Câu 1 Vì sao nói sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin là một tất yếu lịch sử? Khái niệm Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của C Mác, Ph Ăngghen và sự phát triển của V I L.
Trang 1Câu 1 Vì sao nói sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin là một tất yếu lịch sử?
Khái niệm: Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin, được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại, là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, là khoa học về sự giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp:
Vào cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và lan rộng ra các nước Tây Âu tiên tiến không những làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành hệ thống kinh tế thống trị, tính hơn hẳn của chế
độ tư bản so với chế độ phong kiến thể hiện rõ nét, mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội mà trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản
- Sự xuất hiện giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị - xã hội độc lập:
Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến Giai cấp vô sản cũng đã đi theo giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến Đồng thời với sự phát triển đó, mâu thuẫn vốn có, nội tại nằm trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng thể hiện sâu sắc và gay gắt hơn Mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản, vốn mang tính đối kháng, đã biểu hiện thành đấutranh giai cấp Giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng trong
Trang 2xã hội Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, giai cấp vô sản đã xuất hiện với tư cách
là một lực lượng chính trị - xã hội độc lập và đã ý thức được những lợi ích cơ bản của mình để tiến hành đấu tranh tự giác chống giai cấp tư sản
- Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đặt ra yêu cầu khách quan là nó phải được soi sáng bằng lý luận khoa học Mác và Ăng ghen sáng lập Chủ nghĩa Mác làlời giải đáp cho yêu cầu xã hội đứng trên lập trường của giai cấp vô sản
1.2 Tiền đề lý luận
- Triết học cổ điển Đức, đặc biệt với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen
vàPhoiơbắc, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác C.Mác và
Ph.Ăngghen đã kế thừa triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phép biện chứng duy tâm
và tư tưởng duy vật về những vấn đề cơ bản của triết học để xây dựng nên phép biện chứng duy vật và mở rộng nhận thức sang cả xã hội loài người, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và triệt để
- Kinh tế chính trị học Anh, với những đại biểu xuất sắc là A.Xmit và Đ.Ricacđô,
mà đặc biệt là lý luận về kinh tế hàng hóa; học thuyết giá trị thặng dư là cơ sở của
hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Đó còn là việc thừa nhận các quy luật khách quan của đời sống kinh tế xã hội, đặt quy luật giá trị làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống kinh tế và rằng, do đó chủ nghĩa tư bản là vĩnh cửu
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như Xanh Ximông và Sáclơ Phuriê và những dự đoán thiên tài mà trước hết là lịch sử loài người là một quá trình tiến hóa không ngừng, chế độ sau tiến bộ hơn chế độ trước; rằng sự xuất hiện các giai cấp đối kháng trong xã hội là kết quả của sự chiếm đoạt; đồng thời phê phán chủ nghĩa tư bản là ở đó con người bị bóc lột và lừa bịp, chính phủ không quan tâm tới dân nghèo Khẳng định xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội công nghiệp mà trong đó, công nông nghiệp đều được khuyến khích, đa số người
Trang 3lao động được bảo đảm những điều kiện vật chất cho cuộc sống, là cơ sở để chủ nghĩa Mác phát triển thành lý luận cải tạo xã hội.
1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phát minh quan trọng, cung cấp cơ sở tri thức khoa học để tư duy biện chứng trở thành khoa học
- Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lương đã dẫn đến kết luận triết học là sự phát triển của vật chất là một quá trình vô tận của sự chuyển hoá những hình thức vận động của chúng
- Thuyết tế bào xác định sự thống nhất về mặt nguồn gốc và hình thức giữa động vật và thực vật; giải thích quá trình phát triển của chúng; đặt cơ sở cho sự phát triển của toàn bộ nền sinh học; bác bỏ quan niệm siêu hình về nguồn gốc và hình thức giữa thực vật với động vật
- Thuyết tiến hoá đã khắc phục được quan điểm cho rằng giữa thực vật và động vậtkhông có sự liên hệ; là bất biến; do Thượng Đế tạo ra và đem lại cho sinh học cơ
sở khoa học, xác định tính biến dị và di truyền giữa các loài Chủ nghĩa Mác ra đời
là một tất yếu lịch sử Sự ra đời của nó không những do nhu cầu nhu cầu khách quan của thực tiễn xã hội lúc bấy giờ, do sự kế thừa những thành tựu trong lý luận
và được kiểm chứng bằng các thành tựu của khoa học, mà còn do bản thân sự phát triển của lịch sử đã tạo ra những tiền đề khách quan cho sự ra đời của nó Bởi vậy, chủ nghĩa Mác “Cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân, những công cụ nhận thức vĩ đại” và Đảng Cộng sản Việt Nam “kiên định chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động củaĐảng”
Trang 4Câu 2 Phân tích điều kiện, tiền đề hình thành chủ nghĩa Mác Thực chất và ýnghĩa cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện?
Triết học Mác - Lênin ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX và phát triển cho đến ngày nay.Từ khi ra đời, triết học Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch
sử triết học và trởthành thế giới quan, phương pháp luận của hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễncủa con người.Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác nhìn chung, có hai nguồn gốc rađời của triết học là nguồn gốc tri thức và nguồn gốc xã hội Đối với triết học Mác thì nguồngốc ra đời biểu hiện thành các điều kiện sau:
2.1 Điều kiện, tiền đề hình thành chủ nghĩa Mác
a Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cáchmạng công nghiệp.Vào những năm 40 của thế kỷ XIX do tác động của cuộc cách mạng trong công nghiệplàm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đượccủng cố vững chắc và trở thành xu thếphát triển của nền sản xuất xã hội Nước Anh đã hoànthành cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành cường quốc công nghiệp Sự phát triển củalực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản được củng cố tạo ra cơ sở kinh tế để choxã hội tư bản phát triển kèm theo đó mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càngrõ rệt; sự phân hóa giàu nghèo tăng lên, bất công xã hội tăng Những xung đột giữa giai cấp vôsản với tư sản đã phát triển thành những cuộc đấu tranh giai cấp
- Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử.Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành và phát triểncủa phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa Khi chế độ tư bản chủ nghĩa được xác lập, giai cấptư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội, giai cấp vô sản trở thành bị trị thì mâu thuẫn giữa
Trang 5vôsản với tư sản vốn mang tính đối kháng phát triển trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở thành phố Liông (Pháp) năm 1831 Ở Anh có phong trào Hiếnchương vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX, nước Đứcnổi lên phong trào đấu tranh củathợ dệt ở Xilêdi đã mang tính giai cấp.Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cáchmạng Giai cấp tư sản tuy nắm quyền thống trị, lại hoảng sợ trước cuộc đấu tranh của giai cấpvô sản nên không còn là vị trí tiên phong trong quá trình cải tạo dân chủ như trước Vì vậy,giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư bản và trở thành lựclượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ
và tiến bộ xã hội.Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và phong trào đấu tranh của họ đãtạo ra nguồn tư liệu quý báu về thực tiễn xã hội để Các Mác và
Ph Ăngghen khái quát xâydựng những quan điểm triết học.Như vậy, từ thực tiễn
xã hội (Đấu tranh của giai cấp vô sản chỉ là đấu tranh 1 cách tựphát không làm thayđổi được địa vị xã hội của họ) đòi hỏi phải được soi sáng bởi một hệthống lý luận, một học thuyết triết học mới Học thuyết đó phải xuất hiện để định hướng phongtrào đấu tranh chuyển từ tự phát sang tự giác để nhanh chóng đạt được thắng lợi toàn diện
b Điều kiện về mặt lý luận
- Sự kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học
- Sự ra đời của triết học mác phù hợp với quy luật của lịch sử tư tưởng nhân loại, là
sự kế thừavà phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại
- Xây dựng học thuyết mới trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng có mối qua hệ hữucơ với nhau
Trang 6- Triết học Mác ra đời là sự tác động qua lại với quá trình các ông kế thừa và cải tạo học thuyếtkinh tế chính trị của Anh và lý luận của chủ nghĩa xã hội.
- Các ông vừa phê phán chủ nghĩa duy tâm, vừa đánh giá cao tư tưởng biện chứng của Heghen,của Phơbach, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cáchhữu cơ; đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét giới tự nhiên, xả hội và tư duycon người,
=>Từ những điều kiện trên, chủ nghĩa Mác - Lênin được ra đời
Tóm lại, Triết học Mác cũng như toàn bộ Chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử,không những vì nó là sự phản ảnh thực tiễn xã hội, nhất là thực tiển cách mạng của giai cấp vôsản mà còn là sự phát triển hợp quy luật của lịch sử tư tưởng nhân loại
2.2 Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thựchiện
Sự ra đời của triết học Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX đã được thừa nhận
là mộtcuộc cách mạng trong lịch sử triết học Cuộc cách mạng này đã đưa triết học nhân loại từ thờikỳ chủ yếu là “giải thích thế giới” sang thời kỳ không chỉ “giải thích thế giới”, mà còn “cải tạothế giới” Rõ ràng là, với sự ra đời của triết học Mác, lịch sử triết học của nhân loại đã chuyểnsang một thời kỳ mới về chất Thực chất của cuộc cách mạng này được thể hiện ở những điểmcơ bản sau:
-Thứ nhất, khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứngtrong lịch sử triết học trước đó, C.Mác đã tạo nên sự thống nhất hữu cơ không thể tách rờigiữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng - đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng.Trước khi triết học Mác ra đời, trong suốt chiều dài lịch
sử triết học, chủ nghĩa duy vậtthường tách khỏi phương pháp biện chứng Trong
Trang 7triết học Hy Lạp cổ đại, có thể nói, đã có sựthống nhất nhất định giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng ở một số nhà triết họcduy vật Sự thống nhất này được thể hiện rõ nhất trong triết học của Hêraclít Tuy nhiên, sựthống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng trong triết học của Hêraclít cònở trình độ thấp Hơn nữa, cả chủ nghĩa duy vật lẫn phương pháp biện chứng của Hêraclít đềucòn ở trình độ thô sơ, chất phác, đúng như Ph.Ăngghen đã đánh giá: "Cái thế giới quan banđầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạpcổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồngthời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đềukhông ngừng phát sinh
và tiêu vong".Ở thời kỳ Phục hưng và Cận đại, chủ nghĩa duy vật đã có bước phát triển về chất so vớichủ nghĩa duy vật thời Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, chủ nghĩa duyvật thời kỳ này, về cơ bản,vẫn là chủ nghĩa duy vật siêu hình Nghĩa là chủ nghĩa duy vật vẫn tách rời phương pháp biệnchứng Các nhà triết học cổ điển Đức, nhất
là Hêghen, đã đối lập phương pháp biện chứng vớiphương pháp siêu hình, tạo ra một giai đoạn phát triển về chất trong phương pháp nhận thức.Tuy nhiên, phương pháp biện chứng của Hêghen lại dựa trên nền thế giới quan duy tâm Nóikhác đi, phương pháp biện chứng của Hêghen không gắn kết hữu cơ với chủ nghĩa duy vật, màgắn kết hữu cơ với chủ nghĩa duy tâm Cho nên, phương pháp biện chứng đó không thực sự trởthành khoa học, mặc dù nó có đóng góp nhất định cho sự phát triển tư duy nhân loại Đỉnh caocủa chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc Nhưng, chủnghĩa duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc lại là chủ nghĩa duy vật siêu hình, nghĩa là nó vẫn táchkhỏi phương pháp biện chứng.Trong triết học của C.Mác, chủ nghĩa duy vật gắn kết, thống nhất hữu cơ với phươngpháp biện chứng Chủ nghĩa duy vật được C.Mác làm giàu bằng
phương pháp biện chứng, cònphương pháp biện chứng được ông đặt trên nền chủ nghĩa duy vật Đồng thời, cả chủ nghĩaduy vậtlẫn phương pháp biện chứng đều
Trang 8được C.Mác phát triển lên một trình độ mới về chất.Do vậy, sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng trong triếthọc Mác hơn hẳn về chất so với sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biệnchứng trong triết học Hy Lạp cổ đại Vì vậy, đây chính là bước phát triển cách mạng trongtriết học do C.Mác thực hiện.
-Thứ hai, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện vĩ đại nhất của cuộc cáchmạng trong triết học do C.Mác thực hiện.Chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã đóng một vai trò to lớn đối với sự phát triển của xãhội, của khoa học và triết học Tuy nhiên, đó là chủ nghĩa duy vật không triệt để Nghĩa là nóchỉ duy vật trong giải thích thế giới tự nhiên, nhưng còn duy tâm trong giải thích xã hội, lịchsử, tinh thần Do vậy, chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không đánh đổ được chủ nghĩa duytâm một cách hoàn toàn Chủ nghĩa duy tâm vẫn còn nơi ẩn trú của nó là lĩnh vực xã hội, lịchsử, tinh thần Chủ nghĩa duy vật của C.Mác đã giải thích một cách duy vật, khoa học không chỉthế giới tự nhiên, mà cả lĩnh vực xã hội, lịch sử, tinh thần Do vậy, chủ nghĩa duy vật củaC.Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để nhất, hoàn
bị nhất Không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lêninđã khẳng định: “Triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” Rằng, “chủnghĩa duy vật lịch sử của Mác
là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoahọc hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trướcđến naytrong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Như vậy, với quan niệm duy vật về lịchsử, C.Mác đã kết thúc thời kỳ nghiên cứu xã hội, lịch sử một cách tùy tiện, lộn xộn, mở ra mộtthời kỳ mới trong nghiên cứu xã hội, lịch sử bằng việc chỉ ra quy luật hình thành, vận động vàphát triển của xã hội, của lịch sử Ph.Ăngghen đã so sánh phát minh này của C.Mác như phátminh của Đácuyn trong khoa học tự nhiên:
“Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triểncủa thế giới hữu cơ, Mác đã tìm raquy luật phát triển của lịch sử loài người” Chủ nghĩa duyvật lịch sử của C.Mác
Trang 9“chỉ cho ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hìnhthức tổ chức xã hội này, nảy ra và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xãhội khác, cao hơn; chẳng hạn, chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh ra như thế nào
từ chế độ phongkiến” Về bản chất, chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác - quan niệm duy vật về lịch sử - cũnglà chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng thể hiện được tính đặc thù của lĩnh vực lịch sử – lĩnhvực hoạt động của con người Chính chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biệnchứng đã trở thành cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho C.Mác nghiên cứu kinh tế,phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư, hiểu được sự phát sinh, phát triển, diệt vong tất yếucủa hìnhthái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa Do vậy, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịchsử
là biểu hiện vĩ đại nhất của cuộc cách mạng trong triết họcdo C.Mác thực hiện.-Thứ ba, với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,C.Mác đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn của con người.Trên cơ sở đó, triết học của ông đã trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhânloại tiến bộ.Trước khi triết học Mác ra đời, các nhà triết học thường tập trung chủ yếu vào giải thíchthế giới, mà ít chú ý tới cải tạo thế giới Đúng như C.Mác đã từng nhận định: “Các nhà triếthọc đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”.Cũng đã có một số nhà triết học muốn cải tạo thế giới nhưng lại bằng con đường không tưởng -dựa vàocáclực lượng siêu nhiên, bằng “khai sáng”, mở mang dân trí, bằng con đường giáodục đạo đức,v.v Có thể nói, không một nhà triết học nào trước C.Mác hiểu được thực tiễn vàvai trò của nó đối với cải tạo thế giới Các nhà triết học Khai sáng Pháp muốn thay thế cácquan hệ xã hội phong kiến lạc hậu, lỗi thời bằng các quan hệ xã hội tiến bộ hơn cũng khônghiểu được rằng, phải thông qua hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng mới thực hiệnđược điều này Ngay cả L.Phoiơbắc - đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác -“cũng chỉ coi hoạt động lý luận là
Trang 10hoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn thì chỉđược ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi”.Không phải ngẫu nhiên mà sau này, C.Mác đã nhận định: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộchủ nghĩa duy vật từ trước đến nay – kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc – là sự vật, hiệnthực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hìnhthức trực quan,chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn”.Trung tâm chú ý của triết học Mác không chỉ là giải thích thế giới, mà quan trọng hơn làcải tạo thế giới Khác với các nhà triết học trước đó, C.Mác đã chỉ ra rằng, chỉ có thể cải tạođược thế giới thông qua hoạt động thực tiễn của con người Với việc đưa phạm trù thực tiễnvào lý luận nhận thức nói riêng, vào triết học nói chung, C.Mác đã làm cho triết học của ônghơn hẳn về chất so với toàn bộ triết học trước đó Trong triết học Mác, không có sự đối lậpgiữa triết học với hoạt động thực tiễn của con người, trước hết là hoạt động thực tiễn của giaicấp vô sản Hoạt động thực tiễn của giai cấp vô sản được soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo,
địnhhướng bởi chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngược lại, hoạt độngthực tiễn của giai cấp vô sản lại là cơ sở, động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Giữa triết học Mác với hoạt động thực tiễn của giai cấp vôsản có sự thống nhất hữu cơ với nhau Đúngnhư C.Mác đã khẳng định: “Giống như triết họcthấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khítinh thần của mình” Dovậy, triết học Mác đã trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giớicủa giai cấp vôsản và của toàn thể nhân loại tiến bộ
-Thứ tư, với việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịchsử, C.Mác đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể.Trước khi triết học Mác ra đời, triết học hoặc là hòa tan, ẩn giấu đằng sau các khoa họckhác, hoặc đối lập với chúng Chẳng hạn, ở phương Đông cổ đại, triết học
Trang 11thường ẩn giấu đằngsau các học thuyết về chính trị, tôn giáo, đạo đức,v.v Ở Hy Lạp cổ đại, triết học được coi là“khoa học của các khoa học” Trong thời kỳ Trung
cổ, triết học được coi là “bộ môn” của thầnhọc, có nhiệm vụ chứng minh sự tồn tại của Thượng đế Ở thời kỳ Cận đại, triết học được coilà mêthaphisica với nghĩa là nền tảng thế giới quan của con người, như quan niệm củaR.Đêcáctơ; hoặc triết học được coi là tổng thể tri thức của con người trong quan niệm củaPh.Bêcơn, v.v Trong triết học cổ điển Đức, triết học lại được coi là “khoa học của các khoahọc” Quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qualại lẫn nhau Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các tư liệu,
dữ kiện, thông sốkhoa học để triết học Mác khái quát Ngay sự ra đời của triết học Mác cũng không thể thiếunhững tiền đề khoa học tự nhiên Chính những thành tựu của khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷXIX đã làm bộc lộ những hạn chế, sự bất lực của phương pháp siêu hình trong nhận thức thếgiới; đồng thời cung cấp cơ sở khoahọc cho sự ra đời của phương pháp biện chứng Trongquan hệ với các khoa học cụ thể, triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luậnchung nhất Thực tiễn phát triển mạnh mẽ của các khoa học cụ thể càng làm tăng vai trò thếgiới quan, phương pháp luận của triết học Mác Đúng như một nhà khoa học tự nhiên ở thế kỷXX đã nhận xét: “Các khái quát hóa triết học cần dựa trên các kết quả khoa học Tuy nhiên,một khi đã xuất hiện và được truyền bá rộng rãi, chúng thường rất ảnh hưởng đến sự phát triểntiếp tục của tư tưởng khoa học, khi chúng chỉ ra một trong rất nhiều phương hướng phát triểncó thể có” Như vậy, sự ra đời của triết họcMác đã chấm dứt mâu thuẫn giữa triết học với cáckhoa học cụ thể.Cuộc cách mạngtrong triết học do C.Mác thực hiện có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vôcùng to lớn đối với thời đại Chính cuộc cách mạng này đã làm cho chủ nghĩa xã hội
khôngtưởng có cơ sở để trở thành khoa học Cuộc cách mạng này cũng làm cho triết học thay đổi cảvề vai trò, chức năng và nhiệm vụ Triết học Mác đã trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thếgiới của nhân loại tiến bộ
Trang 12Câu 3 Thế nào là vấn đề cơ bản của triết học? Nội dung vấn đề cơ bản của triếthọc?
3.1 Khái niệm: Vấn đề cơ bản của triết học Khởi điểm lý luận của bất kỳ học thuyết triếthọc nào đều là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại; giữa ý thức với vật chất; giữatinh thần với giới tự nhiên.Vấn đề cơ bản của triết học có đặc điểm:
- Đó là vấn đề rộng nhất, chung nhất đóng vai trò nền tảng, định hướng để giải quyếtnhững vấn đề khác
- Nếu không giải quyết được vấn đề này thì không có cơ sở để giải quyết các vấn đềkhác, ít chung hơn của triết học
- Giải quyết vấn đề này như thế nào thể hiện thế giới quan của các nhà triết học và thếgiới quan đó là cơ sở tạo ra phương hướng nghiên cứu và giải quyết những vấn
đề còn lạicủa triết học.Theo Ph.Ăngghen, “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiệnđại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”
3.2 Hai nội dung (hai mặt) vấn đề cơ bản của triết học
-Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận) vấn đề cơ bản của triết học giải quyết mối quan hệgiữa ý thức với vật chất Cái gì sinh ra và quy định cái gì - thế giới vật chất sinh
ra và quyđịnh thế giới tinh thần; hoặc ngược lại, thế giới tinh thần sinh ra và quy định thế giới vậtchất - đó là mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học Giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bảncủa triết học như thế nào là cơ sở duy nhất phân chia các nhà triết học và các học thuyết củahọ thành hai trường phái đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm triết học;phân chia các nhà triết học và các họcthuyết của họ thành triết học nhất nguyên (còn gọi lànhất nguyên luận) và triết học nhị nguyên (còn gọi là nhị nguyên luận)
Trang 13-Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) vấn đề cơ bản của triết học giải quyết mối quan hệgiữa khách thể với chủ thể nhận thức, tức trả lời câu hỏi liệu con người có khả năng nhậnthức được thế giới (hiện thực khách quan) hay không? Giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bảncủa triết học như thế nào là cơ sở phân chia các nhà triết học
và các học thuyết của họ thànhphái khả tri (có thể biết về thế giới), bất khả tri (không thể biết về thế giới) và hoài nghiluận (hoài nghi bản chất nhận thức của conngười về thế giới)
Câu 4 Trình bày định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin và ý nghĩa phương phápluận của định nghĩa.
4.1 Định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại chocon người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tạikhông lệ thuộc vào cảm giác”.Phân tích định nghĩa: Vật chất là 1 phạm trù triết học, thì nó khác với vật chất trongkhoa học tự nhiên và trong đời sống hàng ngày.Vật chất trong khoa học tự nhiên, trong đời sống hàng ngày là các dạng vật chất cụ thể,tồn tại hữu hình, hữu hạn; có sinh ra có mất đi, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác Chúngbao gồm vật chất dưới dạng hạt, trường, trong tự nhiên, xã hội, dưới dạng vĩ mô, vi mô rấtphong phú đa dạng.Vật chất với tính cách
là 1 phạm trù triết học tức là vật chất đã được khái quát từ tất cảcác sinh vật cụ thể
Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi đầu, không có kết thúc,không được sinh ra, không bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế không thể quy nó vàocác vật cụ thể để hiểu nó.Vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Nghĩa là vật chất là tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với cảm giác, ýthức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức Đây là thuộc tính quan trọng nhất của vậtchất, là tiêu chuẩn để phân
Trang 14biệt cái gì là vật chất, cái gì không là vật chất Điều đó khẳng địnhvật chất có trước, cảm giác ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, củaý thức.Vật chất tồn tại không huyền bí mà nó là “thực tại khách quan được đemlại cho conngười trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh“ Điều nàykhẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới vật chất,chỉ có những điều chưa biết chứkhông thể có những điều không biết.
4.2 Ý nghĩa phương pháp luận
* Định nghĩa này đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề cơ bản của triết học, thể hiện rõ lậptrường duy vật biện chứng Lênin đã giải đáp toàn bộ vấn đề cơ bản của triết học đứng trên lậptrường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Coi vật chất là có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảmgiác, ýthức, ý thức con người là sự phản ánh của thực tại khách quan đó Con người có khả năng nhậnthức thế giới
- Định nghĩa này bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất (Vật chất có trước, ý thức cósau, vật chất là nguồn gốc của ý thức)
- Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủnghĩa duy vật trước Mác (quan niệm vật chất về các vật thể cụ thể, về nguyên tử, không thấyvật chất trong đời sống xã hội là tồn tại)
- Định nghĩa vật chất của Lê Nin bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường về vậtchất (coi ý thức cũng là 1 dạng vật chất)
- Định nghĩa này bác bỏ thuyết không thể biết
Trang 15- Định nghĩa này đã liên kết chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật lịch sử thànhmột thể thống nhất (Vật chất trong tự nhiên, vật chất trong xã hội đều
là những dạng cụ thểcủa vật chất mà thôi, đều là thực tại khách quan)
- Mở đường cổ vũ cho khoa học đi sâu khám phá ra những kết cấu phức tạp hơn của thế giớivật chất
Định nghĩa này không quy vật chất về vật thể cụ thể, vì thế sẽ tạo ra kẻ hở cho chủnghĩa duy tâm tấn công, cũng không thể quy vật chất vào 1 khái niệm nào rộng hơn để địnhnghĩa nó, vì không có khái niệm nào rộng hơn khái niệm vật chất Vì thế chỉ định nghĩa nóbằng cách đối lập nó với ý thức để định nghĩa vạch rõ tính thứnhất và tính thứ 2, cái có trướcvà cái có sau
Câu 5 Tại sao nói định nghĩa vật chất của Lênin ra đời là bước ngoặt trong lịch sửtriết học?
Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ănghen thực hiện
Triết học Mác ra đời đã khắc phục được sự lệch rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng tạo ra hình thức cao nhất của chủ nghĩa duy vật đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng vàhình thức cao nhất của phép biện chứng là biện chứng duy vật
- Việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những phát hiện vĩ đại trongcuộc cách mạng do Mác và Ănghen thực hiện trong triết học.Triết học Mác rađời đã làm cho vai trò, vị trí của triết học là quan hệ giữa triết học vớicác khoa học khác có sự thay đổi.Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu là để cải tạo thế giới.Triết học Mác còn là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, nó chỉ ra cho giaicấp công nhân con đường đấu tranh để giải phóng Mác nói
Trang 16"Giống như triết học thấy ở giaicấp vô sản mới vũ khí vật chất thì giai cấp vô sản tìm thấy ở triết học một vũ khí tinh thần".Triết học Mác có sự gắn bó giữa tính khoa họcvà tính cách mạng giữa lý luận với thựctiễn Đó là triết học sáng tạo.
Câu 6 Trình bày quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vận động củavật chất và ý nghĩa phương pháp luận của nó Thế nào là hiện tượng đứng
vị trí đơn giản cho đến tư duy”.Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất Vật chất và vận động không tách rời nhau Ở đâu cóvật chất thì ở đó có vận động, và ởđâu có vận động thì ở đó phải có vật chất Bất
cứ sự vật, hiện tượng nào, dù trong tự nhiên hayxã hội, dù vô cùng lớn hay vô cùngnhỏ, dù thuộc giới vô sinh hay hữu sinh đều ở trong trạngthái biến đổi không
ngừng Theo Ph.Ăngghen, vật chất mà không vận động là điều không thểtưởng tượng được Vật chất chỉ có thể tồn tại được bằng cách vận động và thông qua sự vậnđộng mà biểu hiện sự tồn tại của mình Vì vậy, nhận thức sự vận động của sự vật cũng chính lànhận thức bản thân sự vật.Vận động của vật chất là sự tự thân vậnđộng Nguồn gốc của sự vận động nằm ngay trongbản thân thế giới vật chất, mà không cần đến một lực lượng siêu tự nhiên nào từ bên ngoài Vậtchất không do ai sáng tạo ra và nó không thể bị tiêu diệt, mà vận động là thuộc tính cố hữu củavật chất, nên vận động cũng không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt Vận
Trang 17động củamột vật thể cụ thể có thể tăng, giảm, nhưng vận động của toàn thế giới vậtchất bao giờ cũng làmột số không thay đổi Định luật chuyển hóa và bảo toàn năng lượng đã cho thấy, nếu mộthình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì tất yếu nảy sinh một hình thức vận động khácthay thế Các hình thức vận động có thể chuyển hóa lẫn nhau, nhưng vận động của vật chấtluôn luôn được bảo toàn cả về mặt chất và lượng.
b Các hình thức vận động cơ bản của vật chất
Dựa vào những thành tựu khoa học thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân chia vận động củavật chất thành năm hình thức cơ bản
- Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian)
- Vận động vật lý (vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, các quá trình nhiệt,điện, từ, )
- Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, sự biến đổi các chất vô cơ, hữu
cơ trongnhững quá trình hóa hợp và phân giải)
- Vận động sinh học (sự biến đổi của các cơ thể sống, sự trao đổi chất giữa cơ thể sống vàmôi trường )
- Vận động xã hội (quá trình biến đổi và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội;
sự biếnđổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v của đời sống xã
hội).Giữa các hình thức vận động có sự khác nhau về chất, có quy luật vận động riêng Songchúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật thiêt với nhau, trong đó hình thức vậnđộng cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp
và bao hàm trong đó những hìnhthức vận động thấp hơn Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vậnđộng khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động caonhất mà nó có Ví dụ, đối
Trang 18với động vật thì vận động sinh học là vận động đặc trưng, mặc dùtrong cơ thể độngvật còn có các vận động cơ học, vật lý và hóa học Không thấy được điều đósẽ không phản ánh được bản chất của sự vật.
6.2 Đứng im tương đối
Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận động không ngừng Nhưng điều đókhông loại trừ mà còn bao hàm trong đó hiện tượng đứng im tương đối Nếu không có hiệntượng đứng im tương đối thì sẽ không có một sự vật nào tồn tại được, và chúng ta cũng sẽkhông nhận thức được sự vận động của sự vật
Hiện tượng đứng im chỉ là tương đối và tạm thời, sở dĩ như vậy là vì:
- Thứ nhất, hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định, còn trong mốiquan hệ khác thì sự vật vẫn đang vận động Ví dụ, con tàu đứng im so với bến cảng, còn so vớimặt trời thì nó đang vận động theo sự vận động của trái đất
- Thứ hai, hiện tượng đứng im chỉ xảy ra đối với một hình thức vận động nhất địnhtrong mộtlúc nào đó, chứ không phải đối với tất cả mọi hình thức vận động trong cùng một lúc Ví dụ,con tàu đứng im xét về hình thức vận động cơ học, trong khi
đó các hình thức vận động lý, hóakhông ngừng diễn ra trong bản thân nó
- Thứ ba, hiện tượng đứng im chỉ là biểu hiện của một trạng thái vận động - vận động trongthăng bằng, trong sự ổn định tương đối Chính nhờ trạng thái ổn định này mà vật chất biểu hiệnthành các sự vật, hiện tượng cụ thể và qua đó sự vật mới
có điều kiện để thực hiện sự phân hóatiếp theo Bởi vậy, trạng thái đứng im tương đối biểu hiện như một quá trình vận động trongphạm vi chất của sự vật còn ổn định; nó còn là nó, chứ chưa chuyển thành cái khác Nhưngtrạng thái thăng bằng,
Trang 19ổn định này sẽ bị sự vận động là tuyệt đối phá vỡ Ph.Ăngghen viết:“Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ lại phá hoại sựcân bằng riêng biệt" Tóm lại: Trong quan hệ giữa vận động và đứng im, vận động
là tuyệt đối, vĩnh viễn, đứngim là tương đối, tạm thời; vận động là tuyệt đối không
hề loại trừ mà còn hàm chứa cả sự đứngim, còn sự đứng im không phải là một trạng thái cố định mà là một dạng của vận động
Câu 7 Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc và bảnchất của ý thức Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này.
*Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan hay ý thức chỉ chẳng qua là hìnhảnh của thế giới khách quan được di chuyển vào trong bộ óc người và cải biến đi
7.1 Nguồn gốc của ý thức
a Nguồn gốc tự nhiên (Thuộc tính phản ánh của vật chất và sự ra đời của ý thức)– Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữa lại, tái hiện của hệthống vật chất này, những đặc điểm của hộ thống vật chất khác trong quá trình tác động qualại -> Định nghĩa vật chất của Lênin
– Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất
– Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não con người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người
Trang 20b Nguồn gốc xã hội (Vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành vàphát triển của ý thức).
– Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất cả các động
vật khác
+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ và sử dụng các công cụ
để tạo ra của cải vật chất
+ Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới vật chấtkhách quan làm biến đổi thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của con người
+ Trong quá trình lao động, bộ não người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm chokhả năng tư duy trừu tượng của con người cùng ngày càng phát triển
– Lao động sản xuất còn là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ
+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu cần trao đổikinh nghiệm Từ đó nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy” Vì vậy, ngôn ngữra đời và phát triển cùng với lao động
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để conngười giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quát sự vật, tổng kết kinh nghiêm thựctiễn và trao đổi chung giữa các thế hệ Chính vì vậy, Ăngghencoi: lao động và ngôn ngữ là“hai sức kích thích chủ yếu” biến bộ não của con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lýđộng vật thành phản ánh ý thức
Lao động và ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành và pháttriển ý thức
7.2 Bản chất của ý thức
Trang 21Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, làthực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thứcsinh ra vậtchất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất.Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ nãocon người thông qua thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
kháchquan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất
– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ýthức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinhthần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm
– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng có nghĩa là ý thức là sựphản ánh tự giác, sáng tạo thế giới
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiệu được cái được phản ánh Trên cơ sở
đó hình thành nên hìnhảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dự trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩn của các quan hệ xã hội Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ýthức là có tính xã hội.Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đốilập với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ra vật chất và chủ nghĩa duyvật tầm thường coi ý tức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản ánh giản đơn, thụđộng về thế giới vật chất
Trang 227.3 Ý nghĩa phương pháp luận.
- Do ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức
và hoạt độngthực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan Cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí
- Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nên cần chống tư tưởng thụ động và chủnghĩa giáo điều xa rời thực tiễn
Câu 8 Trình bày nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức? Tại sao nói, bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan?
*Nguồn gốc của ý thức dựa vào quan điểm từ chủ nghĩa duy vật biện chứng gồm:-Nguồn gốc tự nhiên của ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được tạo bởi các yếu tố tự nhiên từ ý thức chính là
bộ óc và sự hoạt động cùng các mối quan hệ thế giới khách quan và con người.Trong đó thì thế giới khách quan có sự tác động tới bộ óc của con người tạo ra khảnăng về sự hình thành ý thức từ con người đối với thế giới khách quan Tóm lại, ýthức là sự phản ánh về thế giới khách quan từ con người
Phản ánh là sự tái tạo về đặc điểm dạng vật chất này bởi dạng vật chất khác khi tácđộng qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là 1 thuộc tính từ tất cả các dạng vậtchất nhưng phản ánh dưới nhiều hình thức như phản ánh sinh học, phản ánh tâm lý,phản ánh vật lý hóa học, phản ánh năng động sáng tạo Trong đó, hình thức này sẽtương ứng quá trình tiến hóa vật chất tự nhiên
Phản ánh về hóa học vật lý là một hình thức thấp nhất và đặc trưng cho vật chất vôsinh Phản ánh đó được thể hiện qua biến đổi về lý, hóa, cơ khi có sự tác động lẫnnhau bởi các dạng vật chất vô sinh Hình thức được phản ánh chưa định hướng lựachọn mà chỉ mang tính thụ động của vật nhận tác động
Trang 23Phản ánh tâm lý: là sự phản ánh cho động vật đặc trưng đã được phát triển đếntrình độ mà có hệ thần kinh trung ương, phản ánh này thể hiện dưới cơ chế phản xạ
có điều kiện lên những tác động môi trường sống
Phản ánh ý thức là hình thức để phản ánh năng động và sáng tạo bởi con ngườiPhản ánh sinh học: là hình thức được phản ánh cao hơn và đặc trưng giới tự nhiênhữu sinh Qúa trình phát triển giới tự nhiên hữu sinh, được thể hiện qua tính kíchthích, phản xạ và tính cảm ứng
- Nguồn gốc xã hội của ý thức
Lao động và ngôn ngữ chính là nhân tố cơ bản nhất, trực tiếp tạo thành nguồn gốc
xã hội của ý thức
+ Lao động là một quá trình con người sử dụng về công cụ tác động với giới tựnhiên để thay đổi giới tự nhiên phù hợp nhu cầu con người Trong quá trình laođộng thì con người có sự tác động tới thế giới khách quan để bộc lộ những kết cấu,thuộc tính, quy luật vận động, theo đó biểu hiện ra những hiện tượng nhất định đểcon người quan sát được
Những hiện tượng mà con người quan sát được đó, được thể hiện thông qua hoạtđộng của các giác quan, có sự tác động vào bộ óc con người Và thông qua bằng bộnão con người sẽ tạo ra khả năng để hình thành những tri thức và ý thức
Tóm lại, ý thức được ra đời chủ yếu bởi hoạt động cải tạo thế giới khách quanquan quá trình lao động
+ Ngôn ngữ chính là cái vỏ của vật chất từ ý thức, hình thức vật chất nhân tạo cóvai trò trong thể hiện, lưu trữ nội dung ý thức
Trang 24Sự ra đời ngôn ngữ được gắn liền với lao động, theo đó lao động đã mang tính tậpthể ngay từ đầu Mối quan hệ các thành viên đòi hỏi có sự giao tiếp, ý chí, trao đổitri thức,… giữa các thành viên của cộng đồng con người.
Khi đòi hỏi các nhu cầu trên thì ngôn ngữ được khởi nguồn và phát triển tồn tạitrong lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội Nhờ ngôn ngữ từ đó con người được giaotiếp và trao đổi, đồng thời truyền đạt nội dung, lưu trữ nội dung ý thức của thế hệnày sang thế hệ khác
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người; làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng hoạtđộng tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thôngtin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin
đã có nó có thể tạo ranhững thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận Tính chất năng động,sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện
ở quá trình con người tạo ra những giảtưởng, giả thuyết, huyền thoại, trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản chất, quiluật khách quan, xây dựng các
mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là:
làthựctạiduynhấttừđócườngđiệutínhnăngđộngcủa ý thứcđếnmứccoi ý thứcsinh ravậtchấtchứkhôngphảilàsựphảnánhcủavậtchất
Cònđốivớichủnghĩaduyvậtbiệnchứngthìquanniệmýthứclàsựphảnánhthếgiớikháchquanvàobộnão con ngườikhông qua thựctiễn
Vậy tạisaonói ý thứclàhìnhảnhchủquancủathếgiớikháchquan?
Trang 25– Ý thứclàhìnhảnhchủquancủathếgiớikháchquan, điềunàycónghĩalànội dungcủaýthứclà do thếgiớikháchquanquyđịnh, nhưngýthứclàhìnhảnhchủquan,làhìnhảnhtinhthầnchứkhôngphảilàhìnhảnhvậtlý,
vậtchấtnhưchủnghĩaduyvậtquanniệm
thứclàhìnhảnhchủquancủathếgiớikháchquancũngcónghĩalàýthứcphảnánhsựtựgiác,sángtaothếgiới
Phảnánhýthứclàsángtạovìđiềunày bao giờcũng do nhucầuthựctiễnquyđịnh,nhucầuđóđòihỏichủthểphảnánh phảihiểucáiđượcphảnánh
Câu 9: Phântíchluậnđiểm: “ Ý thứclàhìnhảnhchủquancủathếgiớikháchquan”
*Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độclập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ýthứcsinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất Còn các nhà triết học duyvật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sự phản ánh sự vật đó Tuynhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm siêu hình - máy móc nên họ đã coi
ý thức là sự phảnánh sự vật một cách thụ động, giản đơn, máy móc, mà không thấy
Trang 26được tính năng độngsáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh.Khác với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý
luậnphản ánh: về bản chất, coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óccon người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan.
Để hiểu bản chất của ý thức:
- Thứnhất, chúng ta thừa nhận cả vật chất và ý thứcnhưng giữa chúng có sự khác
nhau mang tính đối lập ý thức là sự phản ánh, là cái phảnánh; còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh - tức là vật chất - tồn tạikhách quan, ở ngoài và độc lập với cái phản ánh tức là ý thức Cái phản ánh - tức ý thức- là hiện thực chủ
quan, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,lấy cái kháchquan làm tiền đề,
bị cái khách quan quy định, nó không có tính vật chất Vì vậy khôngthể đồng nhất, hoặc tách rời cái được phản ánh - tức vật chất, với cái phản ánh - tức ýthức Nếu coi cái phản ánh - tức ý thức - là hiện tượng vật chất thì sẽ lẫn lộn giữa cáiđược phản ánh và cái phản ánh - tức lẫn lộn giữa vật chất và ý thức, làm mất ý nghĩacủa đối lập giữa vật chất và ý thức, từ đó dẫn đến làm mất đi sự đối lập giữa chủ
nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm
- Thứ hai, khi nói cái phản ánh - tức ý thức - là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan, thì đó không phải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về
sự vật.ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo ý thứcra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên
ý thức con ngườimang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội Theo C.Mác,ý thức "chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào
trong đầu óc con người và đượccải biến đi trong đó"
- Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở những cái đã
cótrước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái
Trang 27khôngcó trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, nhữnghuyền thoại, những giả thuyết lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng
và khái quát cao.Những khả năng ấy càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lý -ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bảnchất của những hiện tượng ấy
- Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên
quátrình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động sáng tạothống nhất ba mặt sau:
+ Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này
mang tính chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết
+ Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực
chất, đây là quá trình "sáng tạo lại" hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hóa các đốitượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất
+ Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình hiện thực
hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biếncác ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực Trong giaiđoạn này, con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, côngcụ
để tác động vàohiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình
- Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật của sự phảnánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sáng tạo và phản ánh làhaimặt thuộc bản chất ý thức ý thức là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của conngười tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc
- Ý thức là một hiện tượng xã hội Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt độngthực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh học mà chủ yếu là của quy luật xãhội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực củacon người quyđịnh Ý thức mang bản chất xã hội
Trang 28Câu 10 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa củavấn đề này trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
10.1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
a Khái niệm
- Vật chất: Là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại lhách quan được đem lại cho con ngườitrong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, pháp ánh,
và tồn tại không lệthuộc vàp cảm giác
- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giơi khách quan của bộ óc con người; là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan
b Mối quan hệ biện chứng giũa vật chất và ý thức
Triết học Mác – Lênin khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vậtchấtquyết định ý thức và ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người
*Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chấtlànguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất
- Vật chất là tiền đề, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức
- Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó
- Vật chất biến đổi thì ý thức biến đổi theo
Trang 29- Vật chất là điều kiện để biến ý thức thành hiện thực
* Vai trò của ý thức đối với vật chất
- Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt độngthực tiễn của con người Nhờ có ý thức con người nhận thức đựơc quy luật vận động, phát triển
của thế giới khách quan
- Ý thức tác động lại vật chất theo hai chiều hướng:
năng động, chủ quan của mình
- Ý có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng
Trang 30đắn, sâu sắc thế giới khách quan Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt
động sai và thất bại khi con ngưọi phản ánh sai thế giới khách quan
=> Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phụ bệnh bảo thủ
trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động ỷ lại hoặc bênh chủ quan duy ý chí
- Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng
quy luật khách quan
* Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:
- Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác
- Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác,
Câu 11 Trình bày nội dung “Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến” và ý
nghĩaphương pháp luận của nguyên lý này Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
11.1 Nội dung “Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến”
a Khái niệm về mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác độngvàchuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật,hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng
để chỉ các mối liên hệ tồntại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là nhữngmối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện
Trang 31tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu củaphép biện chứng, đó là các mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủđịnh, cái chung
và cái riêng Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tạinhững mối liên hệ đặc thù vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định,nhưng đồng thời cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó, những mối liên hệ đặcthù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộ nhữngmối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tínhđa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy
b Tính chất của các mối liên hệ
- Tính khách quan của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng duy vật: các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng củathế giới làcó tính khách quan Theo quan điểm đó, sự qui định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyểnhóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong chính bản thân chúng) là cái vốn có củanó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức vàvận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tạituyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bấtcứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấuthành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệthống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làmbiến đổi lẫn nhau
Trang 32- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ.
Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tínhphổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạngcủa các mối liên hệ.Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hayquá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhauđối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vậtnhưng trong những điều kiện
cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trìnhvận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Như vậy,không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối
vớinhững sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là mối liên hệ bên trong và bênngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, liên hệ chủ yếu và thứ yếu Quan điểm về tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm vềsự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên
hệ đặc thù trongmỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điềukiện không gian và thờigian cụ thể
11.2 Ý nghĩa phương pháp luận
- Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức vàthực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện.Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần xemxét sự vật trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặtcủa chính
sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sởđó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêuhình trong nhận thức vàthực tiễn
Trang 33Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiêncứutất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ “và quan hệ giao tiếp” của sự vật đó”
- Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thứcvà thực tiễn khi đã thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quanđiểm lịch sử - cụ thể.Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống tronghoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tìnhhuống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn; phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau củamỗi mối liên hệ cụ thể trong những điều kiện cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúngđắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễnkhông những cần phải tránh và lhắc phục quan điểm phiến diện siêu hình mà còn phải tránh vàkhắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
12.1 Nội dung “Nguyên lý về sự phát triển”
a Khái niệm phát triển
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng
giảmthuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nó cũng xem sự pháttriển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước
Trang 34quanh co phức tạp.Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng đểchỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm vận động nói chung;đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuầnhoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ
mà là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật.Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có củasự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhântố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnhvực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả moi sự vật, hiện tượng vàtrong mọi quá trình, mọigiai đoạn của sự vật, hiện tượng đó; trong mỗi quá trình biến đổi đã bao hàm khả năng dẫn đếnsự ra đời của cái mới, phù hợp với qui luật khách quan
- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướngchung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lạicó quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Tồn tại ở những không gian và thời giankhác nhau sự vật sẽ phát triển khác nhau Đồng