THUYẾT MINH VỀ THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ QUA BÀI THƠ“ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN” A.MB: Thất ngôn Bát cú Đường luật là thể thơ chứa đựng những tinh hoa của văn học, đưa văn học thời Đường phát triể
Trang 1THUYẾT MINH VỀ THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ QUA BÀI THƠ
“ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN”
A.MB:
Thất ngôn Bát cú Đường luật là thể thơ chứa đựng những tinh hoa của văn học, đưa văn học thời Đường phát triển tới mức đỉnh cao rực rỡ với những tác giả nổi tiếng như Đỗ Phủ, Lí Bạch,… Thể thơ này cũng góp phần tạo nên sự thành công cho thơ ca trung đại Việt Nam, và một trong những tác phẩm thành công của thể thơ này phải nói tới bài “Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Châu Trinh
B.TB:
1 Thuyết minh về xuất xứ:
- Thể thơ này xuất hiện từ thời nhà Đường ở Trung Quốc từ thế kỉ thứ 7 đến thế kỉ thứ 10; bắt nguồn từ thơ 7 chữ cổ phong, phát triển mạnh mẽ ở đời nhà Đường và
du nhập vào Việt Nam qua con đường Nho học
- Thể thơ Thất ngôn Bát cú được các nhà thơ cổ điển Việt Nam ưa chuộng và nó có đóng góp quan trọng trong nền văn học nước nhà, đặc biệt là văn học trung đại Thể thơ này được chọn làm đề thi khoa bảng để chọn nhân tài Ban đầu thơ được viết bằng chữ Hán, sau dần chuyển qua chữ Nôm
2 Thuyết minh về đặc điểm thể thơ:
* Số chữ, số câu và bố cục:
Thơ Đường có qui tắc nghiêm ngặt về số câu, số chữ và thể thơ Thất ngôn Bát cú cũng vậy
+Theo qui định, mỗi bài thơ chỉ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ
+bài thơ được chia làm 4 phần: đề - thực – luận – kết, và mỗi phần có một nhiệm vụ riêng Hai câu đầu được gọi là câu đề, có nhiệm vụ giới thiều đề tài được nói tới; câu
ba và bốn là câu thực, có nhiệm vụ giải nghĩa rõ ý chính của đề bài Còn hài câu luận năm và sáu là bàn luận mở rộng vấn đề, giúp cho ý thơ sâu sắc hơn; hai câu cuối cùng bảy và tám là phần kết, có nhiệm vụ kết thúc, tổng kết vấn đề
Trang 2(Trong bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn”, hai câu đề: “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/ Lừng lẫy làm cho lở núi non” đã nói rõ chí khí của “kẻ làm trai” giữa thời loạn, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Bên cạnh đó, hai câu thực đã nói rõ hơn về công việc đập đá: “Xách búa đánh tan năm bảy đống/ Ra tay đập bể mấy trăm hòn”, từ đó làm toát lên tầm vóc hùng dũng, hiên ngang, ngạo nghễ của người tù cách mạng.)
*Luật bằng – trắc:
Về luật, bài thơ phải tuân theo luật thơ Luật thơ dựa trên sự xuất hiện của thanh bằng và thanh trắc ở chữ thứ hai trong câu thơ đầu tiên Thanh bằng là những chữ có dấu huyền hoặc không dấu, còn thanh trắc gồm các chữ với những dấu sắc, hỏi, ngã, nặng Nếu chữ thứ hai trong câu thơ đầu tiên là thanh bằng thì bài thơ được viết theo “luật bằng”, còn nếu là thanh trắc thì bài thơ được viết theo “luật trắc” Bài thơ
“Đập đá ở Côn Lôn” là một bài thơ Thất ngôn Bát cú Đường luật được viết theo “luật bằng” bởi tiếng “trai” trong câu thơ thứ nhất là thanh bằng: “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn” Một điều đáng chú ý, luật bằng – trắc qui định rất khắt khe: nhất – tam – ngũ bất luận; nhị - tứ - lục phân minh, có nghĩa là chữ thứ 1,3,5 không cần tuân theo luận, còn chữ thứ 2,4,6 phải theo qui tắc Chữ thứ 2 và 6 phải cùng thanh điệu, còn chữ thứ 4 thì ngược thanh điệu với hai chữ kia Luật này được thể hiện rất rõ trong bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn”:
“Những kẻ vá trời khi lỡ bước
T B T Gian nan chi kể việc con con”
B T B
Chữ thứ 2 và chữ thứ 6 trong câu 7: “kẻ” và “lỡ” đều là thanh trắc, trong khi chứ thứ 4 “trời” là thanh bằng Trong cả bài thơ, Phan Châu Trinh đều thể hiện đúng qui định luật về thanh điệu của thể thơ Nếu bài thơ nào không tuân theo luật vê thanh điệu thì bài thơ đó sẽ bị gọi là “thất luật”
*Niêm:
-Nếu luật về thanh điệu theo chiều ngang thì niêm lại là qui định theo chiều dọc
Trang 3-Niêm là chỉ sự kết dính giữa các câu thơ về thanh điệu
-Trong thể thơ Thất ngôn Bát cú qui định: câu 1 niêm với câu 8 và lần lượt là câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7 Trong bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn”, nhà thơ đã rất khéo léo để niêm các câu thơ với nhau:
“Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
B T B Gian nan chi kể việc con con”
B T B
Các chữ 2,4,6 trong câu 1 và câu 8 hoàn toàn trùng nhau về thanh điệu
*Đối:
- Hai cặp câu thực và luận không chỉ qui định về nội dung mà còn phải tuân thủ về phép đối
-Phép đối được thể hiện trên ba phương diện:
+đối thanh (trái ngược nhau về thanh bằng – trắc),
+đối về từ loại (cùng từ loại)
+và đối về ý nghĩa (có hai loại đối: đối tương hỗ - bổ sung và đối tương phản – trái ngược nhau)
Hai câu thực ở bài “Đập đá ở Côn Lôn” cho ta thấy rõ sự đối lập này: “Xách búa đanh tan năm bảy đống/ Ra tay đập bể mấy trăm hòn” “Xách búa” là trắc – trắc, đối với
“Ra tay” là bằng – bằng Không chỉ đối thanh điệu mà “Xách búa” và “Ra tay” còn đối
về cả từ loại: cùng là động từ Cùng với đó là sự đối lập tương hỗ về ý nghãi, giúp ta cảm nhận được sự dũng cảm, hiên ngang, hành động quả quyết, sức mạnh ghê gớm của người tù cách mạng qua công việc đập đá
*Vần:
Cách gieo vần của thể thơ này là “độc vận”, vần này thường là vần bằng, được gieo
ở các chữ cuối các câu 1,2,4,6,8 Nếu chữ cuối các câu này mà không bắt vần với
Trang 4nhau thì bị xem là “thất vần” Bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” gieo vần chính là vần “on” với các chữ “non”, “hòn”, “son”, “con” và vần thông ở câu đầu tiên là chữ “Lôn”
*Nhịp:
Nhịp ở bài thơ Thất ngôn Bát cú thường là nhịp 2/2/3, 3/2/2, 4/3 Nhịp của bài thơ
“Đập đá ở Côn Lôn” là 2/2/3
3 Ưu – Nhược điểm:
* Ưu điểm: Thể thơ ngắn gọn, súc tích, cô đọng, giàu nhạc điệu, lời ít ý nhiều, phù
hợp để bộc lộ tình cảm da diết, mãnh liệt, cháy bỏng đối với quê hương, đất nước, thiên nhiên
*Nhược điểm: Bị hạn chế về số chữ, bị gò bó về các qui tắc vần, luật bằng – trắc,
niêm, đối
C.KB:
- Thất ngôn Bát cú Đường luật là một thể thơ có chỗ đứng quan trong trong nền văn học Việt Nam, giúp cho nền văn học trung đại Việt Nam có bước phát triển rực rỡ, đáng tự hào
- Cuối cùng, thể thơ này mãi mãi sẽ là khuôn vàng thước ngọc để các nhà thơ viết lên các sáng tạo nghệ thuật cao quý cho đời sau