1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn môn học KINH tế CHÍNH TRỊ mác LÊNIN đề tài hội NHẬP KINH tế QUỐC tế của VIỆT NAM HIỆN NAY

35 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Tác giả Trương Huy Thịnh, Nguyễn Hải Đăng, Phạm Khánh Long, Nguyễn Thiện Phú, Trần Duy Khoa
Người hướng dẫn ThS. Đỗ Đình Nghĩa
Trường học Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 307,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT NAM (7)
    • 1.1 Lý luận về hội nhập kinh tế (7)
      • 1.1.1 Lịch sử hội nhập kinh tế (7)
      • 1.1.2 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế (9)
      • 1.1.3 Tham gia Các hiệp định hội nhập kinh tế (9)
  • Chương II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TÔM NƯỚC LỢ VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC (22)
    • 2.1 Thực trạng và nguyên nhân của xuất nhập khẩu tôm tại Trung Quốc (22)
      • 2.1.1 Thực trạng (22)
      • 2.1.2 Nguyên nhân (23)
    • 2.2 Thách thức và thời cơ của tôm xuất khẩu hậu Covid-19 (2020-2021) (25)
      • 2.2.1 Thách thức (25)
      • 2.2.2 Thời cơ (0)
    • 2.3 Những định hướng và kiến nghị phát triển về việc nuôi tôm nước lợ (30)
  • KẾT LUẬN (32)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)

Nội dung

Giai đoạn thứ hai là từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, chủ trương hộinhập kinh tế quốc tế đã được Đảng CSVN chỉ rõ: "đẩy nhanh quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế", “xây dựng một nền kin

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT NAM

Lý luận về hội nhập kinh tế

1.1.1 Lịch sử hội nhập kinh tế:

Lịch sử phát triển của Việt Nam cho thấy tư tưởng mở cửa giao thương đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước, với các nhà canh tân như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ nhận thức rõ tầm quan trọng của việc mở cửa nền kinh tế và thúc đẩy giao lưu buôn bán quốc tế.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, tư tưởng mở cửa về kinh tế và hội nhập quốc tế đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong lời kêu gọi Liên hợp quốc vào tháng 12 năm 1946 Những điểm trong tuyên bố này vẫn còn phù hợp và có ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay, nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế để thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà tư bản và kỹ thuật nước ngoài đầu tư vào mọi ngành công nghiệp Chính sách mở cửa đầu tư của đất nước đã thu hút nhiều nguồn vốn quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững Nhờ môi trường đầu tư thân thiện và thuận lợi, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kỹ nghệ đa dạng.

- Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

- Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Sau khi giành độc lập và thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam bắt đầu thực hiện bước đầu tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc tham gia liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) do Liên Xô đứng đầu từ năm 1978 Tuy nhiên, quá trình này đã bị gián đoạn do hoàn cảnh lịch sử phức tạp.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam bắt đầu tăng tốc sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Đây là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự mở cửa và đổi mới, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Chính sách đổi mới đất nước đã tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.

Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế đã trải qua quá trình cụ thể hóa và hoàn thiện Quá trình này bao gồm ba giai đoạn chính, phản ánh sự phát triển và điều chỉnh chiến lược phù hợp với bối cảnh toàn cầu Những bước tiến này giúp Việt Nam ngày càng mở rộng hội nhập, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao vị thế trên trường quốc tế Việc xác định rõ các giai đoạn này góp phần làm rõ quá trình xây dựng chính sách đối ngoại của đất nước trong giai đoạn đổi mới.

Giai đoạn thứ nhất từ Đại hội Đảng VI (1986) đến đầu Đại hội Đảng VII

Năm 1991, Việt Nam chưa chính thức nói về hội nhập kinh tế quốc tế mà tập trung vào thúc đẩy "mở cửa nền kinh tế" và "đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại" Tư tưởng này đã đặt nền móng vững chắc cho quá trình phát triển hội nhập quốc tế của đất nước trong các giai đoạn tiếp theo.

Trong giai đoạn từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập để xây dựng một nền kinh tế mới, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới Việt Nam sẵn sàng trở thành bạn và đối tác tin cậy của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế, hướng tới mục tiêu vì hòa bình, độc lập và phát triển bền vững.

Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ trương "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế," đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước Trong giai đoạn này, Việt Nam tập trung phát triển hội nhập toàn diện, với kinh tế quốc tế vẫn là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu Nghị quyết số 22-NQ/TW đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững của Việt Nam.

Ngày 10 tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị ĐCSVN nhấn mạnh rằng hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Các lĩnh vực khác khi hội nhập cần tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ phát triển kinh tế đất nước Hội nhập trong các lĩnh vực khác phải góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên thị trường toàn cầu.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII năm 2015, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quyết tâm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hội nhập để nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng ảnh hưởng toàn cầu Các chiến lược hội nhập được xác định là then chốt trong việc hướng tới mục tiêu quốc gia và củng cố vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW nhằm thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Nghị quyết nhấn mạnh mục tiêu tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, tri thức, và kinh nghiệm quản lý để đạt được phát triển nhanh và bền vững Đồng thời, nghị quyết hướng tới nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

1.1.2 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế:

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở cửa nền kinh tế của quốc gia, kết nối chặt chẽ với kinh tế khu vực và toàn cầu để thúc đẩy phát triển bền vững Đây là một quy luật tất yếu và khách quan trong sự phát triển của mọi quốc gia, nhằm tăng cường hợp tác và trao đổi thương mại quốc tế Quá trình hội nhập liên quan đến việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, qua đó các quốc gia thành viên tuân thủ các quy định chung để thúc đẩy sự phát triển chung của cộng đồng kinh tế quốc tế.

1.1.3 Tham gia các hiệp định hội nhập kinh tế:

● Hội nhập khuôn khổ WTO (11/01/2007):

Năm 2013, Việt Nam hoàn thành Phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu tiên trong WTO, nhận được sự hoan nghênh và đánh giá cao từ cộng đồng quốc tế về nỗ lực cải cách và thực thi các cam kết phù hợp với quy định của WTO Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Phiên rà soát chính sách thương mại lần thứ hai tại WTO vào tháng 9 năm 2020, thể hiện cam kết duy trì quá trình cải tiến và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Với tư cách thành viên WTO, Việt Nam tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán về nông nghiệp, công nghiệp và sở hữu trí tuệ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đất nước Việt Nam đã thể hiện vai trò là thành viên chủ động trong các diễn đàn của WTO để thúc đẩy các chính sách thương mại công bằng và mở cửa thị trường Nhờ sự tham gia tích cực này, Việt Nam đã góp phần nâng cao vị thế trong cộng đồng thương mại quốc tế, đồng thời bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước các thách thức toàn cầu.

THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TÔM NƯỚC LỢ VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Thực trạng và nguyên nhân của xuất nhập khẩu tôm tại Trung Quốc

Theo số liệu của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Agrotrade Việt Nam), Việt Nam hiện có trên 300 cơ sở chế biến tôm với công suất trên 1,4 triệu tấn mỗi năm, chủ yếu tập trung ở miền Trung, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Các cơ sở chế biến đều đáp ứng tốt các điều kiện xuất khẩu, đảm bảo chất lượng sản phẩm Sản phẩm chế biến tôm đa dạng, trong đó khoảng 90% là các sản phẩm đông lạnh ở nhiều dạng khác nhau, còn lại 10% tập trung vào các sản phẩm khô và tươi sống.

Các cơ sở chế biến thủy hải sản hiện nay đang tập trung khai thác phụ phẩm từ nguyên liệu đầu, vỏ tôm để chế biến thức ăn chăn nuôi cùng các sản phẩm có giá trị như chitin, chitosan, glucosamine và astaxanthin Tuy nhiên, do hạn chế về công nghệ xử lý, phần lớn thành phẩm là dạng đông lạnh hoặc có hàm lượng chế biến thấp, dẫn đến lượng phụ phẩm thải ra vẫn còn cao, chiếm khoảng 35-60% sản phẩm đầu ra, tương đương hơn 2 triệu tấn phụ phẩm thủy hải sản mỗi năm, trong đó có khoảng 250 tấn phụ phẩm tôm Theo đánh giá của VNF, trong quá trình chế biến tôm, chỉ khoảng 55-65% trọng lượng tôm được sử dụng để sản xuất, còn lại 35-45% là phụ phẩm bị bỏ đi Điều này là lãng phí nguồn dinh dưỡng quý giá trong phụ phẩm tôm, vốn có thể được chiết xuất và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực để tạo ra giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần.

Dù ngành thủy sản có giá trị gia tăng cao, chế biến phụ phẩm thủy sản vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, gây trở ngại trong chuỗi giá trị thủy sản Nguyên nhân chính là vì ngành này đòi hỏi công nghệ hiện đại và nghiên cứu phát triển sản phẩm, nhưng hiện nay công nghệ của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn học hỏi từ các quốc gia khác Chỉ có một, hai doanh nghiệp Việt Nam đủ khả năng sản xuất các sản phẩm có giá trị cao như chitin, chitosan, protein thủy phân, phục vụ trong lĩnh vực thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học, y tế và nông nghiệp.

Để khai thác tối đa giá trị của phụ phẩm thủy sản, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại và đào tạo người lao động có tay nghề cao Ông Lộc nhấn mạnh rằng việc đầu tư đồng bộ này sẽ giúp nâng cao hiệu quả, giảm lãng phí và thúc đẩy phát triển bền vững ngành thủy sản Việc áp dụng công nghệ tiên tiến không chỉ tối ưu hóa quy trình sản xuất mà còn góp phần nâng cao giá trị gia tăng của phụ phẩm thủy sản trên thị trường.

Tổng cục Trưởng Tổng cục Thủy sản, ông Trần Đình Luân, nhận định rằng chi phí giá thành sản xuất thủy sản chiếm khoảng 50-70%, trung bình là 60% Đây là yếu tố nhạy cảm khi giá cả biến động, làm tăng chi phí sản xuất, rủi ro và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam Chi phí sản xuất thủy sản của Việt Nam luôn được đánh giá cao hơn so với các nước trong khu vực, gây khó khăn trong cạnh tranh thị trường quốc tế.

Theo ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, ngành tôm Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức từ nội tại trong nước cũng như thị trường xuất khẩu Các vấn đề chính bao gồm chi phí sản xuất cao, chất lượng tôm giống chưa đạt chuẩn, nguy cơ dịch bệnh và nguồn nguyên liệu còn thiếu để đáp ứng nhu cầu chế biến Ngoài ra, cạnh tranh từ các quốc gia như Ấn Độ, Ecuador và Thái Lan đã tiến gần về công nghệ nuôi trồng, đồng thời có chi phí sản xuất thấp hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp và cơ quan quản lý của Việt Nam cần nhanh chóng nâng cao năng lực để giữ vững thị trường xuất khẩu tôm quốc tế.

Việc giá nguyên liệu dùng trong sản xuất thức ăn thủy sản và chăn nuôi tăng cao liên tục trong thời gian dài đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất ngành tôm Việt Nam Sự tăng giá nguyên liệu đã đè nặng thêm gánh nặng về chi phí sản xuất, gây áp lực lớn cho các doanh nghiệp trong ngành Điều này đặt ra thách thức đáng kể cho sự phát triển bền vững của ngành tôm Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường quốc tế.

Thách thức và thời cơ của tôm xuất khẩu hậu Covid-19 (2020-2021)

Trong 3 tháng đầu năm 2021, hoạt động xuất khẩu thủy sản đã ghi nhận những kết quả khả quan, góp phần thúc đẩy ngành hàng này phát triển Tuy nhiên, sự thay đổi về các quy định về chứng nhận an toàn thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu đã gây khó khăn cho doanh nghiệp Các cảnh báo liên quan đến việc trả hàng do vi phạm an toàn thực phẩm cho thấy còn nhiều thách thức cần vượt qua để đạt mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2021 khoảng 8,8 tỷ USD.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản trong hai tháng đầu năm 2021 đạt 1,01 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7% so với cùng kỳ năm 2020, cho thấy dù có sự tăng trưởng, ngành vẫn đối mặt với nhiều thách thức VASEP dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 3 sẽ đạt khoảng 640 triệu USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi nhẹ của ngành Tuy nhiên, từ nay đến cuối năm, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn do sự thay đổi quy định kiểm dịch đối với sản phẩm nhập khẩu tại nhiều quốc gia, cùng với các cảnh báo về vi phạm quy định an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng đáng kể đến uy tín và khả năng xuất khẩu của ngành.

Tại hội nghị về phòng, chống dịch bệnh thủy sản năm 2021, ông Ngô Hồng Phong cho biết mặc dù các địa phương đã nâng cao chất lượng nhiều mặt hàng, vẫn còn một số lô hàng vi phạm quy định an toàn thực phẩm và bị trả về Trong 3 tháng đầu năm 2021, có 6/14 lô hàng bị trả về từ thị trường Trung Quốc, so với 15/40 lô hàng năm 2020 Trung Quốc đã kiểm tra và phát hiện một số lô tôm đông lạnh của Việt Nam đã xử lý nhiệt, nhưng vẫn dương tính với bệnh hoại tử dưới vỏ, cơ quan tạo máu (IHHNV) và virus đốm trắng (WSSV).

Các thị trường nhập khẩu chính của thủy sản Việt Nam đang áp dụng những quy định mới về chứng nhận an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu Tại Hàn Quốc, sản phẩm tôm cần đáp ứng quy định về xử lý nhiệt (tôm chín) mới được miễn kiểm dịch, tuy nhiên, thời gian xử lý kéo dài ảnh hưởng đến màu sắc và mùi vị của sản phẩm Trong khi đó, thị trường Brazil có các quy định về chế độ xử lý nhiệt nghiêm ngặt hơn so với hướng dẫn của Tổ chức Thú y thế giới, đòi hỏi các nhà xuất khẩu Việt Nam cần thích nghi để đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

Các vấn đề nêu trên đang tạo ra những thách thức lớn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tương lai gần Theo ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, việc nâng cao chất lượng sản phẩm là cốt lõi để phát triển bền vững Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, mở ra những cơ hội mới từ các thị trường quốc tế.

“Đòn bẩy” cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam là việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm để mở rộng thị trường Dự báo năm 2021, xuất khẩu thủy sản Việt Nam có thể đạt tới 8,8 tỷ USD, tăng gần 5% so với năm 2020, góp phần thúc đẩy tăng trưởng trong ngành Tuy nhiên, để chinh phục các thị trường quốc tế một cách bền vững, các doanh nghiệp cần tạo ra sự khác biệt rõ nét về cả chất lượng sản phẩm lẫn hình thức bên ngoài Việc cải thiện chất lượng và hình thức giúp các sản phẩm thủy sản Việt Nam nổi bật và cạnh tranh hơn trên thị trường toàn cầu.

Theo Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản Nguyễn Quốc Toản, các doanh nghiệp cần tập trung đẩy mạnh xuất khẩu tôm đông lạnh sang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và châu Âu để mở rộng thị phần Đối với những thị trường có quy định mới về kiểm dịch, doanh nghiệp cần chủ động cập nhật và tuân thủ các yêu cầu, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm để giảm thiểu rủi ro thương mại Việc nâng cao chất lượng sản phẩm không chỉ giúp doanh nghiệp thích nghi với các quy định mới mà còn thúc đẩy xuất khẩu bền vững, ổn định hơn trong tương lai.

Các doanh nghiệp thủy sản cần xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc toàn diện từ nguyên liệu đến chế biến để đảm bảo an toàn và nâng cao giá trị sản phẩm Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến nhấn mạnh việc mở rộng thị trường, hợp tác với các cơ quan thú y của Trung Quốc, Hàn Quốc nhằm tháo gỡ rào cản xuất khẩu thủy sản Việt Nam Để đạt mục tiêu xuất khẩu 8,8 tỷ USD năm 2021, các địa phương và doanh nghiệp cần xây dựng vùng sản xuất thủy sản an toàn dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu giám sát an toàn thực phẩm của thị trường quốc tế Đồng thời, việc xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc là chiến lược nâng cao giá trị gia tăng và hạn chế hàng bị trả về.

2.2.2 Cơ hội thời cơ: a) Xuất khẩu tôm của Việt Nam tới thị trường Trung Quốc tận dụng hiệu quả Hiệp định thương mại tự do xuyên biên giới Việt Nam-Trung Quốc:

Trong những tháng đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Trung

Quốc ghi nhận tín hiệu tích cực nhờ các doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cam kết thuế quan trong Hiệp định.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Trung Quốc trong quý II/2021 đạt 18,62 nghìn tấn, trị giá 159,45 triệu USD, tăng lần lượt 68,9% về lượng và 65,8% về trị giá so với quý I/2021 So với cùng kỳ năm 2020, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc tăng 43,6% về lượng và 42% về trị giá, cho thấy sự phục hồi và tăng trưởng bền vững của ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường Trung Quốc.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đạt 29,6 nghìn tấn, trị giá 255,7 triệu USD, tăng lần lượt 25,2% về khối lượng và 27,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020, cho thấy sự tăng trưởng tích cực của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, giá xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Trung Quốc trong nửa đầu năm 2021 đạt trung bình 8,63 USD/kg, tăng 0,16 USD/kg so với cùng kỳ năm 2020 Nguyên nhân chính là do lượng tôm xuất khẩu đáp ứng các yêu cầu về giảm thuế theo chính sách mới của Trung Quốc, cùng với sự tăng trưởng trong những tháng gần đây Điều này cho thấy tín hiệu tốt cho khả năng cạnh tranh về giá của các sản phẩm tôm Việt Nam trên thị trường Trung Quốc trong thời gian tới.

Trong nửa đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang các thị trường lớn như Trung Quốc ghi nhận sự tăng trưởng mạnh, nhờ vào việc kiểm soát dịch Covid-19 tốt giúp hoạt động nuôi trồng và chế biến ổn định, cùng với lợi thế cạnh tranh nhờ hưởng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại, và nhu cầu tiêu dùng nhập khẩu tôm tại Trung Quốc tăng trở lại Cụ thể, trong quý II/2021, xuất khẩu tôm tới Quảng Châu, Bắc Kinh, Vân Nam và Thâm Quyến đều tăng trưởng gấp ba lần so với cùng kỳ năm trước, chứng tỏ tiềm năng mở rộng thị trường và sức hút của ngành tôm Việt Nam tại Trung Quốc.

Trong năm 2020, các chính sách mới chưa có hiệu lực, ảnh hưởng đến hoạt động ngành Đồng thời, các đối thủ cạnh tranh chính gặp nhiều khó khăn do cung cầu ổn định, thời tiết thuận lợi, giúp mùa vụ đến sớm hơn dự kiến.

Các nước châu Á và các quốc gia cạnh tranh như Ấn Độ, Thái Lan vẫn đang phải đối mặt với dịch COVID-19 nghiêm trọng, mở ra cơ hội cho Việt Nam thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu thị phần Thị trường Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng cho thủy sản Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng như tôm, cá tra và hải sản Trong đó, ngành tôm Việt Nam có cơ hội lớn hơn tại Mỹ khi Ấn Độ – nguồn cung lớn nhất cho thị trường này – gặp khó khăn do dịch COVID-19 Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta, nhận định rằng tình hình dịch bệnh hiện tại tạo điều kiện thuận lợi cho ngành tôm Việt Nam, đặc biệt khi Ấn Độ đang trong giai đoạn khủng hoảng do nhiễm COVID-19 Thời vụ nuôi tôm sớm và thời tiết thuận lợi của Việt Nam năm nay dự báo sẽ giúp nguồn nguyên liệu tăng trưởng tốt hơn so với năm 2020, góp phần thúc đẩy ngành tôm phát triển mạnh mẽ hơn.

Những định hướng và kiến nghị phát triển về việc nuôi tôm nước lợ

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong xuất khẩu tôm, việc nâng cao cả về số lượng và chất lượng sản phẩm là yếu tố cực kỳ quan trọng Trong những năm tới, việc áp dụng các mô hình nuôi tôm tiên tiến, bền vững sẽ giúp tăng năng suất và đảm bảo chất lượng tôm đạt tiêu chuẩn quốc tế Bài luận này đề xuất các hướng đi phù hợp để phát triển mô hình nuôi tôm hiệu quả, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy ngành thủy sản trong giai đoạn mới.

2.3.1 Định hướng về nuôi tôm nước lợ

Khu vực ĐBSCL còn có tiềm năng lớn để phát triển nuôi tôm nước lợ, nhưng chưa có quy hoạch rõ ràng, chính sách hỗ trợ phù hợp, cũng như giải pháp khoa học và công nghệ, khuyến ngư, hợp tác quốc tế cùng xúc tiến thương mại Chất lượng nguồn nước phục vụ nuôi tôm nước lợ ven biển ĐBSCL đang bị ô nhiễm hữu cơ và các chất độc hại tại các cống điều tiết nước mặn, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất Để thúc đẩy lĩnh vực này, cần xây dựng vùng sản xuất tôm giống chất lượng cao với quy mô lớn nhằm cung cấp cho các vùng nuôi tôm, đặc biệt là thị trường TTCT Đồng thời, việc bán tôm giống trực tiếp từ các công ty cho người nuôi giúp đảm bảo nguồn gốc rõ ràng, giá cả hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả và bền vững trong ngành nuôi tôm nước lợ tại ĐBSCL.

Trong quy hoạch nuôi tôm nước lợ tại ĐBSCL, các tỉnh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thủy lợi, nhằm nâng cao năng lực cấp - thoát nước và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả Hiện tại, hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ, gây khó khăn cho sản xuất và làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh tôm qua hệ thống kênh rạch không đáp ứng đủ nhu cầu Nhiều hộ nuôi thiếu các hệ thống xử lý nước thải, ao lắng và khu vực xử lý bùn đáy ao, khiến việc xử lý tôm bệnh không triệt để và dễ làm ô nhiễm môi trường Các bệnh phổ biến trên tôm nước lợ gồm hoại tử gan tụy, đốm trắng và đường ruột, trong đó, bệnh gan tụy và đốm trắng gây thiệt hại lớn nhất Vì vậy, việc lựa chọn tôm giống chất lượng là yếu tố quyết định thành công trong nuôi trồng thủy sản tại khu vực ĐBSCL.

Con tôm là đối tượng nuôi chủ lực trong ngành thủy sản ở các tỉnh ven biển, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương Để tận dụng tối đa tiềm năng, cần triển khai các giải pháp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống con tôm, giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh và thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới trong nuôi trồng Việc đầu tư vào hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu là các bước then chốt để phát huy thế mạnh của ngành nuôi tôm.

Nhu cầu về tôm giống ngày càng tăng dẫn đến sự hình thành nhiều doanh nghiệp sản xuất giống Cần xây dựng quy hoạch tổng thể để phát triển ngành tôm, bao gồm quy hoạch vùng nuôi tôm sú, nuôi tôm TTCT và nhà máy chế biến gắn liền với các khu vực nuôi tôm Đặc biệt, việc quy hoạch khu sản xuất tôm giống chất lượng cao là yếu tố then chốt để đảm bảo nguồn cung ổn định và nâng cao giá trị sản phẩm trong ngành thủy sản Việt Nam.

Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, cần tập trung nâng cao chất lượng giống, đặc biệt là chương trình chọn tạo giống dựa trên đặc điểm tăng trưởng và khả năng kháng bệnh phù hợp với hình thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, cũng như đảm bảo tăng trưởng và sạch bệnh cho hình thức nuôi thâm canh hoặc bán thâm canh Đồng thời, việc phát triển các công nghệ và giải pháp kỹ thuật nuôi hiệu quả, thân thiện môi trường như BIoflocs, nuôi hai giai đoạn, đa chủng, đào ao, ương vèo, nuôi trong nhà bạt và sử dụng chế phẩm vi sinh học là rất cần thiết để nâng cao năng suất và bền vững trong ngành nuôi trồng.

Để phát triển thị trường bền vững, cần xây dựng thương hiệu mạnh cho các dòng sản phẩm chính và tập trung vào phát triển các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao Áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận uy tín cùng các chương trình quảng bá sản phẩm hiệu quả sẽ nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đồng thời, thực hiện quản lý hiệu quả chuỗi giá trị thị trường từ cung ứng, sản xuất, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến, thương mại đến tiêu thụ chính là yếu tố then chốt, lấy doanh nghiệp làm trung tâm động lực để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Ngày đăng: 13/12/2022, 07:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] "Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới". Trang Thông Tin Điện Tử - Hội Đồng Lý Luận TW, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới
Nhà XB: Trang Thông Tin Điện Tử - Hội Đồng Lý Luận TW
Năm: 2021
[4] "Những Dấu Ấn Quan Trọng Về Kinh Tế - Xã Hội Trong Hành Trình 75 Năm Thành Lập Và Phát Triển Đất Nước Qua Số Liệu Thống Kê". General Statistics Office Of Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Dấu Ấn Quan Trọng Về Kinh Tế - Xã Hội Trong Hành Trình 75 Năm Thành Lập Và Phát Triển Đất Nước Qua Số Liệu Thống Kê
Tác giả: General Statistics Office Of Vietnam
Nhà XB: General Statistics Office Of Vietnam
[5] "Xuất Khẩu Tôm: Thực Trạng Và Giải Pháp – Aquaculture". Aquaculture.Vn, 2021, truy cập từ ://aquaculture.vn/thi-truong-gia-ca/xuat-khau-tom-thuc-trang-va-giai-phap Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất Khẩu Tôm: Thực Trạng Và Giải Pháp
Nhà XB: Aquaculture.Vn
Năm: 2021
[6] "Phụ Phẩm Tôm – Điểm Nghẽn Trong Chuỗi Giá Trị Thủy Sản - Tạp Chí Người Nuôi Tôm". Tạp Chí Người Nuôi Tôm, 2021, truy cập từ://nguoinuoitom.vn/phu-pham-tom-diem-nghen-trong-chuoi-gia-tri-thuy-san/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ Phẩm Tôm – Điểm Nghẽn Trong Chuỗi Giá Trị Thủy Sản
Nhà XB: Tạp Chí Người Nuôi Tôm
Năm: 2021
[7] "Thách Thức Của Ngành Thủy Sản". Https://Nld.Com.Vn, 2021, truy cập từ ://nld.com.vn/thoi-su/thach-thuc-cua-nganh-thuy-san-20210831205752724.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách Thức Của Ngành Thủy Sản
Nhà XB: Nld.com.vn
Năm: 2021
[8] . "Nhận Diện Thách Thức Để Phát Triển Thương Hiệu Tôm Việt Nam". VASEP, 2021, truy cậptừ://vasep.com.vn/san-pham-xuat-khau/tom/nguyen-lieu/nhan-dien-thach-thuc-de-phat-trien-thuong-hieu-tom-viet-nam-21616.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận Diện Thách Thức Để Phát Triển Thương Hiệu Tôm Việt Nam
Nhà XB: VASEP
Năm: 2021
[9] "Hiện Trạng Và Định Hướng Phát Triển Nuôi Tôm Nước Lợ – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam". Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam, 2021, truy cậptừ://thuysanvietnam.com.vn/hien-trang-va-dinh-huong-phat-trien-nuoi-tom-nuoc-lo/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện Trạng Và Định Hướng Phát Triển Nuôi Tôm Nước Lợ
Nhà XB: Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam
Năm: 2021
[10] "Quy Hoạch Nuôi Tôm Nước Lợ ĐBSCL: Định Hướng Phát Triển Nghề Nuôi Tôm Bền Vững". Vinanet.Vn, 2021, truy cậptừ://vinanet.vn/nguyen-lieu/quy-hoach-nuoi-tom-nuoc-lo-dbscl-dinh-huong-phat-trien-nghe-nuoi-tom-ben-vung-550077.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy Hoạch Nuôi Tôm Nước Lợ ĐBSCL: Định Hướng Phát Triển Nghề Nuôi Tôm Bền Vững
Nhà XB: Vinanet.vn
Năm: 2021

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w