố yêu thích ngành học ảnh hưởng cùng chiều với KQHT của
SV, yếu tố này ảnh hưởng rõ rệt đến KQHT của SV; yếu tố thời gian dành cho tự học ảnh hưởng đến KQHT của SV năm thứ hai; phương pháp học tập của SV ảnh hưởng cùng chiều với biến KQHT, yếu tố này ảnh hưởng rõ rệt đến KQHT của SV năm thứ hai, năm thứ ba; yếu tố điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ cho việc dạy và học không ảnh hưởng đến KQHT của SV; phương pháp giảng dạy của giảng viên ảnh hưởng rõ rệt đến KQHT của SV, đặc biệt là SV năm thứ nhất khi mới bước vào trường [15]
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu An, Nguyễn Thị Ngọc Thứ, Đinh Thị Kiều Oanh và Nguyễn Văn Thành (2016) nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng KQHT của SV năm I - II, Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ Phương pháp phân tích chính được sử dụng trong nghiên cứu là phân tích nhân tố khám phá Số liệu được sử dụng trong phân tích được thu thập từ 561 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai của Trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hai nhóm nhân tố ảnh hưởng thuận chiều đến KQHT của SV năm thứ
Trang 22nhất và năm thứ hai là nhân tố thuộc bản thân SV và nhân tố thuộc về năng lực giảng viên Trong đó, nhân tố thuộc về SV bao gồm kiến thức đạt được sau khi học, động cơ học tập, tính chủ động của SV có ảnh hưởng đến KQHT cao hơn nhân tố thuộc về năng lực giảng viên [1]
Nhóm tác giả Nguyễn Thùy Dung, Hoàng Thị Kim Oanh, Lê Đình Hải (2017) nghiên cứu thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến KQHT của SV khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp, nghiên cứu đã khảo sát 512 sinh viên thuộc Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng KQHT của SV chính quy của khoa đạt mức Trung bình Khá (điểm bình quân đạt 6,35) Kết quả phân tích mô hình hồi qui tuyến tính đa biến cũng đã chỉ ra các nhân tố thuộc về đặc điểm của sinh viên (bao gồm: giới tính, sinh viên năm thứ, điểm thi đại học, ngành học, sử dụng thư viện
và internet trong học tập) có ảnh hưởng đáng kể đến KQHT của SV chính quy
Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh [5]
Nhìn chung, các nghiên cứu về TTHT, những yếu tố ảnh hưởng đến KQHT/TTHT của SV rất đa dạng với nhiều cách tiếp cận khác nhau, có nhóm yếu
tố thuộc đặc điểm cá nhân SV, phương pháp giảng dạy của giảng viên, năng lực của giảng viên có ảnh hưởng đến KQHT của SV
Tóm tắt chung:
Qua tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về ĐCHT và TTHT, tùy thuộc vào nhóm khách thể nghiên cứu, điều kiện sống, môi trường xã hội tại mỗi vùng, miền, khu vực, quốc gia, đặc biệt là quan niệm cá nhân của mỗi tác giả nên có những quan niệm và kết quả nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau; tựu chung, các nghiên cứu đều có ý nghĩa và giá trị vô cùng lớn cho người nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho đề tài của mình Tuy nhiên, luận văn “Mối quan
hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam”, người nghiên cứu không nghiên cứu về ĐCHT, cơ chế hình thành ĐCHT cũng như không nghiên cứu về TTHT, cách đánh giá TTHT hay những yếu tố ảnh hưởng đến TTHT mà chỉ xác định loại ĐCHT,
Trang 23những yếu tố ảnh hưởng đến ĐCHT và sử dụng TTHT đã được đo lường và đánh giá bởi GV để tìm mối tương quan giữa hai yếu tố này (ĐCHT và TTHT), làm cơ
sở cho đề xuất giải pháp gia tăng ĐCHT nhằm nâng cao TTHT của SV
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Hoạt động
Leonchiev đã nêu, “Hoạt động là đơn vị của đời sống cá nhân, là khâu trung gian có chức năng phản ánh tâm lý và hướng dẫn chủ thể trong thế giới đối tượng” [14, 93]
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng, “Hoạt động luôn nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Khi nhu cầu gặp đối tượng thì trở thành động cơ Như vậy, đối tượng là cái vật thể hóa nhu cầu, là động cơ đích thực của hoạt động” [27, 58] Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng luôn vận động Bằng vận động và thông qua vận động mà sự vật, hiện tượng tồn tại và thể hiện đặc tính của nó Bởi vậy, vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của sự vật, hiện tượng Ở con người, thuộc tính đó, phương thức đó chính là hoạt động
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động [2, 27], [27, 54]:
“- Dưới góc độ Triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể”
- Dưới góc độ Sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
- Dưới góc độ Tâm lý học, xuất phát từ quan niệm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Con người sống là con người hoạt động, hoạt động để tồn tại Đối với con người, tồn tại là hoạt động, hoạt động cho xã hội, gia đình và bản thân”
Trang 24Như vậy, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể) Trong mối quan hệ đó, có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau Đó là quá trình đối tượng hóa và quá trình chủ thể hóa
1.2.2 Nhu cầu
Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh, “Nhu cầu là biểu hiện của xu hướng về mặt nguyện vọng, ước muốn Nhu cầu là những đòi hỏi mà con người cần có được để thỏa mãn để sống, để hoạt động Nhu cầu con người rất phong phú, đa dạng, luôn luôn phát triển theo sự phát triển của xã hội Nhu cầu còn bị quy định bởi chính phương thức thỏa mãn nhu cầu, bởi các mối quan hệ mà con người sống Nhu cầu của con người mang tính chu kỳ, không giới hạn Nhu cầu tạo nên động cơ thúc đẩy con người hoạt động” [19, 138]
Tác giả Vũ Gia Hiền nêu: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, có thể phân chia thành 4 nhóm lớn: nhu cầu tất yếu, nhu cầu tinh thần, nhu cầu lao động, nhu cầu giao tiếp Nhu cầu tất yếu thường gắn chặt với nhu cầu tinh thần” [8, 290]
Như vậy, nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau
Trang 25của con người Hạn chế về mặt phương pháp luận của họ là ở chỗ đã suy diễn từ việc nghiên cứu bản năng của động vật để quy thành động cơ hành vi của người Các nhà tâm lý học Mác – xít, trong đó có các nhà tâm lý học Xô Viết như:
A N Leontiev, L I Bojhovic, L S Slavina, S L Rubinstein, V S Merlin, B G Aseev, … quan niệm rằng, muốn hiểu được tâm lý người, trước hết phải đi từ cuộc sống thực của người đó Những động cơ hoạt động của con người cực kỳ đa dạng, nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác nhau; động cơ không phải là sự trải nghiệm của nhu cầu, mà là đối tượng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Động cơ là đặc trưng chủ yếu của tâm lý con người, nó thúc đẩy và điều khiển mọi hành vi, hoạt động của con người
Theo Nguyễn Quang Uẩn, “Động cơ theo nghĩa rộng nhất được hiểu là cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi” [27, 206]
Như vậy, động cơ là yếu tố thúc đẩy con người suy nghĩ và hành động hướng
về cái đích phía trước, là sự phản ánh nhu cầu
1.2.4 Động cơ học tập
Có nhiều quan niệm và ý kiến khác nhau về động cơ học tập, các nhà tâm lý học Mỹ: E Thorndike, Woodworth R I, J Bruney, W Kennedy, H Willcut, … cho rằng, động cơ học tập là kích thích hướng hành vi vào việc đạt tới một kết quả [4, 6 – 7)
Tác giả Dương Thị Kim Oanh cho rằng: “Động cơ học tập là yếu tố tâm lý phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, nó định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt động học tập của thể nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó” [18, 8] Tác giả Lê Văn Hồng viết: “Động cơ học tập của học sinh được thể hiện ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực, … mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ” [10, 110]
Động cơ hay động lực (motivation) học tập là sức mạnh thúc đẩy người học thực hiện một hoạt động một cách tích cực có định hướng, có mục đích để thỏa mãn
Trang 26nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả hai Có thể nhấn mạnh, cái đích đến đó
có sức hấp dẫn đối với bản thân người học, và sức hấp dẫn đó xuất phát từ chính nhu cầu cá nhân người học Điều này có nghĩa, động cơ hoạt động vừa tồn tại bên trong, vừa tồn tại bên ngoài con người Người ta có thể và phải bước đi bằng chính sức mạnh bản thân, ý chí bản thân, nỗ lực bản thân; đồng thời, người ta cũng chỉ bước đi khi biết mình đi đâu và biết rằng ở đích đến có cái thỏa mãn nhu cầu của bản thân Trong một hoạt động tích cực, con người vừa chủ động đi tới, vừa bị
“cuốn hút” đi tới “Không có hoạt động nào không có động cơ; hoạt động “không
động cơ” không phải là hoạt động thiếu động cơ mà là hoạt động với một động cơ
ẩn giấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan” [13, 177] Những sinh viên ưa trốn
học, không tích cực học tập, học một cách thụ động, … không phải là những sinh viên không có động cơ học tập mà mọi sinh viên khi đã đến lớp thì đều có động cơ cho hoạt động học của mình Chẳng hạn, khi đi học chỉ vì sự ép buộc của gia đình, thì động lực của sinh viên là làm vui lòng cha mẹ
Từ quan niệm về động cơ đã được xác định và phân tích nêu trên, khái niệm
về động cơ học tập của đề tài như sau: Động cơ học tập là sức mạnh thúc đẩy người học thực hiện hoạt động học tập có định hướng, có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của người học về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả hai
1.2.5 Thành tích học tập
Theo Từ điển Anh Việt:
- “Achievement” có nghĩa là thành tích, thành tựu; sự đạt được, sự hoàn thành
- “Result” có nghĩa là kết quả
- “Learning Outcome” là kết quả học tập
Các từ này thường được dùng thay thế cho nhau, tuy nhiên, từ chúng ta
thường gặp khi đọc tài liệu nói về kết quả học tập là “Learning Outcome”
Trong cuốn “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông”, tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu về
Trang 27KQHT như sau [17]: “Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học
1) Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định
(2) Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn học
Có nhiều quan niệm về KQHT, tựu chung là mức độ đạt được kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực cụ thể Xét dưới góc độ và phạm vi nghiên cứu của đề tài, KQHT được xem là TTHT, được xác định là điểm số của môn học/mô-đun trong chương trình đào tạo ngành; luận văn sử dụng điểm số của các môn học của sinh viên trong năm học 2017 – 2018 làm cơ sở cho việc tìm hiểu mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
1.3 Cơ sở lý luận của việc tìm hiểu mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên
1.3.1 Phân loại động cơ học tập
Việc phân loại động cơ học tập có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu động cơ học tập của sinh viên, những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập đó và mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên
Phân loại động cơ học tập của sinh viên rất phong phú và đa dạng, qua tổng quan nghiên cứu tài liệu đã cho thấy, có một số phân loại dưới đây
Trang 28Tác giả Vũ Thị Nho cho rằng, việc học tập của sinh viên không chỉ bị chi phối bởi một động cơ mà thường là một số động cơ nào đó, “ những nghiên cứu về động cơ học tập của sinh viên cho thấy trong cấu trúc thứ bậc động cơ, sinh viên thường biểu hiện như sau: 1) Động cơ nhận thức được xếp ở vị trí thứ nhất, 2) Động
cơ nghề nghiệp ở vị trí thứ hai, 3) Động cơ có tính xã hội ở vị trí thứ ba, 4) Động cơ
tự khẳng định ở vị trí thứ tư, 5) Động cơ có tính cá nhân ở vị trí thứ năm Thứ bậc trong các động cơ này thường không phải cố định mà cũng biến đổi trong quá trình học tập Thứ bậc này cũng không phải như nhau ở các sinh viên có trình độ học lực khác nhau và ở các trình độ khoa học khác nhau” [16, 149]
Hoạt động – đó là sự đáp lại của cơ thể với một tình huống hiện thực xác định Hoạt động được thúc đẩy bởi những động cơ xác định và diễn ra trong một tình huống xác định Động cơ không phải là cái gì trừu tượng ở bên trong cá thể, nó phải được thể hiện ở đối tượng của hoạt động Những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng có hai loại động cơ: những động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội [10, 110]
Tác giả Dương Thị Diệu Hoa khái quát thành bốn nhóm động cơ học phổ biến trong sinh viên: 1) Động cơ nhận thức khoa học, 2) Động cơ nghề nghiệp, 3) Động cơ học vì giá trị xã hội, 4) Động cơ tự khẳng định mình trong học tập Những động cơ này đều có giá trị thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên Tuy nhiên, tùy thời điểm và tùy loại sinh viên, các động cơ trên có sức mạnh thúc đẩy khác nhau [9, 214]
Trong chuyên ngành Giáo dục học, từ khái niệm động cơ và động cơ học tập
đã được xác định; từ sự phân tích, mô tả cấu trúc hoạt động của nhà tâm lý học hoạt động Xô Viết A N Leonchiev; “từ đặc điểm giai đoạn phát triển tâm lý về phương diện cá thể của thanh niên sinh viên” [27, 58], và đặc biệt từ “Cái gì làm cho một công việc đáng làm? - What makes a task worth doing?” [33, 35], người nghiên cứu chọn cách phân chia động học tập thành bốn loại của John Biggs and Catherine Tang trong “Teaching for Quality Learning at University”
Trang 29Theo John Biggs and Catherine Tang, có bốn loại động cơ học tập, gồm [33, 35]:
- Động cơ bên ngoài (Extrinsic motivation)
- Động cơ xã hội (Social motivation)
- Động cơ thành đạt (Achievement motivation)
- Động cơ bên trong (Intrinsic motivation)
(1) Động cơ bên ngoài: là động cơ xuất hiện khi người học nhận thấy được tầm quan trọng, giá trị của việc học tập mà họ sẽ thực hiện; một cái gì tích cực sau khi thành công, chẳng hạn một phần thưởng; hoặc một cái gì tiêu cực, như bị phạt khi họ thất bại hoặc không thực hiện
Học tập vì các động cơ bên ngoài thường có chất lượng thấp, người học tập trung chú ý không phải vì chính việc học mà vì những kết quả theo sau công việc Động cơ bên ngoài thường khuyến khích người học học tập theo lối bề mặt, người học có thể sợ thất bại và sẽ bị phạt nếu học không đạt, dẫn đến một loạt hiệu ứng phụ như lo âu, giận dữ, xấu hổ, muốn báo thù; tất cả đều không giúp học tốt
Động cơ bên ngoài biểu hiện ở việc người học học vì tác động bên ngoài,
không tập trung vào nội dung tri thức, đối tượng của hoạt động học mà chủ thể cần chiếm lĩnh; anh ta chỉ tập trung vào việc học để nhận được cái giá trị mà anh ta sẽ thực hiện, cái giá trị ấy là phần thưởng nên anh ta cố gắng để đạt được nếu học tập tốt, hoặc cái giá mà anh ta sẽ phải nhận là hình phạt nếu anh ta học không tốt hoặc không chịu học Ở động cơ học tập bên ngoài có thể thấy rõ và cụ thể hơn trong việc người học cốt để kiểm tra hay thi lấy điểm, có thể dẫn đến học theo dạng đối phó với giáo viên, không có sự đào sâu, tinh hiểu về nội dung tri thức
(2) Động cơ xã hội: là động cơ xuất hiện khi người học muốn học để làm hài lòng ai đó, người có ảnh hưởng quan trọng đối với họ Nếu những người này đánh giá cao việc học tập hay các kết quả của một nền giáo dục tốt thì người học sẽ coi nền giáo dục ấy có một tầm quan trọng nội tại đối với mình Trong những hoàn
Trang 30cảnh này, người học thường chấp nhận giáo dục là một điều tốt, phải theo đuổi mà không cần tranh cãi; động cơ ở đây không tập trung vào những kết quả vật chất
Động cơ xã hội là một tiền đề tốt dẫn đến động lực nội tại hay động cơ bên trong Thực tế, các mối quan tâm ban đầu của con người thường phát xuất từ một ai
đó, thế là anh ta muốn trở nên giống như người đó Tiến trình này gọi là noi gương, trong đó con người thán phục các gương mẫu và sẵn sàng mô phỏng các gương mẫu
ấy
Động cơ xã hội biểu hiện ở việc người học học tập để làm hài lòng một ai đó
mà người này có ảnh hưởng quan trọng đối với anh ta, có thể là thần tượng của anh
ta hay có thể là cha mẹ, họ hàng, gia đình có truyền thống học tập nên việc học đối với anh ta là quan trọng; anh ta sẽ tự giác học vì ý thức được vai trò quan trọng của việc học và rất có thể sẽ học tập với mục tiêu là chiếm lĩnh tri thức
(3) Động cơ thành đạt: là động cơ kích thích người học nỗ lực để đạt được thành công về mặt xã hội, kích thích cá nhân nỗ lực để thành đạt, như cạnh tranh để đánh bại các sinh viên khác Nó làm họ cảm thấy hài lòng với chính mình Động lực này có thể dẫn tới những thành tích rất cao, thậm chí cũng có thể là phương thức học tập bề sâu
Học tập chỉ vì động lực thành đạt không tốt, vì nó giết chết tinh thần cộng tác trong học tập Các sinh viên khác trở thành những đối thủ cạnh tranh chứ không phải người đồng môn, vì thế sinh viên tìm mọi cách để gây bất lợi cho các sinh viên khác: giấu hay cắt xén các nguồn tham khảo quan trọng, không chia sẻ các gợi ý tốt hoặc cho các lời khuyên sai Động cơ thành đạt cần có các điều kiện cạnh tranh thì mới tác dụng, và tuy nó thích hợp với một số ít sinh viên ham thích ganh đua, song
nó thực sự làm hại việc học tập của những ai coi ganh đua là một mối đe doạ
Động cơ thành đạt biểu hiện ở việc người học học tập để đạt được thành
công về mặt xã hội, để khẳng định mình trong xã hội Xã hội ở đây là một tập thể
hay nhóm người có cùng chung lợi ích, mối quan hệ đặc trưng và có cùng văn hóa;
có thể hiểu xã hội là tập thể những thành viên trong lớp học; người học sẽ nỗ lực học tập để thể hiện khả năng hay tài năng học tập của mình trong tập thể
Trang 31(4) Động cơ bên trong: là động cơ xuất phát từ sự quan tâm, niềm say mê và khát khao hiểu biết đối với ngành/chủ đề/nội dung học tập
Động cơ bên trong hướng tới sự thỏa mãn tinh thần ở mức rất cao, liên quan đến thang giá trị sống cốt lõi mang tính nhân bản cao của cá nhân Khi hoạt động dưới sự thúc đẩy của động cơ bên trong, con người không quan tâm tới những phần thưởng kèm theo, cả vật chất cũng như danh vọng Điểm chính của động cơ bên trong là vượt qua giới hạn của chính mình Động cơ bên trong gia tăng theo sau những lần cố gắng thành công liên tiếp trong cùng một lĩnh vực
Động cơ học tập tốt nhất là động cơ bên trong, vì phát sinh từ sự quan tâm, niềm say mê và khát khao của người học đến chủ đề học tập nên động cơ bên trong
có thể huy động sức mạnh thể lý và tâm lý của con người ở mức cao nhất cũng như duy trì được lâu dài mức độ phát huy sức mạnh đó
Động cơ bên trong biểu hiện ở việc người học học tập vì sở thích, niềm say
mê và khát khao chiếm lĩnh tri thức; người học cảm thấy hứng thú với chủ đề, môn
học mà anh ta tham gia học tập; anh ta sẽ chủ động tham gia vào các hoạt động học tập để chiếm lĩnh tri thức; anh ta sẽ không cảm thấy mệt mỏi hay áp lực về điểm số hay tập thể xung quanh nghĩ gì về anh ta, mục tiêu anh ta hướng đến là hiểu sâu và rộng chủ đề học tập nhằm thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức của bản thân
Động cơ bên trong là điều lý tưởng cho học tập, nó thúc đẩy việc học tập bề sâu và công việc tri thức một cách hiệu quả nhất
Như vậy, có nhiều cách phân loại động cơ học tập tùy thuộc quan điểm của người nghiên cứu Trong lĩnh vực Tâm lý học, nghiên cứu cơ chế hình thành động
cơ Chuyên ngành Giáo dục học, tác giả nghiên cứu mối tương quan giữa động cơ học tập với thành tích học tập nên việc lựa chọn cách phân thành bốn loại động cơ học tập trên do các căn cứ đã nêu trong mối tương quan bên trong con người với xã hội bên ngoài
Trang 321.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên
(1) Yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập bên ngoài: Học tập vì tác động bên ngoài cho thấy người học không nhận thức được tầm quan trọng của tri thức đối
với bản thân anh ta; điều này thể hiện ở việc định hướng giá trị, định hướng về cái giá trị của tri thức mang lại cho loài người và môi trường học tập, môi trường học
tập tác động đến động cơ học tập bên ngoài của sinh viên; nếu tập thể sinh viên cùng nghiêm túc, say mê vào việc đào sâu kiến thức về chủ đề học tập, anh ta – thành viên trong tập thể ấy sẽ bị tác động bởi tập thể
(2) Yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập xã hội: Người học để làm hài lòng
ai đó hay học vì truyền thống học tập; điều này thể hiện ở tinh thần trách nhiệm của sinh viên và yếu tố gia đình cũng ảnh hưởng đến động cơ học tập xã hội; thực tế
trong gia đình có truyền thống học tập thì phần nhiều người học cũng theo truyền thống gia đình mà học tập
(3) Yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập thành đạt: Học để khẳng định
mình trong xã hội; điều này cho thấy niềm tin vào bản thân, cũng như yếu tố bạn bè
sẽ ảnh hưởng đến động cơ thành đạt; bạn bè là môi trường xã hội để sinh viên
khẳng định chính mình và thể hiện khả năng học tập của mình trước tập thể
(4) Yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập bên trong: Học vì sở thích, niềm
say mê và khát khao chiếm lĩnh tri thức; thể hiện hứng thú đối với ngành học và khả
năng kiểm soát bản thân của người học; bản thân người học nhận thức được ý nghĩa
quan trọng của việc học trong đời sống và cái ý nghĩa ấy mang lại khoái cảm cho người học
1.3.3 Mối quan hệ giữa động cơ với các thành tố khác trong cấu trúc của hoạt động
Động cơ là yếu tố tâm lý nhưng tâm lý không đóng kín bên trong mà được biểu hiện ra bên ngoài, thể hiện trong hoạt động, thông qua hoạt động; có thể khẳng định, “tâm lý tồn tại trong hoạt động” [21, 216], hay hoạt động luôn gắn liền với động cơ
Trang 33“Một hành động là một quá trình hiện thực hóa mục đích, còn thao tác do phương tiện quy định Sự khác nhau giữa mục đích và phương tiện quy định một cách khách quan và rõ nét giữa hành động và thao tác Tuy nhiên, sự khác nhau ấy chỉ là tương đối, để đạt được mục đích, có thể dùng các phương tiện khác nhau Do
đó, trong trường hợp này, hành động chỉ thay đổi về mặt “kỹ thuật”, tức là cơ cấu thao tác, chứ không thay đổi bản chất, nghĩa là vẫn phải làm ra cùng một sản phẩm ấy” [6, 35]
Tâm lý học là khoa học về tính quy luật của sự phát triển và vận hành của tâm lý với tư cách là hình thức đặc biệt của hoạt động sống [20, 311], và hoạt động chủ đạo của sinh viên là học tập
Phân tích, mô tả cấu trúc hoạt động là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học quan tâm Người đầu tiên có tư tưởng này và đạt được những kết quả nghiên cứu nhất định là L X Vưgôtxki (1886-1934) Ông đã phân tích các khái niệm “công cụ, thao tác, mục đích, động cơ”, và nhà tâm lý học Xô Viết A N Leonchiev [13, 176] trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, lần đầu tiên đã mô tả cơ cấu chung của hoạt động vào năm 1947 Có thể khái quát cấu trúc chung của hoạt động qua sơ đồ sau:
Trang 34
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc vĩ mô của hoạt động [27, 60]
Có thể phân tích cấu trúc hoạt động theo nhiều cách: theo trục hoạt động động cơ, hành động mục đích, thao tác phương tiện; hoặc theo trục động cơ mục đích phương tiện trong mối quan hệ với hoạt động hành động thao tác Vế thứ nhất thuộc về đối tượng, vế thứ hai là chủ thể Dù phân tích theo kiểu nào thì hoạt động luôn là đơn vị phân tử, chứ không phải là hoạt động hợp thành [2, 54]
Tác giả Hồ Ngọc Đại đã nêu, “không thể có một hoạt động không có động
cơ Trong đời sống hàng ngày, có thể có những động cơ công khai bộc lộ hay bị che giấu, xuyên tạc, ngụy trang Điều quan trọng nhất về lý luận và thực tiễn là: động cơ tâm lý không phải thuần túy tinh thần, ở bên trong cá thể Động cơ ấy phải được vật thể hóa ra ngoài, tức là nó phải mang một hình thức tồn tại vật chất, hiện thực bên ngoài Nói cách khác, động cơ có hai nơi ở, bên ngoài và bên trong tâm lý Nó vẫn
là một duy nhất Khi nó ở bên ngoài thì hoạt động lên đối tượng này gọi là hoạt động ở hình thái bên ngoài, hay nói tắt là hoạt động bên ngoài Nếu nó ở bên trong
Khách thể Chủ thể
Trang 35thì hoạt động tác động lên nó, gọi là hoạt động bên trong Trong cả hai trường hợp, hoạt động bao giờ cũng là sự gặp gỡ giữa chủ thể và đối tượng của hoạt động Sự kiện đó trong triết học gọi là sự thống nhất chủ thể - khách thể” [6, 28]
Như vậy, khái niệm hoạt động gắn liền một cách tất yếu với khái niệm động
cơ Không có hoạt động nào không có động cơ; hoạt động “không động cơ” không phải là hoạt động thiếu động cơ mà là hoạt động với một động cơ ẩn giấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan [13, 177]
1.3.4 Thành tích học tập
Theo Norman E Gronlund, tác giả cuốn “Measurement and Evaluation in Teaching”, đã được nhắc rất nhiều khi đề cập đến đo lường và đánh giá trong giáo dục, ông đã nêu: “Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS Đây chính là kết quả cuối cùng của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của HS Khi nhìn nhận mục tiêu giáo dục theo hướng kết quả học tập, cần phải lưu tâm rằng chúng ta đang đề cập đến những sản phẩm của quá trình học tập chứ không phải bản thân quá trình
đó Mối liên hệ giữa mục tiêu giáo dục (sản phẩm) và kinh nghiệm học tập (quá trình) được thiết kế nhằm hướng tới những thay đổi hành vi theo như mong muốn”
Vậy thành tích học tập/KQHT là mức độ đạt được kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực cụ thể; tuy nhiên, phải được lượng hóa Tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam, đo lường, đánh giá KQHT được thực hiện theo quyết định 946/QĐ-CĐĐS ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc ban hành Quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp trong đào tạo hệ chính quy đối với trình độ Cao đẳng, Trung cấp của Trường Cao đẳng Đường sắt; Quy chế này được cụ thể hóa từ thông tư số 09/2017/TT-BLĐTBXH ngày 13 tháng 3 năm
2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về Quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp đối với hệ Cao đẳng, Trung cấp
Có thể tóm tắt như sau:
Sau mỗi học kỳ hoặc năm học, người học tập được xếp loại về học lực ở các mức: [29, 11-12]
Trang 36(1) Xếp loại KQHT của người học theo học kỳ và năm học căn cứ vào điểm trung bình chung học kỳ, năm học trong học kỳ, năm học theo thang điểm 10 của người học đó, cụ thể:
- Loại xuất sắc: từ 9,0 đến 10 điểm;
- Loại giỏi: từ 8,0 đến 8,9 điểm;
- Loại khá: từ 7,0 đến 7,9 điểm;
- Loại trung bình khá: từ 6,0 đến 6,9 điểm;
- Loại trung bình: từ 5,0 đến 5,9 điểm;
- Loại yếu: thấp hơn hoặc bằng 4,9 điểm
(2) Người học có điểm đạt loại giỏi trở lên bị hạ xuống một mức xếp loại nếu thuộc một hoặc nhiều trường hợp sau:
- Bị nhà trường kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong học kỳ hoặc năm học được xếp loại KQHT;
- Có một môn học hoặc một mô – đun trở lên trong học kỳ, năm học phải thi lại (không tính môn học điều kiện; môn học, mô-đun được tạm hoãn học hoặc được miễn trừ)
1.3.5 Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập
Việc xác định bốn loại ĐCHT và TTHT của sinh viên có vai trò quan trọng trong tìm hiểu mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập
Từ bốn loại động cơ học tập được xác định (động cơ học tập bên ngoài, động
cơ học tập xã hội, động cơ học tập thành đạt, động cơ học tập bên trong), tìm hiểu mối quan hệ của từng loại động cơ học tập với thành tích học tập sẽ được thiết lập,
Trang 37(4) Mối quan hệ giữa động cơ học tập thành đạt với thành tích học tập của sinh viên
Xác định mối quan hệ này dựa trên kết quả tính hệ số tương quan Pearson (Pearson correlation coefficient, kí hiệu r hoặc rp)
Hệ số tương quan Pearson/Tương quan tích mô-men Pearson (rp/r) sẽ nhận giá trị từ +1 đến -1 Giá trị r bằng +1 hoặc bằng -1 cho thấy dữ liệu hoàn toàn phù hợp với mô hình tuyến tính
Có các mức chi tiết của tương quan tích mô-men Pearson như sau:
rp < 0,2: Không tương quan (không ý nghĩa)
rp = 0,2 → 0,39: Có tương quan
rp = 0,4 → 0,59: Tương quan trung bình
rp = 0,6 → 0,79: Tương quan cao
rp = 0,8 → 1,00: Tương quan rất chặt chẽ
Công thức của hệ số tương quan mô-men tích Pearson như sau:
Trong đó, x và y là các mẫu AVERAGE (array1) và AVERAGE (array2) Tóm lại, ĐCHT là sức mạnh thúc đẩy người học thực hiện hoạt động học tập
có định hướng, có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của người học về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả hai “Không thể có một hoạt động không có động cơ” [6, 28], học tập là hoạt động cho nên SV tiến hành học tập không thể không có động cơ Động
cơ học tập cao, chắc chắn thành tích học tập sẽ cao; ngược lại, ĐCHT thấp thì thành tích học tập cũng thấp Đó gọi là mối tương quan giữa động cơ học tập với thành tích học tập
“Động cơ bên trong là điều lý tưởng cho học tập, nó thúc đẩy việc học tập bề sâu và công việc tri thức một cách hiệu quả nhất” [33, 35] Tùy theo nhu cầu của cá nhân người học, mỗi SV sẽ có động cơ học tập riêng, động cơ ở mức cao hoặc thấp, hoặc có thể học tập vì nhiều động cơ Tuy nhiên, khi đã quyết định đến lớp, tham gia vào môn học/ngành học, SV nên tập trung vào chủ đề học tập/môn học/ngành
Trang 38học, họ sẽ dễ dàng vượt qua giới hạn bản thân, có thể huy động sức mạnh thể lý và tâm lý ở mức cao nhất cũng như duy trì được lâu dài mức độ phát huy sức mạnh, và chắc chắn sẽ mang lại KQHT tốt nhất có thể Đó chính là động cơ học tập bên trong
Nếu SV có động cơ học tập cao, đặc biệt động cơ bên trong cao, chắc chắn
SV sẽ có KQHT tốt, trừ khi KQHT ấy phụ thuộc vào việc đo lường, đánh giá của giảng viên hoặc thang điểm của giảng viên đưa ra không tương ứng hoặc khâu coi thi không nghiêm túc dẫn đến KQHT bị rối loạn
1.3.6 Đặc điểm sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa
Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách [37]
Sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa cũng vậy, có những nét tâm lý điển hình chung của lứa tuổi SV Tuy nhiên, hầu hết SV tham gia học ngành Điều hành chạy tàu hỏa là con, em cán bộ - công nhân viên thuộc ngành Đường sắt Việt Nam Đặc biệt, sau tốt nghiệp, các SV ngành Điều hành chạy tàu hỏa sẽ được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan của ngành theo chuyên môn được đào tạo tại Phân hiệu “SV tốt nghiệp khóa đào tạo Cao đẳng nghề Điều hành chạy tàu hỏa có khả năng làm việc trong các tổ chức điều hành giao thông vận tải đường sắt hoặc doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt với các chức danh trực tiếp phục vụ chạy tàu như: Gác ghi, ghép nối đầu máy toa xe; Trưởng dồn; Trực ban chạy tàu ga; Trưởng tàu; Điều độ chạy tàu ga; Điều độ chạy tàu tuyến” [40]
Trang 39có nhóm yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân SV, phương pháp giảng dạy của giảng viên, năng lực của giảng viên có ảnh hưởng đến KQHT của SV
Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của SV:
(1) Động cơ học tập là sức mạnh thúc đẩy người học thực hiện hoạt động học tập có định hướng, có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của người học về vật chất hoặc tinh thần hoặc cả hai
(2) Người nghiên cứu chọn cách phân loại động cơ học tập của John Biggs
và Catherine Tang trong “Teaching for Quality Learning at University”, bao gồm: động cơ bên trong, động cơ bên ngoài, động cơ xã hội và động cơ thành đạt, làm cơ
sở lý luận chính cho việc tìm hiểu “Mối quan hệ giữa động cơ học tập với thành tích học tập của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam”
(3) Thành tích học tập trong đề tài được xác định là điểm số của môn học/mô-đun trong chương trình đào tạo ngành
Trên cơ sở này, từ việc xác định động cơ học tập, cách phân loại động cơ học tập, đặc điểm của các loại động cơ học tập, biểu hiện của các loại động cơ học tập, mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT, người nghiên cứu thiết kế bộ công cụ để tiến hành khảo sát thực trạng và tìm hiểu mối quan hệ giữa ĐCHT với TTHT của sinh viên ngành Điều hành chạy tàu hỏa tại chương II của luận văn
Trang 40Chương 2
THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ HỌC TẬP VỚI THÀNH TÍCH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU HÀNH CHẠY TÀU HỎA TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐƯỜNG SẮT – PHÂN HIỆU
PHÍA NAM
2.1 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên giao dịch: Phân hiệu Cao đẳng Đường sắt phía Nam
Địa chỉ: Số 07, đường Lý Thường Kiệt, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 02.743.742.796
Fax: 02.743.742.816
Địa chỉ website: caodangduongsat-cs2.edu.vn
Địa chỉ E-mail: phpn@truongduongsat.edu.vn
Trường Cao đẳng Đường sắt – Phân hiệu phía Nam, tọa lạc trên địa bàn tỉnh
Bình Dương, tiền thân là Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ khí II được thành lập
ngày 24/08/1977 theo Quyết định số 2199/QĐ-TC của Bộ Giao thông Vận tải
Ngày 11/07/1990, Bộ Giao thông Vận tải có quyết định số
1266/QĐ/TCCB-LĐ đổi tên Trường Công nhân kỹ thuật cơ khí II thành Trường Kỹ thuật Nghiệp vụ Đường sắt II
Ngày 12/8/2004, Bộ Giao thông Vận tải có quyết định số
2456/QĐ/TCCB-LĐ thành lập Trường Trung học Đường sắt II trên cơ sở Trường Kỹ thuật Nghiệp
vụ Đường sắt II
Ngày 01/08/2007, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam có quyết định số 926/QĐ-ĐS sáp nhập nguyên trạng Trường Trung học Đường sắt II vào Trường