Nhận thấy ảnh hưởng không tốt của chúng đến kết quả học tập của các sinh viên này, người viết đã tiến hành một nghiên cứu nhỏ nhằm xác định một số vấn đề thường thấy trong quá trình biên
GI Ớ I THI Ệ U
V ấn đề nghiên c ứ u và lí do l ự a ch ọn đề tài
Vào năm 2006, Google ra mắt công cụ dịch thuật tự động Google Translate, nay đã hỗ trợ khoảng 90 ngôn ngữ; cách sử dụng rất đơn giản: người dùng chọn ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, nhập hoặc dán văn bản cần dịch vào ô và nhận bản dịch chỉ trong vài giây Tuy nhiên, công cụ này không thể thay thế biên dịch viên vì bản chất là một hệ thống dịch máy, không thể hiểu toàn diện ý nghĩa của câu, nhất là khi văn bản chứa yếu tố văn hóa hoặc nghĩa đa tầng; từ đó dẫn đến những bản dịch đôi khi gây buồn cười hoặc hiểu nhầm Ví dụ từ “gà ác” vốn chỉ một loại gà có thể bị dịch sang tiếng Anh theo cách thiếu ngữ cảnh, khiến người đọc hiểu sai.
Thuật ngữ "evil chicken" xuất phát từ sự hiểu nhầm nghĩa từ "ác" — ở đây không mang nghĩa ác độc Chỉ những biên dịch viên được đào tạo bài bản về ngôn ngữ và kỹ năng dịch mới có thể nhận ra sự khác biệt này Biên dịch là công việc đòi hỏi tư duy logic về ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ thành thạo, nhuần nhuyễn, vì vậy nghề biên dịch sẽ không bao giờ biến mất và không thể bị thay thế bởi công nghệ.
Trong ngành quan hệ quốc tế, biên dịch đóng vai trò cực kỳ quan trọng, với nhiệm vụ chuyển ngữ các tài liệu liên quan đến đối ngoại Việt Nam và mối quan hệ Việt Nam với các nước Cụ thể là các văn kiện ngoại giao, thư từ giữa các nguyên thủ, và các văn bản về chính sách đối ngoại của Việt Nam và các nước Vì thế người biên dịch mang trong mình trọng trách quốc gia, góp phần xây dựng và củng cố nền ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong 3 học kỳ, từ học kỳ thứ 5 đến hết học kỳ thứ 7, sinh viên Cử nhân tiếng Anh hệ chuẩn của Học viện Ngoại giao được học môn Biên dịch với 3 cấp độ I, II và III, với độkhó tăng dần sau mỗi học kỳ Đây là môn học có ý nghĩa rất lớn, bởi Học viện Ngoại giao gần như là cơ sở duy nhất tại Việt Nam đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về biên, phiên dịch tiếng Anh chuyên ngành QHQT Biên dịch Anh-Việt và Việt-Anh đã trở thành môn học cốt yếu cung cấp cho sinh viên vốn kiến thức chắc chắn về sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong QHQT cũng2 như kỹnăng dịch thuật sao cho phù hợp với từng ngữ cảnh
Trong quá trình học, nhiều sinh viên gặp khó khăn do sự khác biệt ngôn ngữ và văn hóa Anh–Việt, đặc biệt với người mới làm quen môn biên dịch trong quan hệ quốc tế (QHQT) Những vấn đề này thường ảnh hưởng đến kết quả học tập và khả năng nắm bắt kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết, khiến quá trình học gặp trở ngại Nhận thức rõ các khó khăn này và tìm ra giải pháp học tập phù hợp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập, giúp sinh viên trang bị vốn kiến thức và kinh nghiệm biên dịch cần thiết cho sự nghiệp trong lĩnh vực biên phiên dịch QHQT.
1.1.2 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, điểm của môn Biên dịch I, II và III đối với nhiều sinh viên Cử nhân tiếng Anh tại Học viện Ngoại giao không cao, đặc biệt Biên dịch I Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ ở tính chất mới của môn học khiến nhiều sinh viên chưa kịp thích nghi mà còn ở nhiều yếu tố khác Ví dụ, sinh viên có thể chưa tích cực học tập và trau dồi kiến thức nền tảng, hoặc học các môn tiền đề như Việt thực hành và Anh chuyên ngành QHQT không hiệu quả, dẫn đến kiến thức tiếng Việt và tiếng Anh không vững vàng để học tốt Biên dịch Tiếng Việt và tiếng Anh thuộc hai nền văn hóa khác nhau, với sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc ngữ pháp và từ vựng; nếu không được trang bị nền tảng vững chắc và không chăm chỉ tìm hiểu, kết quả học tập sẽ khó cải thiện Thêm vào đó, cấu trúc câu phức tạp và từ vựng chuyên ngành là thử thách lớn đối với sinh viên khi phải làm việc với một ngôn ngữ xa lạ so với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày.
Trong bài tiểu luận này, tác giả đi sâu phân tích các vấn đề chính mà sinh viên cử nhân tiếng Anh gặp phải khi học môn Biên dịch, bao gồm từ vựng chuyên ngành, sự khác biệt ngôn ngữ, cấu trúc câu và yếu tố văn hóa trong ngữ cảnh QHQT Bài viết cũng gợi ý một số giải pháp nhắm tới việc giúp sinh viên vượt qua khó khăn do những khác biệt này gây ra, từ đó cải thiện kết quả học tập và nâng cao chất lượng biên dịch Nội dung tập trung vào nhận diện thách thức về thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ, cách điều chỉnh cấu trúc câu cho tính chính xác và tự tin, cùng với sự nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong quá trình chuyển ngữ và phát triển chiến lược học tập liên quốc tế.
Câu h ỏ i nghiên c ứ u
Bài tiểu luận này trước hết tập trung vào những kiến thức chung về Biên dịch chuyên ngành QHQT, sau đó nêu lên những khó khăn trong thực tiễn mà các bạn sinh viên hai lớp TA39A và TA39B gặp phải sau ba học kỳ học môn này; nghiên cứu được tiến hành vào thời điểm nhóm sinh viên vừa hoàn thành bộ môn Biên dịch III Do đó, người viết đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng biên dịch và đề xuất giải pháp cải thiện đào tạo cho sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế.
1/ Sinh viên lớp TA39A và TA39B gặp phải những vấn đề gì trong quá trình học Biên dịch? Có thể phân loại những vấn đềđó như thế nào?
2/ Nguyên nhân nào dẫn đến những khó khăn đó?
3/ Giải pháp nào giúp sinh viên ngành Cử nhân tiếng Anh khắc phục vấn đề này?
M ục đích củ a nghiên c ứ u
Bài tiểu luận này có ba mục đích chính như sau:
Thứ nhất, nêu lên những kiến thức cơ bản về Biên dịch chuyên ngành QHQT
Trong phần hai của bài viết, nêu rõ những khó khăn phổ biến mà sinh viên khoa tiếng Anh tại Học viện Ngoại giao gặp phải khi học môn Biên dịch, đặc biệt là sinh viên hai lớp TA39A và TA39B Các khó khăn được phân loại thành ba nhóm chính: khó khăn ngôn ngữ và từ vựng trong ngữ cảnh biên dịch, khó khăn về kỹ năng biên dịch và quản lý quy trình dịch, cũng như khó khăn về nguồn lực và môi trường học tập Nguyên nhân dẫn tới những khó khăn này bao gồm sự phức tạp của ngôn ngữ nguồn và hệ thống thuật ngữ chuyên ngành, thiếu thời gian luyện tập và ít tiếp xúc với văn bản nguồn thực tế, cùng với sự khác biệt về trình độ và phong cách học của hai lớp TA39A và TA39B Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý như thiếu tự tin khi trình bày bản dịch trước lớp và áp lực đánh giá cũng góp phần làm tăng khó khăn Việc nhận diện rõ các nhóm khó khăn và nguyên nhân sẽ giúp đề xuất các biện pháp cải thiện như tăng cường luyện nghe-đọc hiểu, thực hành dịch với văn bản chuyên ngành và tổ chức hoạt động thảo luận nhóm cho hai lớp TA39A và TA39B.
Thứ ba, đề xuất một sốphương án giúp sinh viên khắc phục những vấn đề trên.
Ý nghĩa của nghiên cứu
Biên dịch đóng vai trò rất quan trọng trong Quan hệ quốc tế (QHQT) nói chung và đối ngoại Việt Nam nói riêng Nếu học tốt bộ môn này, sinh viên sẽ trang bị cho mình một vốn kiến thức và kinh nghiệm vững chắc để áp dụng vào công tác làm biên dịch sau này, nhất là với sinh viên Học viện Ngoại giao – những người mang trọng trách quốc gia Tuy nhiên, so với các bộ môn khác trong chương trình đào tạo Cử nhân tiếng Anh của Học viện Ngoại giao như Tiếng Anh cơ sở, Tiếng Anh chuyên ngành, số lượng nghiên cứu tập trung vào giải quyết những khó khăn thường gặp của bộ môn Biên dịch không nhiều, một phần do tính chuyên môn cao và phạm vi hẹp (chỉ tập trung vào tiếng Anh, tiếng Việt cho ngành QHQT) Nghiên cứu này mong muốn chỉ ra những khó khăn phổ biến mà sinh viên thường gặp khi học bộ môn Biên dịch, đồng thời đề xuất một số giải pháp để giúp sinh viên đạt được hiệu quả như ý sau khi hoàn thành cả ba cấp độ của chương trình.
1.5 Phạm vi nghiên cứu Ý tưởng của nghiên cứu này xuất phát từ chính những quan sát và trải nghiệm của bản thân người viết sau ba học kỳ theo học môn Biên dịch tại khoa tiếng Anh, Học viện Ngoại giao
Với hạn chế về thời gian, nghiên cứu tập trung khai thác những vấn đề cốt lõi trong việc học môn tiếng Anh của sinh viên hai lớp TA39A và TA39B thuộc khoa Tiếng Anh, Học viện Ngoại giao Nghiên cứu cũng phân tích những kiến thức cơ bản nhất liên quan đến biên dịch Anh-Việt và Việt-Anh cho chuyên ngành Quan hệ quốc tế (QHQT).
1.6 Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, người viết đã sử dụng đồng thời cả hai phương pháp định tính và định lượng Việc thu thập dữ liệu bao gồm thông tin về lịch sử nghiên cứu Phương pháp định tính được dùng để phân tích, tổng hợp và lý giải các khó khăn mà người học tiếng Anh gặp phải Phương pháp định lượng giúp chuyển đổi số liệu thành các tỷ lệ phần trăm.
Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từsách và các trang web đáng tin cậy
1.7 Bố cục của nghiên cứu
Nghiên cứu này bao gồm 6 chương như sau:
Chương I (Giới thiệu): Nêu ra vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, ý nghĩa, phạm vi và bố cục của bài nghiên cứu
Chương II (Tổng quan lý thuyết): Tóm tắt và tổng hợp những kiến thức về biên dịch Anh-Việt và
Việt-Anh chuyên ngành dựa trên những công trình nghiên cứu cùng đề tài và các tài liệu liên quan khác
Chương III (Phương pháp và nghiên cứu): Nêu lên đối tượng, các phương pháp nghiên cứu, các bước thu thập và phân tích dữ liệu
Chương IV (Kết quả và bàn luận): Chỉ ra những khó khăn chính trong việc học môn Biên dịch của sinh viên 2 lớp TA39A và TA39B, khoa tiếng Anh hay gặp phải, lý giải nguyên nhân của những khó khăn này.
Chương V (Khuyến nghị): Đưa ra một số giải pháp giúp khắc phục những khó khăn trong việc học môn Biên dịch nhằm cải thiện kết quả bộ môn cho sinh viên Cử nhân tiếng Anh
Chương VI (Kết luận): Tóm tắt toàn bộ nghiên cứu và gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo cùng đề tài.
Phương pháp nghiên cứ u và thu th ậ p d ữ li ệ u
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả kết hợp đồng thời các phương pháp định tính và định lượng để làm rõ vấn đề và kết quả nghiên cứu Phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng để thu thập thông tin về lịch sử nghiên cứu, nhằm làm rõ bối cảnh và động lực của đề tài Phương pháp định tính được dùng để phân tích, tổng hợp và lý giải các khó khăn mà người học tiếng Anh gặp phải, từ đó rút ra các hàm ý và giải pháp Phương pháp định lượng hỗ trợ chuyển đổi dữ liệu thành tỷ lệ phần trăm, giúp đo lường mức độ ảnh hưởng và tăng tính khách quan của các kết quả nghiên cứu.
Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từsách và các trang web đáng tin cậy.
B ố c ụ c c ủ a nghiên c ứ u
Nghiên cứu này bao gồm 6 chương như sau:
Chương I (Giới thiệu): Nêu ra vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, ý nghĩa, phạm vi và bố cục của bài nghiên cứu
Chương II (Tổng quan lý thuyết): Tóm tắt và tổng hợp những kiến thức về biên dịch Anh-Việt và
Việt-Anh chuyên ngành dựa trên những công trình nghiên cứu cùng đề tài và các tài liệu liên quan khác
Chương III (Phương pháp và nghiên cứu): Nêu lên đối tượng, các phương pháp nghiên cứu, các bước thu thập và phân tích dữ liệu
Chương IV (Kết quả và bàn luận): Chỉ ra những khó khăn chính trong việc học môn Biên dịch của sinh viên 2 lớp TA39A và TA39B, khoa tiếng Anh hay gặp phải, lý giải nguyên nhân của những khó khăn này.
Chương V (Khuyến nghị): Đưa ra một số giải pháp giúp khắc phục những khó khăn trong việc học môn Biên dịch nhằm cải thiện kết quả bộ môn cho sinh viên Cử nhân tiếng Anh
Chương VI (Kết luận): Tóm tắt toàn bộ nghiên cứu và gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo cùng đề tài.
T Ổ NG QUAN LÝ THUY Ế T
Gi ớ i thi ệ u chung
Với mục đích mang lại một cái nhìn tổng quan về ngành biên dịch, chương này đề cập đến những kiến thức và kỹ năng cơ bản của nghề biên dịch, tạo nền tảng lý giải cho những khó khăn mà sinh viên 2 lớp TA39A và TA39B gặp phải khi học môn Biên dịch chuyên ngành
QHQT Do kiến thức về biên dịch cơ bản khá rộng nên người nghiên cứu chỉ xin trích ra những kiến thức phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của bài tiểu luận là biên dịch Anh-Việt và Việt-Anh chuyên ngành QHQT.
Khái niệm biên dịch
Theo Hartmann & Stork (1972), “translation is the replacement of a representation of a text in one language by a representation of an equivalent text in a second language” (tạm dịch:
Biên dịch là quá trình chuyển đổi một thông điệp từ ngôn ngữ nguồn sang một thông điệp tương đương ở ngôn ngữ đích bằng chữ viết Theo Pöchhacker (2004), biên dịch khác với phiên dịch ở nhiều đặc điểm cơ bản: biên dịch làm việc với văn bản viết, cho phép chỉnh sửa và rà soát lại để đảm bảo độ chính xác và tính toàn vẹn của nghĩa; phiên dịch là quá trình truyền đạt thông điệp bằng lời trong thời gian thực hoặc gần như tức thời, thường đối mặt với áp lực thời gian và ngữ cảnh giao tiếp Vì vậy, sự khác biệt giữa hai hình thức dịch nằm ở hình thức (văn bản so với lời nói), thời gian xử lý và mức độ kiểm soát ý nghĩa cũng như ngữ điệu trong giao tiếp.
Văn bản ở ngôn ngữ nguồn có th ể được xem đi xem lại nhiều lần
Văn bản ở ngôn ngữ nguồn không th ể được xem đi xem lại nhiều lần -Áp lực thời gian ít hơn
-Nhiều cơ hội để chỉnh sửa bài dịch
-Áp lực thời gian lớn hơn
-Ít cơ hội để chỉnh sửa bài dịch
Trong biên dịch, hai thuật ngữ phổ biến nhất là ngôn ngữ nguồn (source language) và ngôn ngữ đích (target language) Ví dụ, khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, tiếng Anh là ngôn ngữ nguồn và tiếng Việt là ngôn ngữ đích; ngược lại, khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, tiếng Việt là ngôn ngữ nguồn và tiếng Anh là ngôn ngữ đích.
Về mặt phân loại, biên dịch thường được chia làm hai loại chính là dịch phi thương mại và dịch thuật chuyên ngành Loại thứ nhất gồm bài tập ngôn ngữ, tài liệu hướng dẫn và dịch giải trí; loại thứ hai được phân ra các nhánh nhỏ hơn tùy theo từng chuyên ngành như văn học dịch, dịch phim-kịch và dịch tài liệu thông tin, trong đó dịch thuật chuyên ngành QHQT được xếp vào loại thứ hai Đối với người làm biên dịch, các kỹ năng cần thiết là nghiên cứu văn bản và kỹ năng máy tính Về năng lực, người biên dịch phải có hiểu biết về văn hóa và hiểu biết về chủ đề đang dịch, trong bài nghiên cứu này là QHQT Một ví dụ về hiểu biết văn hóa là Boxing Day: nếu dịch trực tiếp sẽ là “ngày hộp” hoặc “ngày đấm bốc”, nhưng thực tế đó là ngày lễ ở Anh tặng quà cho người đưa thư và người nhận hàng; nếu thiếu hiểu biết về văn hóa Anh sẽ không thể dịch chính xác được Cuối cùng, về phẩm chất, người biên dịch phải trung thành với bản dịch bằng cách dịch chính xác nhất có thể, không được thêm bớt, sáng tạo hoặc thay đổi nội dung của văn bản; vi phạm có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Các kỹ thuật dịch cơ bản
Lưu ý: Trên thực tế có nhiều kỹ thuật dịch hơn số kỹ thuật được liệt kê ở đây; tuy nhiên phạm vi của bài nghiên cứu chỉ tập trung vào biên dịch chuyên ngành QHQT, nên tác giả chỉ đưa vào tiểu luận những kỹ thuật có thể áp dụng cho biên dịch trong lĩnh vực này.
Tên riêng (tên người, tên địa danh) không có thuộc tính thống nhất và phần lớn chúng không thể dịch được một cách đầy đủ ý nghĩa sang ngôn ngữ khác Ví dụ, ta không thể dịch tên Bộ trưởng Bộ Công an Đinh La Thăng thành một từ ngữ có nghĩa tương đương trong ngôn ngữ đích; tên riêng thường được giữ nguyên hoặc chỉ phiên âm để bảo toàn nhận diện và ngữ cảnh Vì vậy, khi biên dịch hoặc tối ưu SEO cho nội dung có tên riêng, nên ưu tiên giữ nguyên danh xưng hoặc phiên âm phù hợp, tránh làm sai lệch danh tính và đảm bảo văn bản tự nhiên với người đọc.
“Nail Scold Promote” nghĩa từng từ là đinh, la (mắng), thăng (chức); cũng như không thể dịch “Ms Rice” thành “bà Gạo” hay “bà Cơm” Khi dịch tên riêng từ tiếng Anh sang tiếng Việt, ta thường thiên về phiên âm nhiều hơn là nghĩa—ví dụ Manchester thành Man-chét-xtơ Do đó có thể rút ra hai nguyên tắc dịch cho loại tên này: một là chấp nhận và dùng những tên đã được Việt hóa, quen thuộc với người Việt như “Chiến tranh Hoa Hồng”; hai là phiên âm hoặc giữ nguyên tên gốc khi chưa có bản Việt hóa phổ biến để duy trì nhận diện và độ chính xác của tên.
Khi xử lý thuật ngữ nước ngoài trong bản dịch, có hai lựa chọn: giữ nguyên tên gốc như War of the Roses hoặc chấp nhận các từ dịch Hán-Việt mà người Việt đã quen với ví dụ London thành Luân Đôn Tuy nhiên cách thứ hai chỉ nên áp dụng với những từ phổ biến, được nhiều người đọc hiểu và nhận diện dễ dàng để đảm bảo tính nhất quán và tối ưu cho SEO.
Trong viết bài bằng tiếng Việt, nên ưu tiên dùng tên gọi quen thuộc và dễ nhận diện thay vì lạm dụng phiên âm hay danh xưng khó hiểu Việc chọn tên gọi chuẩn giúp người đọc nhanh nắm được nhân vật hoặc sự kiện, đồng thời tăng tính nhất quán và tối ưu hóa nội dung cho SEO với từ khóa dễ tìm Ví dụ, khi nói về Lenin, người Việt sẽ hiểu ngay đó là ai; còn nếu nói Liệt Ninh, là tên phiên âm Hán-Việt của ông thì không phải người đọc nào cũng nhận ra Vì vậy, người viết cần cân nhắc giữa sự chính xác và sự tiếp cận của độc giả, ưu tiên sự rõ ràng, nhất quán trong toàn bài, và dùng các phiên âm hoặc tên nước ngoài chỉ khi thật sự cần thiết và có chú thích rõ ràng.
2.3.2 Ch ọ n t ừ d ị ch sát v ới văn phong và ngữ c ả nh c ủa NNĐ
Trong quá trình dịch thuật, người dịch nên chọn từ ngữ sát với phong cách và ngữ cảnh của ngôn ngữ đích nhất có thể Ví dụ trong câu “IS is laying a plan for terrorism”, từ “lay” có nhiều nghĩa như sắp đặt, nằm, đẻ trứng nên dựa vào ngữ cảnh để nhận diện nghĩa đúng và dịch ra tiếng Việt là “IS đang sắp đặt một âm mưu khủng bố.” Điều này cho thấy sự quan trọng của việc nhận diện từ đa nghĩa và lựa chọn nghĩa phù hợp để câu được mượt mà và chuẩn nghĩa Khi tối ưu SEO cho bài viết về dịch thuật, nên tập trung vào từ khóa liên quan như dịch thuật, ngữ cảnh, nghĩa của từ đa nghĩa, để tăng khả năng hiển thị mà vẫn giữ được tính chính xác của nội dung.
2.3.3 Y ế u t ố mang đặ c thù qu ốc gia/đặc trưng văn hóa
Trong dịch thuật, một số từ mang khái niệm đặc thù chỉ tồn tại trong một cộng đồng nhất định Ví dụ ở Việt Nam có lễ hầu đồng (lên đồng) – nghi lễ mang sắc thái văn hóa riêng mà không có từ tương đương trong tiếng Anh Do đó, người dịch không nên tạo ra từ mới bằng tiếng Anh cho nghi lễ này; thay vào đó nên giữ nguyên từ gốc (kèm phiên âm nếu cần) và giải thích nghĩa trong ngoặc đơn Nếu ngữ cảnh cho phép, người dịch có thể chuyển đạt ý nghĩa bằng cách dịch trực tiếp từ khái niệm thay vì tìm từ đồng nghĩa, giúp bảo tồn đặc trưng văn hóa và sự chính xác của bản dịch, đồng thời tối ưu hóa SEO với các từ khóa liên quan như dịch thuật, phiên âm, giải thích nghĩa, từ đặc thù văn hóa, và bảo tồn văn hóa.
Trong quá trình dịch thuật, có thể giữ nguyên một thuật ngữ như Worshipped Tiger mà không cần giải thích bằng ngoặc, miễn sao ngữ cảnh cho phép Nếu may mắn, người dịch có thể tìm được một khái niệm tương đương trong NNĐ (ví dụ từ 'đình làng' trong tiếng Việt và 'common house' trong tiếng Anh đều là từ chỉ nơi sinh hoạt cộng đồng) Việc này giúp bài viết rõ nghĩa và dễ tiếp cận hơn với người đọc, đồng thời cải thiện SEO nhờ sử dụng các từ khóa liên quan như khái niệm tương đương, dịch thuật, đình làng, common house và nơi sinh hoạt cộng đồng.
Trong tiếng Anh, danh từ chủ ngữ hoặc tân ngữ thường được nhắc lại ít và được thay bằng đại từ nhân xưng để câu văn ngắn gọn và tự nhiên Tiếng Anh có bảy đại từ nhân xưng ở ngôi chủ ngữ là I, you, he, she, it, we và they; ở ngôi tân ngữ có các dạng như me, you, him, her, it, us và them Việc chọn đúng đại từ phù hợp với ngôi, số lượng và giới tính giúp duy trì tính nhất quán và tránh nhầm lẫn trong câu Khi viết bài cho SEO, hãy chú ý tích hợp các từ khóa liên quan như đại từ nhân xưng tiếng Anh, ngữ pháp tiếng Anh và cách dùng đại từ một cách tự nhiên để nội dung vừa dễ hiểu vừa tối ưu hóa công cụ tìm kiếm.
He, She và It thì tiếng Việt lại tồn tại một hệ thống đại từ phức tạp, vì vậy mà khi dịch sang tiếng
Trong dịch thuật tiếng Việt, người dịch phải chú ý ngữ cảnh của câu để dùng đúng đại từ nhân xưng Ví dụ câu tiếng Anh "I first met her when she was 17" yêu cầu đọc kỹ các câu và đoạn trước để xác định mối quan hệ của "her" với người nói; nếu "her" là bạn gái hoặc vợ, có thể dịch "Tôi gặp cô ấy lần đầu khi cô ấy 17 tuổi", còn nếu là cháu gái gọi người viết bằng chú thì phải dịch "Tôi gặp con bé lần đầu khi nó 17 tuổi." Tiếng Việt thường lặp lại danh từ chủ ngữ hoặc tân ngữ, trong khi tiếng Anh dùng mệnh đề quan hệ (who, which, whose, that) Ví dụ câu "Tôi đã gặp một người, những người biết cha tôi" nếu dịch thành "I met some people, those people know my father" nghe lủng củng; thay vào đó ta dùng mệnh đề quan hệ "who" để câu trôi chảy hơn: "I met some people who know my father."
Viết tắt tiếng Anh được chia thành 3 loại Trong đó một loại là viết tắt tên riêng, thường là tên của các tổ chức như UN, NASA Trong trường hợp này, từ viết tắt được giữ nguyên và giải thích trong ngoặc sau đó, ví dụ WHO.
Trong văn bản tiếng Việt, có ba loại viết tắt được dùng phổ biến, trong đó loại thứ nhất liên quan đến viết tắt theo ước lệ; ví dụ điển hình là e.g (ví dụ) và et al (và một số người khác) Trong trường hợp này, từ et al được dịch thành “và một số người khác” vì tiếng Việt không có từ viết tắt tương đương, còn e.g có thể dùng từ viết tắt VD hoặc v.d là viết tắt của từ “ví dụ” Loại cuối cùng là viết tắt thuật ngữ, như GDP (Gross Domestic Product – tổng sản phẩm nội địa) Trường hợp này nếu dịch cho giới chuyên môn thì giữ nguyên từ viết tắt, còn dịch cho đại bộ phận quần chúng thì bổ sung phần giải thích nếu từ đó mang tính chuyên ngành cao.
Trong tiếng Anh, có hai loại tiêu đề: một số thể hiện trực tiếp ý chính của bài viết, số khác lại được viết theo cách hình tượng và chỉ sau khi đọc hết bài người đọc mới hiểu được ý nghĩa đầy đủ Ví dụ, trong ngữ cảnh QHQT, tiêu đề Asia’s Challenge: Separatism gợi hình nội dung và có thể dịch ngay là "Thử thách của châu Á: Chủ nghĩa ly khai" Ngược lại, tiêu đề How to End It? đòi hỏi người đọc phải đọc bài để nắm ngữ cảnh và chọn cách dịch phù hợp, và đôi khi cần bổ sung từ Afghanistan để làm rõ nghĩa, như How to End It? Afghanistan.
Làm gì để kết thúc bất ổn?)
2.3.7 D ị ch c ấ u trúc ph ủ đị nh
Có 3 loại cấu trúc phủ định cơ bản, loại thứ nhất là cấu trúc tồn tại hoặc có tương đương trong cả tiếng Anh và tiếng Việt (VD “I can’t speak Spanish” & “Tôi không biết nói tiếng Tây
Ban Nha”) Loại thứ hai là cấu trúc phủđịnh tiếng Anh mà tiếng Việt không có hoặc khó dịch,
Cấu trúc tiếng Anh not until that được dùng để nhấn mạnh thời điểm của một sự việc chỉ xảy ra sau một sự kiện khác, điển hình qua ví dụ Not until I heard from my friend that I knew about the Paris terrorist attacks Trong bản dịch sang tiếng Việt, thường không có yếu tố phủ định tương ứng, vì vậy người dịch nên giữ nguyên nghĩa của câu gốc thay vì cố nhét một cấu trúc phủ định không phù hợp Các trường hợp tương tự đòi hỏi người dịch tuân theo nghĩa thật của câu để bản dịch tự nhiên và đúng ngữ pháp Để tối ưu nội dung cho SEO, hãy tập trung diễn đạt cách dùng của cấu trúc này và cách chuyển ngữ sao cho thời điểm sự việc được thể hiện rõ ràng, đồng thời tránh thêm yếu tố phủ định thừa.
Các ki ể u biên d ị ch
Biên dịch được chia làm 9 loại chính: dịch từng từ, dịch theo ngữ pháp, dịch bám sát nội dung, dịch theo ngữ nghĩa, dịch truyền đạt thông tin, dịch thành ngữ, dịch thoát và dịch chuyển thể Tuy nhiên, phạm vi bài tiểu luận về biên dịch chuyên ngành Quan hệ Quốc tế (QHQT) cho phép đi sâu phân tích các kiểu dịch có thể áp dụng trong QHQT, bao gồm dịch từng từ, dịch theo ngữ pháp, dịch bám sát nội dung, dịch theo ngữ nghĩa và dịch truyền đạt thông tin, đồng thời xem xét vai trò của dịch thành ngữ, dịch thoát và dịch chuyển thể trong các tình huống đặc thù như văn bản đàm phán, báo cáo nghiên cứu và tài liệu tham khảo.
2.4.1 D ị ch theo ng ữ nghĩa (semantic translation)
So với dịch bám sát nội dung, dịch ngữ nghĩa tập trung vào ý nghĩa ở cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích nên linh hoạt và tự nhiên hơn Dịch ngữ nghĩa chú trọng tới mỹ học của ngôn ngữ và cách diễn đạt, vì vậy thường được áp dụng cho các văn bản có tính uy tín cao như văn bản về chính trị, đối ngoại, luật, tôn giáo hoặc trong các tác phẩm văn học; đặc biệt đây là kiểu dịch thường dùng khi xử lý các văn bản về quan hệ quốc tế.
2.4.2 D ị ch truy ền đạ t thông tin (communicative translation)
Kiểu dịch tự do ưu tiên truyền đạt thông tin một cách hiệu quả, bỏ qua một số chi tiết ngữ nghĩa để ngôn ngữ dễ đọc và dễ hiểu Do đó, văn bản dịch nhằm truyền tải thông tin tuy có thể không hay bằng dịch ngữ nghĩa nhưng lại ngắn gọn và súc tích hơn, giúp người đọc nắm bắt nội dung nhanh chóng.
Ví dụ, câu “North Korea is a realm where people are brainwashed to worship their Dear Leader
Trong ngữ cảnh dịch thuật, cụm "Kim Jong-il" có thể dịch theo nghĩa là "Bắc Triều Tiên là một vương quốc nơi con người bị tẩy não để thờ phụng Lãnh tụ Kính yêu Kim Jong-il của họ", hoặc diễn đạt ở dạng thông tin là "Người dân Bắc Triều Tiên bị tẩy não để thờ phụng lãnh tụ Kim Jong-il của họ." Việc so sánh hai cách dịch này giúp làm rõ cách trình bày và tối ưu hóa SEO cho các bài viết phân tích ngôn ngữ và tuyên truyền về Bắc Triều Tiên, đồng thời cung cấp cái nhìn súc tích về tác động của tuyên truyền đối với nhận thức công chúng.
2.4.3 D ị ch thành ng ữ (idiomatic translation)
Thành ngữ là yếu tố văn hóa, do đó khi dịch theo kiểu này người dịch tập trung truyền tải thông điệp của câu thành ngữ chứ không bắt buộc giữ nguyên nghĩa trực quan Kiểu dịch này thường dùng khẩu ngữ, mang tính tự nhiên và sống động hơn so với dịch nghĩa từng từ Để thực hiện được, người dịch cần có hiểu biết về văn hóa của cả hai nước Anh-Việt, từ đó điều chỉnh câu chữ cho phù hợp ngữ cảnh Ví dụ, thành ngữ Chở củi về rừng được chuyển sang tiếng Anh thành Carry coals to Newcastle—vì Newcastle ở Đông Bắc nước Anh nổi tiếng khai thác than—cho thấy cách dịch dựa trên bối cảnh văn hóa sẽ hiệu quả hơn so với bảo toàn nghĩa đen.
Các bước cơ bản để dịch một câu, đoạn văn bản
Theo thầy Nguyễn Quốc Hùng, nguyên Giám đốc Trung tâm Đào tạo từ xa Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Trường Đại học Hà Nội), người biên dịch cần thực hiện 6 bước chính để dịch một câu hay đoạn văn: hiểu đúng ngữ cảnh và mục đích của văn bản, xác định ý chính và các ý phụ đằng sau câu hoặc đoạn, chọn từ ngữ và cấu trúc câu phù hợp với ngôn ngữ đích, bảo toàn ý nghĩa, sắc thái và tông giọng của văn bản gốc, điều chỉnh cấu trúc câu và luồng ý tưởng để bản dịch tự nhiên và dễ đọc, và cuối cùng kiểm tra ngữ pháp, chính tả, tính nhất quán so với phần còn lại của văn bản đồng thời tối ưu hóa cho SEO bằng cách tích hợp từ khóa liên quan một cách tự nhiên.
Trong bước Read through (đọc qua), người dịch đọc bài trong NNN một lượt từ đầu đến cuối để nhận diện chủ đề của bài (ví dụ: vấn đề an ninh trên bán đảo Triều Tiên), sau đó có thể tóm tắt lại ý chính trong một câu hoặc một đoạn văn ngắn để nắm bắt nội dung một cách cô đọng nhất Trong lần đọc này, người dịch không cần đọc từng câu, từng chữ cũng như không cần biết nghĩa từng từ Đây là bước “survey the original” (tìm hiểu bản gốc).
Bước 2: Nhận diện các từ mới và cụm từ khó dịch, đặc biệt là từ chuyên ngành, thành ngữ và tục ngữ Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của từ điển và internet, chúng ta có thể tra cứu dễ dàng các yếu tố này, nhưng với các thuật ngữ đặc thù hoặc từ mang tính chuyên ngành quá cao, cần liên hệ với chuyên gia hoặc nguồn tham khảo có chuyên môn để được tư vấn thêm.
Step 3: Identify sentence structures and grammatical patterns The aim is to practice breaking sentences into their constituent parts—such as main clauses, subordinate clauses, and modifiers—in order to reveal the precise meaning of the sentence For example, the sentence “Now, the most that can be hoped for in the immediate future is a truce, followed by the restoration of some minimal cooperation” can be analyzed as “A truce followed by the restoration of some minimal cooperation is the most that can be hoped for in the immediate future.” This kind of structural analysis shows how moving elements around the sentence preserves meaning while clarifying the relationships between ideas, supporting clearer interpretation and more accurate comprehension.
Bước 4: Dịch thuật (tiến hành dịch thuật) Dịch từng câu, từng đoạn một cách chính xác về nghĩa và đúng văn phong, không phỏng dịch, không thêm bớt hoặc làm thay đổi ý nghĩa của văn bản ở NNN Sau bước này, người đọc sẽ hiểu được chính xác ý nghĩa của từng câu.
Bướ c 5: Style (biên t ậ p/ch ỉ nh s ử a) : Biên tập lại câu sao cho phù hợp với lối nói của người Việt
Trong dịch Anh-Việt và ngược lại (dịch Việt-Anh), việc chuyển thể câu sao cho tự nhiên với văn phong tiếng Việt là điều quan trọng Ví dụ, cụm It was believed that có thể dịch là "Nó được cho rằng", nhưng văn phong tiếng Việt tốt hơn khi dùng câu chủ động "Người ta cho rằng", giúp câu văn mạch lạc và dễ đọc Để tối ưu SEO cho bài viết về dịch ngôn ngữ, nên tích hợp các từ khóa liên quan như "dịch Anh-Việt", "dịch Việt-Anh", "dịch chuẩn", "văn phong tiếng Việt tự nhiên", đồng thời giữ nguyên ý nghĩa gốc và sự rõ ràng của câu.
Bước 6: Bình luận bài dịch Người viết tự đánh giá kết quả bản dịch bằng cách xem xét bản dịch có đúng hay sai, có chính xác hay không, và có phù hợp với ngữ cảnh cũng như văn phong hay không Quá trình này tập trung vào độ trung thực của nghĩa, sự tự nhiên của câu chữ và tính nhất quán ngôn ngữ so với văn bản gốc, đồng thời rà soát yếu tố tối ưu cho SEO như từ khóa và tần suất xuất hiện Kết quả của bình luận sẽ làm căn cứ cho chỉnh sửa để nâng cao chất lượng bản dịch, đảm bảo rõ ràng, mạch lạc và phù hợp với đối tượng độc giả.
Việt –văn phong thuần Anh
TI Ế N HÀNH NGHIÊN C Ứ U
Giới thiệu chung
Bài tiểu luận này nhằm xác định những khó khăn chính mà sinh viên hai lớp TA39A và TA39B gặp phải khi học môn Biên dịch; để làm rõ các khó khăn này, nghiên cứu được tiến hành theo ba bước chủ chốt: thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và đánh giá cá nhân nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tế mà sinh viên gặp phải trong quá trình học và thực hành biên dịch; Chương III mô tả chi tiết việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu, công cụ và phương tiện nghiên cứu, cùng với quy trình thu thập và phân tích dữ liệu.
Ph ươ ng tiên thu th ậ p d ữ li ệ u
Bài tiểu luận nhằm xác định những khó khăn chính mà sinh viên hai lớp TA39A và TA39B gặp phải khi học môn Biên dịch Để làm rõ các khó khăn này, nghiên cứu được tiến hành qua ba bước cơ bản: thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và đánh giá cá nhân nhằm tìm ra mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn với những thách thức mà các sinh viên gặp phải trong thực tế Chương III trình bày mô tả về sự lựa chọn đối tượng nghiên cứu, công cụ và phương tiện nghiên cứu, cùng với quá trình thu thập và phân tích dữ liệu.
3.2 Lựa chọn đối tượng nghiên cứu Đối tượng được chọn của nghiên cứu này là 55 bạn sinh viên 2 lớp TA39A và TA39B, khoa tiếng Anh, Học viện Ngoại giao Tại thời điểm tiến hành nghiên cứu, nhóm sinh viên này đã hoàn thành cả 3 cấp độ của môn Biên dịch, vì vậy có thể đưa ra cái nhìn toàn diện nhất về những khó khăn thường gặp của bộ môn
3.3 Phương tiện thu thập dữ liệu
Các sinh viên 2 lớp TA39A và TA39B được đề nghị hoàn thành một bảng hỏi (Nunan,
Trong nghiên cứu thực hiện năm 1992, có 6 câu hỏi liên quan đến kết quả học môn Biên dịch ở cả 3 cấp độ, nhằm xác định những khó khăn mà các bạn gặp phải và các giải pháp có thể giúp cải thiện kết quả học tập Để đảm bảo tính khách quan và công bằng, mỗi sinh viên tự mình hoàn thành bảng hỏi mà không được phép nhìn đáp án do người khác lựa chọn; chỉ người nghiên cứu mới có thể xem được toàn bộ kết quả điều tra Kết quả điều tra sẽ được công bố sau khi toàn bộ 55 đối tượng nghiên cứu đã hoàn thành điền bảng hỏi.
Hai lớp sinh viên sẽ được giao một bài tập dịch nhỏ dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm có sẵn của bản thân; người nghiên cứu sẽ đưa ra hai đề bài, một yêu cầu sinh viên dịch Anh-Việt và bài còn lại yêu cầu dịch Việt-Anh hai câu trích từ các văn bản liên quan đến chủ đề ngoại giao và quan hệ quốc tế Sinh viên làm bài bằng cách viết câu trả lời vào các ô trống được cho sẵn trong bảng hỏi, và tuyệt đối không được sử dụng từ điển, internet hoặc bất kỳ phương tiện hỗ trợ nào khác.
3.4 Quá trình thu thập thông tin
Thông tin được thu thập từ bảng hỏi phát cho 55 sinh viên thuộc hai lớp TA39A và TA39B Bên cạnh đó, các sinh viên được khuyến khích nêu thêm những khó khăn mà bản thân gặp phải khi học Biên dịch và tự đề xuất các giải pháp cá nhân; trong bảng hỏi có hai câu hỏi liên quan đến vấn đề này, với lựa chọn "Ý kiến khác" để sinh viên có thể trình bày câu trả lời không nằm trong các đáp án có sẵn Mỗi sinh viên phải tự hoàn thành bảng hỏi mà không xem đáp án của bất kỳ sinh viên nào khác, không nhận sự trợ giúp từ từ điển hay các phương tiện khác có thể ảnh hưởng tới quá trình dịch, đồng thời đảm bảo ý kiến chủ quan riêng và tránh bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người khác.
3.5 Quá trình phân tích dữ liệu
Sau khi thu thập dữ liệu, bước tiếp theo là tiến hành phân tích các dữ liệu này để rút ra các kết luận có ý nghĩa Kết quả bảng hỏi được rà soát kỹ lưỡng, thống kê các khó khăn mà các bạn sinh viên đã liệt kê và đồng thời đánh giá mức độ hoàn thành các bài tập nhỏ mà người nghiên cứu yêu cầu Quá trình phân tích giúp nhận diện các xu hướng chung, các vấn đề nổi bật và cung cấp cơ sở cho các đề xuất cải thiện trong các bước nghiên cứu tiếp theo.
Phương pháp định tính được người viết sử dụng để phân tích, đánh giá, so sánh giữa lý thuyết và thực hành của việc học môn Biên dịch
Phương pháp định lượng được sử dụng để chuyển dữ liệu sang dạng phần trăm và xác định được thói quen của các bạn sinh viên khi dịch (Nunan, 1992).
Quá trình phân tích d ữ li ệ u
Trong phạm vi phạm vi nghiên cứu được nêu ở Chương I và đối tượng nghiên cứu ở Chương III, các kết quả thu được cho thấy mức độ nhận diện những khó khăn khi học môn Biên dịch ở cả ba cấp độ vẫn rất khiêm tốn Do hạn chế về thời gian và trình độ của người nghiên cứu, bài viết tập trung trình bày những khó khăn cơ bản nhất trong việc học Biên dịch chuyên ngành Quan hệ quốc tế.
Theo kết quả điều tra hai lớp, sinh viên gặp khó khăn nhiều nhất khi học môn Biên dịch, chiếm 40% số sinh viên được hỏi Giáo trình Biên dịch cho cả ba cấp độ được thiết kế theo hướng chuyên ngành Quan hệ quốc tế (QHQT), vì vậy trong hầu hết các bài báo và văn bản dùng làm bài tập dịch đều chứa nhiều từ chuyên ngành như MOU (Memorandum of Understanding – biên bản ghi nhớ), de facto (thực tế không chính thức), regime (chế độ cai trị) hay rogue state (một quốc gia bị cho là không tuân thủ luật pháp quốc tế và là mối đe dọa cho các nước khác, ví dụ Triều Tiên) (Oxford Dictionaries, n.d.) Những từ và cụm từ này hầu như chỉ dùng trong ngữ cảnh QHQT và rất xa lạ với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Hơn nữa, có nhiều từ mang nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp thông thường nhưng ở ngữ cảnh QHQT lại mang nghĩa khác, đòi hỏi sinh viên phải có tư duy logic để hiểu đúng; ví dụ watchdog trong nghĩa phổ thông là người canh giữ hoặc con chó canh, nhưng trong QHQT nó được dùng để chỉ một người, một hội đồng hoặc cơ quan giám sát về một vấn đề Điều này cho thấy sự cần thiết của việc luyện tập phân tích ngữ cảnh và nhận diện nghĩa chuyên ngành khi đọc và dịch các văn bản thuộc lĩnh vực Quan hệ quốc tế.
IAEA is the UN nuclear watchdog (IAEA là cơ quan giám sát hạt nhân của Liên Hợp Quốc)
Trong lĩnh vực dịch Việt-Anh, nhiều sinh viên gặp khó khăn tương tự khi tìm từ tương ứng trong tiếng Anh, đặc biệt khi làm bài thi Biên dịch nơi thí sinh chỉ được phép dùng từ điển đơn ngữ Anh-Anh Trong hoàn cảnh đó, nhiều bạn cố gắng diễn đạt từ hoặc cụm từ theo cách khác hoặc chọn từ đồng nghĩa, song cách làm này không đảm bảo tính đầy đủ về ý nghĩa của bài dịch.
K Ế T QU Ả VÀ BÀN LU Ậ N
K ế t qu ả nghiên c ứ u
Theo kết quả điều tra từ hai lớp, khó khăn lớn nhất khi học môn Biên dịch là ngôn ngữ chuyên ngành chiếm 40% tổng số sinh viên được hỏi; giáo trình Biên dịch cho cả ba cấp độ được thiết kế theo định hướng chuyên ngành Quan hệ quốc tế (QHQT), khiến nhiều từ ngữ chuyên môn xuất hiện trong các bài báo và văn bản làm bài tập dịch cho sinh viên, như MOU (Memorandum of Understanding – biên bản ghi nhớ), de facto (thực tế không chính thức, ví dụ de facto government), regime (chế độ cai trị) hay rogue state (một quốc gia bị cho là không tuân thủ luật pháp quốc tế và là mối đe dọa cho các nước khác, ví dụ Triều Tiên) (Oxford Dictionaries, n.d.) Những từ này chủ yếu được dùng trong ngữ cảnh QHQT và khác xa so với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Thêm vào đó, trong các văn bản này còn có nhiều từ mà nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp cơ bản lại mang nghĩa khác trong ngữ cảnh QHQT, đòi hỏi sinh viên phải suy nghĩ logic để hiểu đúng; ví dụ điển hình là từ watchdog, nghĩa thường là “chó giữ nhà” nhưng ở QHQT được dùng để chỉ một người, một hội đồng hoặc cơ quan giám sát về một vấn đề nhất định.
IAEA is the UN nuclear watchdog (IAEA là cơ quan giám sát hạt nhân của Liên Hợp Quốc)
Trong lĩnh vực dịch Việt-Anh, nhiều sinh viên gặp khó khăn khi tìm từ tương ứng bằng tiếng Anh, đặc biệt là khi làm bài thi biên dịch yêu cầu dùng từ điển Anh-Anh Trong hoàn cảnh này, nhiều bạn cố diễn đạt từ hoặc cụm từ đó theo một cách khác hoặc chọn từ tương tự, nhưng cách làm này không đảm bảo tính toàn vẹn về mặt ý nghĩa cho bài dịch.
4.1.2 S ự khác nhau trong c ấ u trúc ngôn ng ữ Đứng thứhai trong các khó khăn của sinh viên khi học Biên dịch với tỉ lệ 30%, vấn đề này nằm trong chính bản thân tiếng Anh và tiếng Việt Tiếng Anh thuộc ngữ hệ ngôn ngữ Giéc- man (Germanic), còn tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic) Hai ngôn ngữ này vốn khác nhau về bản chất nên kéo theo các khía cạnh về từ ngữ, ngữ pháp…cũng khác nhau rất nhiều
Về mặt cấu trúc từ ngữ, từ vựng tiếng Anh hầu hết hình thành theo mô hình quả bóng tuyết (snowball): một từ có thể thay đổi từ loại hoặc nghĩa khi được thêm tiền tố (prefix) hoặc hậu tố (suffix) Ví dụ, từ accurate là tính từ, nhưng khi thêm hậu tố -ly, nó trở thành accurately và đóng vai phó từ đứng sau động từ; thêm tiền tố in- cho ta từ inaccurate mang nghĩa ngược lại với từ gốc Quá trình này giúp mở rộng vốn từ và tạo ra nhiều biến thể ngữ nghĩa khác nhau, đồng thời cho phép người học nắm bắt sự linh hoạt của tiếng Anh Tuy nhiên, cấu trúc này không tồn tại trong tiếng Việt.
Việt Accurate dịch ra tiếng Việt là chính xác, từ loại thì không thay đổi nhưng để biến nó thành phó từ hay từtrái nghĩa ta không thể thêm tiền tố hay hậu tốđược Thay vào đó, ta phải thêm từ một cách vào trước nó để bổsung ý nghĩa cho động từ (VD giải bài tập một cách chính xác) còn nếu muốn có từtrái nghĩa ta thêm từ phủ nhận không, trở thành không chính xác
Còn về ngữ pháp, trong cấu trúc câu cơ bản của tiếng Anh, động từ (verb) chỉ đứng sau chủ ngữ (subject) và đứng trước tất cả các thành tố khác như tân ngữ (object), tính từ (adjective), phó từ (adverb) và danh từ (noun) Nhưng tiếng Việt lại không như vậy, có rất nhiều trường hợp các thành tốngoài động từđứng ngay sau chủ ngữ VD, so sánh 2 câu sau có nghĩa tương đương trong 2 ngôn ngữ, She is pretty và Cô ấy đẹp, có thể thấy cấu trúc của câu tiếng Anh là S (She) +V (is) + Adj (pretty) nhưng của câu tiếng Việt lại là S (Cô ấy) + Adj (đẹp) Ngoài ra, tiếng Anh tồn tại một hệ thống thì (tense) phức tạp với 21 thì khác nhau dùng để chỉ thời gian và phải chia động từ tùy theo thì của câu (English Grammar Online, n.d.)
Sự khác biệt lớn giữa tiếng Anh và tiếng Việt gây nhiều khó khăn cho sinh viên khi dịch câu trong ngữ cảnh Quan hệ Quốc tế (QHQT) Ví dụ, câu “Thông tin trên các mạng xã hội không phải nguồn chính thống, thiếu kiểm chứng, không có mục đích rõ ràng hoặc mục đích xuyên tạc, lừa đảo” ở tiếng Việt là đúng ngữ pháp, nhưng nếu giữ nguyên cấu trúc để dịch sang tiếng Anh sẽ lủng củng và khiến người đọc cảm nhận như các mảnh ý chắp vá: “Information on social networks are not only unofficial but also lacks clarification Its purpose is either unclear or deceptive.” Để đảm bảo ý nghĩa được truyền đạt đầy đủ và tự nhiên khi dịch, ta phải điều chỉnh cấu trúc gốc bằng các biện pháp như thêm từ nối hoặc tách thành 2–3 câu nhỏ; ví dụ dịch đúng có thể là: “Information on social networks is not only unofficial but also lacks verification; its purpose is either unclear or deceptive.”
4.1.3 Câu quá dài Đây là đặc trưng thường gặp ởcác văn bản mang tính chuyên ngành, đặc biệt là văn bản ngoại giao tiếng Việt Rất ít khi gặp câu đơn trong các bài viết chủ đề QHQT – hầu như đều là câu ghép, có ít nhất 2 cụm chủ-vị, có câu có đến 3, 4, thậm chí 5 cụm chủ-vị (hoặc 1 chủ ngữ nhưng nhiều vị ngữ) chỉ được cách nhau bằng những dấu phẩy hoặc chấm phẩy Nguyên do của việc này là người viết (hoặc người nói nếu là trích dẫn câu nói) muốn diễn đạt nhiều ý trong cùng một câu nói VD, trong câu nói sau đây của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm
Trước tiên, Việt Nam phải tăng cường thúc đẩy quan hệ chính trị để tạo cơ sở cho phát triển kinh tế và thương mại, đồng thời tích cực thu hút đầu tư nước ngoài và vận động nguồn vốn ODA cho Việt Nam, như Bộ Ngoại giao nhấn mạnh (2016) Theo đó, văn bản chứa tới bốn vế câu được phân tách bằng dấu gạch chéo và còn nhiều ý được ngăn bởi dấu phẩy, khiến người đọc dễ bị rối ý và không xác định được nội dung chính Trong ngôn ngữ nói, sự đơn giản của câu được ưu tiên, nên những câu quá dài hiếm gặp trong giao tiếp hàng ngày; đây cũng là lý do nhiều sinh viên gặp khó khăn khi đọc văn bản ngoại giao và chính trị, đặc biệt khi sự khác biệt giữa cấu trúc câu tiếng Anh và tiếng Việt làm cho việc dịch những câu dài trở nên một thách thức, dù vấn đề này chỉ chiếm khoảng 20% trong số những khó khăn thường gặp.
Trong And The Mountains Echoed của Khaled Hosseini, hình ảnh so sánh văn hóa như một ngôi nhà với ngôn ngữ là chìa khóa mở cửa từng căn phòng cho thấy mối liên hệ sâu sắc giữa ngôn ngữ và nền văn hóa; tiếng Anh và tiếng Việt phản ánh hai nền văn hóa khác nhau và sự khác biệt này là một phần trong những thách thức của sinh viên biên dịch Như phân tích ở chương 2, người biên dịch phải đối mặt với yếu tố văn hóa đặc thù—những từ ngữ hoặc cụm từ chỉ xuất hiện trong một cộng đồng nhất định—và hệ thống thành ngữ, tục ngữ, điển tích, điển cố của mỗi nước thường không hoàn toàn tương đồng Như đã đề cập ở mục 2.4.3, nếu may mắn, người dịch có thể tìm được các câu thành ngữ mang nghĩa tương đương giữa hai ngôn ngữ; song đôi khi phải chọn cách chuyển ý hoặc sáng tạo câu chữ để bảo toàn sắc thái văn hóa, ví dụ như câu thành ngữ Carry coals to Newcastle để minh họa cho sự bất tương đồng giữa hai nền văn hóa.
Trong tiếng Anh, câu thành ngữ tương đương với tục ngữ Việt Nam "Chở củi về rừng" là "to carry coals to Newcastle" Khi không có câu tương đương trực tiếp trong ngôn ngữ nguồn, người dịch phải diễn giải ý nghĩa thành ngữ đó cho phù hợp với hoàn cảnh Ví dụ câu Việt "Chẳ ng có họ hàng thân thích nào ở Hà Nội nên mọi sự cần giúp đỡ, Tâm đành bán anh em xa, mua láng giềng gần" không có bản tiếng Anh cố định, nên được diễn đạt bằng ý nghĩa trọng tâm: "Having no relatives in Hanoi, Tam depends on people around her whenever she needs help" Trong quá trình dịch, người dịch cần cân nhắc ngữ cảnh và mức độ phổ biến của thành ngữ ở ngôn ngữ đích để bảo toàn tinh thần và ý nghĩa ban đầu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đã xuất hiện những trường hợp tương tự Trong bài viết mang tựa đề Globalization: You Can’t Stop Life (tạm dịch Toàn cầu hóa: Cuộc sống không thể ngừng lại) công bố tháng 7/2001, tác giả Nayan Chanda viết: "The crude slogans and violence of the protesters only lead to their characterization as backward-looking Luddites" Nếu người biên dịch không nắm được nghĩa của từ Luddites thì câu trên sẽ khó dịch đúng sang tiếng Việt Từ này bắt nguồn từ lịch sử Anh với nghĩa ban đầu là thành viên của các nhóm công nhân (1811–1816) phá hủy máy móc nhằm bảo vệ việc làm; về sau Luddites trở thành một thuật ngữ mang nghĩa những người lạc hậu, phản đối công nghệ mới và sự thay đổi công nghệ, và được dùng trong ngữ cảnh toàn cầu hóa Trong trường hợp này, có hai cách xử lý cho người biên dịch: một là dịch nguyên câu và giải thích nghĩa từ Luddites, ví dụ: "Những khẩu hiệu thô ráp và bạo lực của những người biểu tình chỉ khiến họ bị coi là Luddites lạc hậu"; hai là dịch nghĩa và giữ nguyên từ Luddites như một thuật ngữ mang tính điển cố.
‘Luddite’ ban đầu là cách gọi chỉ các công nhân Anh từ 1811–1816 tổ chức phá hoại máy móc sản xuất để cho rằng chúng gây thất nghiệp; sau này từ này được dùng để chỉ những người lạc hậu, phản đối công nghệ và các sự đổi mới về công nghệ Thay vì dùng từ Luddites, nên dùng một khái niệm dễ hiểu cho người Việt: “Những khẩu hiệu thô thiển và sự thô bạo của những người phản đối chỉ khiến họ được mô tả như những kẻ lạc hậu đi ngược lại sự phát triển của công nghệ” Cách này được áp dụng phổ biến khi văn bản yêu cầu bản dịch ngắn gọn, súc tích nhất có thể.
Bàn lu ậ n
Trong phần này, tác giả nêu ra một số nguyên nhân giải thích tại sao sinh viên gặp khó khăn khi học biên phiên dịch Theo quan điểm của tác giả, có một số nguyên nhân chính xuất phát từ nhiều nhân tố khác nhau, trong đó các yếu tố ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, kỹ năng nghe–hiểu, đọc–viết và biên dịch còn thiếu sự cân bằng cũng là những nguyên nhân hàng đầu Thêm vào đó, áp lực thời gian, khối lượng bài tập lớn và sự thiếu hụt thực hành biên dịch với ngữ cảnh chuyên môn đóng vai trò quan trọng Các yếu tố hệ thống như phương pháp giảng dạy, tài liệu tham khảo và sự hỗ trợ từ giảng viên cũng ảnh hưởng đáng kể đến tiến bộ của sinh viên Việc nhận diện và phân tích những nguyên nhân này sẽ giúp cải thiện chương trình đào tạo và nâng cao hiệu quả học tập biên phiên dịch cho sinh viên.
Đầu vào của bài viết nhấn mạnh rằng kỹ năng sử dụng tiếng Việt và tiếng Anh cơ sở của sinh viên chưa tốt, khiến việc học Biên dịch gặp khó khăn; để học tốt môn Biên dịch, sinh viên phải thành thạo từ ngữ và ngữ pháp ở cả tiếng mẹ đẻ lẫn ngoại ngữ, trong khi nhiều bạn không phải người Hà Nội quen với tiếng địa phương nên gặp khó khăn khi dùng tiếng Việt chuẩn và tiếng Việt phổ thông; nguyên nhân tiếng Anh cơ sở yếu rất đa dạng, từ việc bắt đầu học muộn do thiếu cơ sở vật chất ở nhiều nơi, đến việc không được dạy và học tốt tiếng Anh ở bậc phổ thông và kết quả học chưa tốt ba môn TACS ở năm thứ nhất và thứ hai của khoa tiếng Anh; tất cả những yếu tố này khiến việc dịch văn bản từ tiếng Anh cơ sở sang tiếng Việt và ngược lại trở thành thách thức lớn đối với sinh viên hai lớp TA39A và TA39B, ngay cả khi chưa nói đến tiếng Anh chuyên ngành QTQT.
Thứ hai, sự cản trở của tiếng Việt đối với tiếng Anh là một phần của nguyên nhân đầu tiên Do tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ nên nhiều bạn quen tư duy bằng một ngôn ngữ duy nhất và khó tư duy linh hoạt bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh — một kỹ năng thiết yếu của người làm biên dịch Điều này càng dễ gặp phải khi sinh viên không được làm quen với tiếng Anh từ sớm hoặc không được dạy và học đúng cách ở bậc phổ thông, dẫn đến tiếp thu tiếng Anh một cách thụ động và không phát huy được khả năng tư duy bằng tiếng Anh.
Một phần ba sinh viên bị hổng kiến thức do học chưa tốt các môn tiền đề hoặc học song song với môn Biên dịch Trong chương trình đào tạo của Khoa Tiếng Anh tại Học viện Ngoại giao có rất nhiều bộ môn cung cấp kiến thức bổ trợ cho môn Biên dịch, như Tiếng Việt thực hành (cung cấp kiến thức sử dụng tiếng Việt chuẩn), Đất nước học Anh-Mỹ, Văn học Anh-Mỹ (cung cấp kiến thức về văn hóa Anh-Mỹ), TACN I, II, III và IV (dạy tiếng Anh chuyên ngành Quan hệ Quốc tế).
Lý thuyết dịch cung cấp nền tảng kiến thức về lý thuyết và các kỹ năng dịch thuật thiết yếu, làm nền tảng cho quá trình biên dịch và ứng dụng thực tế Ngoài ra, một số môn đại cương của Học viện như Lịch sử ngoại giao Việt Nam và Chính sách đối ngoại Việt Nam I, II cũng cung cấp lượng kiến thức phong phú về quan hệ quốc tế và đối ngoại Việt Nam Việc nắm vững kiến thức từ các môn này không phải lúc nào cũng ảnh hưởng lớn đến việc học môn Biên dịch của sinh viên, đặc biệt khi hệ thống 4 môn TACN cung cấp các kiến thức liên quan mật thiết đến bộ môn Biên dịch.
Thái độ học tập của sinh viên đối với bộ môn Biên dịch bị chi phối bởi các yếu tố tâm lý và ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả học tập của môn học này; quan sát cho thấy tới 95% sinh viên được khảo sát cho rằng Biên dịch là môn học nhàm chán và thể hiện thái độ bất hợp tác với giảng viên cả trong và ngoài giờ lên lớp, thông qua việc lơ đãng nghe giảng, thiếu tích cực chuẩn bị bài và không làm bài tập về nhà Nguyên nhân một phần đến từ đặc thù môn học mang tính học thuật và chuyên môn cao, khiến giảng viên gặp khó khăn trong việc tìm ra phương pháp giảng dạy hấp dẫn với sinh viên Bên cạnh đó, tâm lý mong muốn kết quả dịch có vẻ quen mắt, nghe quen tai khiến nhiều sinh viên khi dịch thường điều chỉnh ngữ nghĩa của câu gốc để phù hợp với cách hành văn trong ngôn ngữ đích, đặc biệt là ở bài dịch Anh-Việt; hiện tượng này làm bản dịch có sự lưu loát nhưng có thể vi phạm nguyên tắc trung thành với bản gốc.
KHUY Ế N NGH Ị
Tích c ự c trong h ọ c t ậ p
Giải pháp đầu tiên để khắc phục khó khăn là nâng cao ý thức chủ động của sinh viên Để học tốt môn Biên dịch, sinh viên cần có thái độ học tập tích cực và hợp tác chặt chẽ với giảng viên Trên lớp, sinh viên nên chăm chú nghe giảng, tham gia đóng góp ý kiến, hoàn thành đầy đủ bài tập và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học Khi gặp bất cứ khúc mắc nào, sinh viên hãy chủ động trao đổi với giảng viên để được hướng giải quyết nhanh chóng, tránh để khó khăn kéo dài làm ảnh hưởng đến tiến độ học tập ở các học kỳ tiếp theo.
T ăng cườ ng ti ế p xúc v ớ i ngôn ng ữ chuyên ngành QHQT
Biên dịch là một lĩnh vực đòi hỏi nắm vững kiến thức về đối ngoại và quan hệ quốc tế, vì vậy việc nâng cao hiểu biết cùng rèn luyện ngôn ngữ và văn phong ngoại giao là chìa khóa giúp sinh viên học tốt môn này Ngoài giờ lên lớp, sinh viên nên tích cực đọc và tìm hiểu các tài liệu, bài viết về chủ đề đối ngoại Việt Nam và quan hệ quốc tế bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt để mở rộng vốn từ và cập nhật thông tin Bên cạnh đó, việc thường xuyên xem và nghe bản tin thời sự trên các kênh truyền hình Việt Nam (VTV4) cũng như các trang tin tiếng Anh như BBC, CNN, VOA, và các nguồn tin nước ngoài khác, cùng với trang web của Bộ Ngoại giao Việt Nam, là những phương pháp hữu ích giúp nắm vững kiến thức về chính trị, ngoại giao, văn hóa và quan hệ quốc tế; từ đó sinh viên có thêm tiếp xúc với ngôn ngữ chuyên ngành và văn phong chuyên môn, dễ dàng áp dụng vào việc học Biên dịch.
Xây d ự ng bí quy ế t h ọ c t ừ chuyên ngành
Trong lĩnh vực từ vựng chuyên ngành Quan hệ quốc tế (QHQT), mỗi sinh viên cần xây dựng một bí quyết ghi nhớ riêng phù hợp với khả năng của bản thân để có thể ghi nhớ hiệu quả các từ, cụm từ và cấu trúc ngữ pháp chuyên ngành Bài viết này giới thiệu hai phương pháp tham khảo giúp sinh viên nâng cao vốn từ và vận dụng ngôn ngữ chuyên ngành một cách tự tin Phương pháp thứ nhất tập trung vào hệ thống hóa từ vựng theo chủ đề và kỹ thuật ghi nhớ trực quan, còn phương pháp thứ hai chú trọng luyện tập ngữ cảnh và liên kết từ để hình thành bộ nhớ dài hạn Hai phương pháp này mang lại khung học tập linh hoạt, phù hợp với nhiều trình độ, và tối ưu hóa khả năng đọc, viết và giao tiếp bằng tiếng Quan hệ quốc tế.
Cách thứ nhất là làm một quyển sổ tay, trong đó chuyên ghi các từ, cụm từ chuyên ngành
QHQT mà sinh viên học được sau mỗi giờ lên lớp hoặc sau khi nghe và xem một bản tin là tập hợp các kiến thức và kỹ năng ngôn ngữ có thể áp dụng ngay, trong đó các cấu trúc câu và phép diễn đạt hữu ích đáng được ghi nhớ và ôn luyện Sinh viên nên ghi lại những điểm quan trọng này vào quyển sổ tay của mình để dễ tra cứu và vận dụng trong giao tiếp hàng ngày Việc mang sổ tay bên cạnh và tranh thủ ôn lại từ vựng, mẫu câu trong giờ giải lao hoặc khi rảnh rỗi sẽ giúp củng cố kiến thức, tăng tự tin khi nói và viết bằng ngôn ngữ mục tiêu.
Phương pháp thứ hai là sử dụng thẻ nhớ (flashcards): viết từ hoặc cụm từ chuyên ngành tiếng Anh ở một mặt và từ tiếng Việt tương ứng ở mặt kia Với cách làm này, sinh viên có thể tự học hoặc kiểm tra lẫn nhau bằng cách đưa ra mặt tiếng Anh và đoán nghĩa, giúp củng cố từ vựng và khả năng ghi nhớ những thuật ngữ chuyên ngành.
Phương pháp đoán từ tương đương giữa tiếng Việt và ngôn ngữ khác (và ngược lại) mang lại một cách thức luyện tư duy linh hoạt ở hai ngôn ngữ cho sinh viên Điều này giúp nâng cao khả năng liên kết ý tưởng và ghi nhớ từ vựng trong bối cảnh song ngữ Tuy vậy, nhược điểm của phương pháp đến từ kích thước thẻ từ nhỏ nên nó chỉ phù hợp với việc học từ và cụm từ ngắn, không phù hợp với từ vựng dài hoặc câu phức tạp.
Ở Học viện Ngoại giao, sinh viên khoa tiếng Anh sẽ bắt đầu học Biên dịch từ học kỳ 5 (học kỳ I năm thứ 3), vì vậy các bạn nên chú ý tích cực học tập ngay từ năm đầu để nắm vững nền tảng và chuẩn bị cho chương trình biên dịch ở mức độ nâng cao Việc ôn luyện từ sớm giúp tích lũy từ vựng chuyên ngành, củng cố kỹ năng ngữ pháp và tăng tự tin khi bước vào giai đoạn học tập chuyên sâu về biên dịch.
Đặc biệt với các môn nền tảng hoặc bổ trợ cho Biên dịch như Tiếng Anh cơ sở, Tiếng Việt thực hành, Đất nước học Anh-Mỹ và Văn học Anh-Mỹ, các thầy cô giáo và nhà nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường giảng dạy kiến thức về văn hóa, điển tích và điển cố trong văn hóa Anh vào các bài giảng môn Biên dịch và TACN, bởi thành ngữ và điển tích này không chỉ được người bản ngữ sử dụng mà còn xuất hiện trong các bài viết của nhà báo, nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia khác khi họ viết bằng tiếng Anh.
Ngôn ngữ Anh có mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa Anh-Mỹ, vì vậy các hoạt động tìm hiểu và trao đổi kiến thức về văn hóa hai nước nên được tổ chức thường xuyên Để thúc đẩy sự tham gia của sinh viên, thầy cô có thể đưa những hoạt động này vào chương trình giảng dạy bắt buộc, ví dụ sinh viên phải tham gia để được tính điểm cho một thành phần môn học.
KẾ T LU Ậ N
Có thể nói, đối với sinh viên khoa tiếng Anh tại Học viện Ngoại giao, hệ thống 3 cấp độ của môn Biên dịch là một môn học vô cùng quan trọng, vừa cung cấp cho sinh viên một lượng lớn kiến thức về Quan hệ quốc tế nói chung và đối ngoại Việt Nam nói riêng, vừa trang bị cho sinh viên khả năng tư duy linh động và truyền đạt ý nghĩa thuần thục giữa hai ngôn ngữ Anh-Việt Tuy nhiên có thực trạng là không ít sinh viên gặp khó khăn với môn học này Nhận thức được điều đó, người viết tiến hành nghiên cứu với mong muốn làm rõ những khó khăn đang ảnh hưởng đến việc học Biên dịch của sinh viên, chúng xuất phát từ những nguyên nhân nào và có thể dùng giải pháp nào để giúp sinh viên học tốt hơn.
Qua quá trình nghiên cứu, người viết xác định 4 loại khó khăn chính liên quan đến từ chuyên ngành QHQT, khác biệt cấu trúc ngôn ngữ, câu quá dài và yếu tố văn hóa, và giải thích chúng ở chương 4 Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra các khó khăn này, tác giả tổng hợp thành 4 nguyên nhân chính: sự giao thoa giữa tiếng Anh và tiếng Việt, khác biệt ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ, độ phức tạp của cú pháp câu và ảnh hưởng của yếu tố văn hóa trong diễn đạt.
Khả năng biên dịch của sinh viên còn chưa thành thạo, tư duy tiếng Việt gặp nhiều rào cản và thiếu hụt kiến thức ở các môn học liên quan đến biên dịch Thái độ học tập của từng sinh viên đối với môn Biên dịch đóng vai trò then chốt trong hiệu quả đào tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Biên dịch là một lĩnh vực học thuật và chuyên ngành cao, nên việc tìm giải pháp học tập hoặc giảng dạy giúp sinh viên có hứng thú hơn là vấn đề nan giải Do hạn chế về thời gian và công cụ nghiên cứu, các giải pháp được đề xuất tập trung vào tăng cường tiếp xúc với ngôn ngữ QHQT thông qua đọc tài liệu, nghe và xem bản tin thời sự quốc tế, và dùng sổ tay hoặc thẻ nhớ để học từ vựng chuyên ngành Bên cạnh đó, mỗi sinh viên cần có ý thức và thái độ học tập tích cực với bộ môn, sẵn sàng hợp tác với giảng viên để học tốt Biên dịch.
Đây là bài nghiên cứu đầu tiên của người viết nên còn nhiều hạn chế về thời gian, trình độ, công cụ và tài liệu nghiên cứu, vì vậy bài nghiên cứu có thể còn sai xót; rất mong nhận được ý kiến nhận xét, góp ý từ quý Thầy Cô và các bạn để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn Là sinh viên năm cuối khoa Tiếng Anh, Học viện Ngoại giao, tôi hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các sinh viên đang và sẽ học bộ môn Biên dịch vượt qua khó khăn và đạt được kết quả tốt nhất.
Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2016 Phó Thủ tướng: Hoạt động ngoại giao hỗ trợ hội nhập kinh tế
Truy cập ngày 9 tháng 1, 2016, từ http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns160104101923/view ;
Báo Tin Tức, 2013 Truyền thông mới đòi hỏi nhà báo trẻ bản lĩnh Truy cập ngày 11 tháng 1,
2016, từ http://baotintuc.vn/bao-giay/truyen-thong-moi-doi-hoi-nha-bao-tre-ban-linh- 20130620100822112.htm ;
Học 360 & Zing TV, 2015 (Nhà sản xuất) (tháng 5, 2015) Biên Dịch Tiếng Anh Cơ Bản - Học
Tiếng Anh Online [Bài giảng online] Truy cập ngày 10 tháng 1, 2016, từ https://www.youtube.com/playlist?list=PLdM2hMdvZmjYbzFaBQlxKBIx_V0i05Fl7 ;
Trung tâm Đào tạo từ xa – Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội cung cấp tài liệu "Hướng dẫn học dịch viết" nhằm hỗ trợ người học nâng cao kỹ năng dịch và viết bài Tài liệu này được truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016 từ đường dẫn http://web.hanu.vn/dec/mod/forum/discuss.php?dG0.
Vũ Cao Đàm, 2010 Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục
Clancy, C, Iwamura, K, Yoon, Y et al., 2011 The least that East Asians can do to cooperate
Retrieved January 9, 2016, from http://www.japantimes.co.jp/opinion/2011/05/05/commentary/world-commentary/the-least-that- east-asians-can-do-to-cooperate/#.VpQU7ZDBp_u ;
Chanda, N, 2001 Globalization: You Can't Stop Life Retrieved January 8, 2016, from http://yaleglobal.yale.edu/content/globalization-you-cant-stop-life ;
Dictionary.com, n.d Luddite: Define Luddite at dictionary.com Retrieved January 6, 2016, from http://dictionary.reference.com/browse/luddite ;
English Grammar Online, n.d Table of English Tenses Retrieved January 10, 2016, from
Hartmann, R.R.K & F.C Stork 1972 Dictionary of language and linguistics London: Applied
Translation is the replacement of a representation of a text in one language by a representation of an equivalent text in a second language In doing so, the translator aims to convey the original meaning, style, and nuance while adapting to the target language’s norms and cultural context The goal is fidelity to the source text and fluency in the translated text, so the reader experiences the same information and impact in the new language.
Nunan, D, 1992 Research Methods in Language Learning Cambridgeshire: Cambridge University Press;
Oxford Dictionaries, n.d Rogue state - definition of rogue state in English from the Oxford dictionary Retrieved January 9, 2016, from http://www.oxforddictionaries.com/definition/english/rogue-state ;
Pửchhacker, F, 2004 Introducing Intepreting Studies London: Routledge Retrieved January 10,
2016, from https://books.google.com.vn/books?id=ZzSQ-
Under reduced time pressure, the source language text can be reviewed and produced more efficiently, speeding up the translation workflow With more time, editors can thoroughly verify terminology, syntax, and consistency to ensure the original meaning is preserved in the translated content This balance between speed and accuracy enables faster delivery of polished, reliable material for multilingual audiences without sacrificing quality.
BdkoHdjJs&hl=en&sa=X&redir_esc=y#v=onepage&q=the%20source%20language%20text%20 can%20be%20reviewed%20or%20replayed%20produced%20under%20less%20time%20pressur e&fse ;
Wisegeek, n.d What Is Meant by "Carrying Coals to Newcastle?” Retrieved January 7, 2016, from http://www.wisegeek.com/what-is-meant-by-carrying-coals-to-newcastle.htm ;
Woollacott, M, 2000 Neither peace nor war, just endless suffering Retrieved January 8, 2016, from http://www.theguardian.com/world/2000/oct/13/comment.israelandthepalestinians ;
Vocabulary.com, n.d 250 words from the domain of diplomacy Retrieved January 7, 2016, from https://www.vocabulary.com/lists/183677#view=notes
Bảng điều tra dành cho sinh viên 2 lớp TA39A và TA39B : Khó khăn thường thấy khi học môn Biên dịch
1 Bạn tựđánh giá khảnăng học Biên dịch của mình thế nào?
2 Điểm trung bình 3 môn Biên dịch của bạn là bao nhiêu?
3 Bạn cảm thấy dịch xuôi (Anh-Việt) hay dịch ngược (Việt-Anh) khó hơn?
4 Trong quá trình học, bạn thấy điều gì là khó khăn lớn nhất? *
Từ ngữ, ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt không tương xứng
5 Bạn đã làm gì để cải thiện kết quả môn Biên dịch? * Đọc nhiều tài liệu chuyên ngành
Sổ tay ghi từ mới, cấu trúc mới
Sơ đồ tư duy Đọc sách, xem chương trình văn hóa tăng kiến thức
Bạn hãy cho biết bạn đã học các môn này ở học kỳ nào, ghi số kỳ theo đúng thứ tự các môn Đối với môn Tiếng Anh chuyên ngành có 4 cấp độ, hãy ghi học kỳ bắt đầu của cấp độ tương ứng.
Tiếng Việt thực hành, Đất nước học Anh-Mỹ, Văn học Anh-Mỹ, Tiếng Anh chuyên ngành
7 Dịch câu sau từ tiếng Anh sang tiếng Việt:
As China continues its unremitting rise, people throughout East Asia are wondering whether their states will ever be able to achieve the peaceful, stable relations that now characterize Europe