1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) THẢO LUẬN môn cơ sở văn hóaviệt nam đề tài vùng văn hóa trung bộ

31 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vùng Văn Hóa Trung Bộ
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Cơ sở văn hóa Việt Nam
Thể loại bài thảo luận
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Một số từ đặc phương ngữ của phương ngữ Trung như: mè xửng, cu đơ, nhút, hói, rú, thanh trà, lịp, hát dặm, áo tơi,… -Có thể giải thích hiện tượng này do các nguyên nhân sau: + Về phươn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÀI THẢO LUẬN

Đề tài: Vùng văn hóa Trung Bộ

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ở nước ta, có khá nhiều vùng văn hóa, và mỗi vùng đều có những nét văn hóađặc sắc riêng biệt Đến với vùng văn hóa Trung Bộ, nhóm chúng em xin được đưa ranhững đặc điểm văn hóa của vùng mà bọn em đã tìm hiểu và tổng hợp được

Nội dung cụ thể của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: PHÂN TÍCH VỀ NGÔN NGỮ VÀ LỄ HỘI CỦA VÙNG TRUNG BỘ Chương 2: PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ẨM THỰC CỦA VÙNG

TRONG BỘ ĐỂ PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH KINH DOANH

Chương 3: MỘT SỐ PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA VÙNG TRUNG BỘ

ĐANG BỊ MAI MỘT LẤY VÍ DỤ

Tuy nhiên, do kiến thức tích luỹ còn chưa nhiều và chưa có nhiều kinh nghiệmnên không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý đối với đề tài này Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

CH ƯƠNG 1: PHÂN TÍCH VỀ NGÔN NGỮ VÀ LỄ HỘI CỦA VÙNG

TRUNG BỘ

1 Đặc trưng về ngữ âm

-Phương ngữ Trung có âm sắc nặng nề, khó nghe

-Nếu đặc điểm âm sắc của phương ngữ Bắc đó là nhẹ nhàng, ngọt ngào thì đặcđiểm âm sắc của phương ngữ Trung là nặng, khô khan thể hiện trong các đặc điểm của thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, vần – nguyên

1.1 Thanh điệu

- Phương ngữ Trung có 5 thanh điệu Ở mỗi vùng thuộc phương ngữ Trung lại

có những đặc điểm về thanh điệu khác nhau Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự phânvùng phương ngữ Trung

(1) Thanh ngang là thanh duy nhất ở âm vực cao

(2) Thanh “ \ “là thanh có âm vực cao thứ 2 sau thanh “ _ ” nhưng nó vẫn là thanh trầm vì nằm dưới độ cao trung bình của lời nói Như thế có nghĩa là trừ thanh “ _ ”những thanh còn lại đều là thanh trầm Đặc điểm này tạo ra dáng vẻ riêng

Hệ thống thanh điệu phương ngữ Trung – hệ thống thanh điệu trầm

(3) Thanh “ / ” là một thanh điệu ở âm vực thấp Khởi đầu thấp hơn mọi thanh khác Âm điệu đi xuống từ từ đến 1/3 thanh điệu thì uốn lên và kết thúc ở độ cao của thanh “ _ “, gần giống thanh “ ? “

-Thanh “ ~ “ có âm điệu không bằng phẳng, diễn biến phức tạp, khi lên khi

xuống (bắt đầu thấp, kết thúc cao) tạo nên sự uyển chuyển khi phát âm Việc

Trang 4

(4)Thanh ” ? “ có âm điệu đi xuống thoai thoải như thanh “ \ “, không có đoạn cuối đi lên như thanh “ ? “ Đường âm điệu chạy song song với những âm điệuthanh “ \ “, có âm vực thấp hơn thanh “ \ “ và có hiện tượng thanh quản hóa mạnh Có cao độ xuất phát thấp, cao độ kết thúc bằng với cao độ xuất phát Thanh “ ? “ là thanh có âm sắc nặng nhất trong 6 thanh

(5) Thanh “ “ có khởi điểm thấp hơn thanh “ \ “, có âm điệu và âm vực không khác mấy với thanh “ ? “ và “ \ “, cao độ xuất phát thấp, cao độ kết thúc thấp

Làm cho âm điệu chúc xuống ở đoạn cuối Thanh “ “ là thanh có âm điệukhông gãy Đây là nguyên nhân làm cho âm sắc của phương ngữ Trung nặng,khô khan

I.2 Phụ âm đầu

- Với 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi s, r, tr Như vậy phương ngữ Trung có thêm 3 âm quặt lưỡi Phương ngữ Trung thiếu phụ âm rung r Âm

r ở đây phát âm không rung lưỡi, lưỡi chỉ vỗ vào lợi và thông thường lưỡi chưa chạm đến lợi nên chỉ tạo ra một phụ âm xát uốn lưỡi

- Số từ có những vần này khá lớn nên không thể gọi là từ cặn được mà phần lớn thuộc lớp từ cơ bản

Trang 5

2 Đặc trưng về từ vựng – ngữ nghĩa - Đặc điểm:

+ Mang tính chất của phương ngữ chuyển tiếp, lớp từ đặc phương ngữ khá

phong phú

+ Mang nhiều yếu tố cổ và có hệ thống từ đồng âm, từ đồng nghĩa phong

phú

2.1 Từ vựng phương ngữ Trung còn mang tính chất của phương ngữ chuyển tiếp

-Đây là đặc trưng nổi bậc nhất của phương ngữ Trung

Nguyên nhân :

- Về mặt địa lí: Đất nước ta kéo dài hình chữ S, miền Trung được xem như là

“khúc ruột” của cả nước, là cầu nối nối tiếp giữa miền Bắc và miền Nam =>ngôn ngữ

của miền Trung chịu sự ảnh hưởng của cả miền Bắc và miền Nam Do vậy, phương ngữ

Trung mang tính chất của phương ngữ chuyển tiếp

- Về lịch sử hình thành và phát triển: Chính sự tương tác qua lại trong quá trình

giao tiếp mà ngôn ngữ của người miền Trung bị ảnh hưởng bởi miền Bắc

- Một số từ vựng của phương ngữ Trung được dùng giống như trong phương

ngữ Nam, điều này dẫn đến có sự đối ứng giữa phương ngữ Bắc với phương ngữ Trung

Trang 6

2.2 Lớp từ đặc phương ngữ khá phong phú:

- Có sự khác biệt giữa lớp từ “đặc phương ngữ” ở 3 vùng:

+ Ở phương ngữ Bắc, lớp từ đặc phương ngữ ít, số lượng từ khá khiêm tốn.+ Phương ngữ Nam, lớp từ này rất phong phú

+ Còn phương ngữ Trung, lớp từ này khá phong phú, đa dạng

- Một số từ đặc phương ngữ của phương ngữ Trung như: mè xửng, cu đơ, nhút, hói, rú, thanh trà, lịp, hát dặm, áo tơi,…

-Có thể giải thích hiện tượng này do các nguyên nhân sau:

+ Về phương diện lịch sử hình thành và phát triển của tiếng Việt: phương ngữTrung hình thành muộn hơn phương ngữ Bắc, không có mối quan hệ mật thiết với ngônngữ toàn dân như phương ngữ Bắc

+ Về điều kiện kinh tế: khá đặc thù chủ yếu là nông nghiệp và các mặt hàng thủ công nghiệp, nó có nét đặc thù riêng về lao động sản xuất với những ngành nghề mang tính đặc trưng của người dân miền Trung

+ Về điều kiện văn hóa: có nền văn hóa khá lâu đời, có đời sống sinh hoạt tinh thần khá phong phú, đặc biệt là âm nhạc và ẩm thực

- Ngoài ra đây là vùng đất tập trung nhiều thiên tai nhất, trong thời gian đối mặt

và sống chung với thiên tai thì cũng xuất hiện nhiều từ ngữ mà chỉ có nơi đây mới có như áo tơi, lịp, lụt lội…

2.3 Phương ngữ Trung còn mang nhiều yếu tố cổ:

Đây là một đặc trưng quan trọng, góp phần vào quá trình nghiên cứu ngữ âmlịch sử tiếng Việt Ở phương ngữ Trung, ta bắt gặp nhiều hình thức cổ hơn

Trang 7

phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam Có thể xem các từ căn còn sót lại đây làbằng chứng của những quá trình biến đổi ngữ âm đã xảy ra.

• Ở phương ngữ Trung “b” và “đ” chưa bị xát hóa

• Ở phương ngữ Trung, “ ph-th-kh-ch-k” chưa bị xát hóa và hữu thanh hóa: ăn phúng, chi, bây chừ, cỏ cú…

• Giữ nguyên thanh điệu ( không bị hạ thấp như phương ngữ Bắc)

- Phương ngữ Trung giữ nguyên âm đơn, không biến đổi sang nguyên âm đôi

- Phương ngữ Trung còn nhiều dấu vết của các tổ hợp phị âm đầu: bl,tm Ví dụnhư ruồi lằng/nhặng, hoa lài/hoa nhài

- Phương ngữ Trung giữ nguyên âm đơn song không biến đổi sang nguyên âm đơn Ví dụ như phương ngữ Bắc: méng, mạn, lái, ló, lòn…

- Phương ngữ Trung còn nhiều từ cặn với nhiều phụ âm cuối –n

-Phương ngữ Trung còn có nhiều từ cặn với –n

2.4 Phương ngữ Trung có hệ thống từ đồng âm và từ đồng nghĩa phong phú

2.4.1 Hệ thống từ đồng âm

-Từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa Trong phương ngữ, đây là lớp từ đồng âm với từ toàn dân cho nên sự khác về nghĩa giữa chúng là đương nhiên Phần lớn các tù địa phương đồng

âm với từ toàn dân là do giống nhau ngẫu nhiên về âm

Ví dụ: “răng” trong phương ngữ Trung là đại từ nghi vấn có nghĩa như “sao” còn “răng” trong trong ngôn ngữ toàn dân là danh từ có nghĩa chỉ “phần xươngcứng màu trắng, mọc trên hàm, dùng để cắn, giữ , nhai thức ăn”

Trang 8

- Ngữ pháp tương đối thống nhất với hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ toàn dân.

- Bên cạnh đó vẫn có một số nét khác biệt về mặt ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ còn lại

- Ngữ pháp của phương ngữ Trung có sự thống nhất nhưng lại không đồng nhất với ngôn ngữ toàn dân:

+ Hệ thống đại từ chỉ trỏ, nghi vấn đối ứng với hệ thống từ toàn dân

+ Hệ thống đại từ xưng hô khá phong phú và đối ứng với ngôn ngữ toàn dân.+ Từ phái sinh đa dạng

+ Không có hiện tượng đại từ hóa danh từ

+ Ngữ khí từ của phương ngữ Trung có phần nặng nề, khô khan

3.2.Nguyên nhân

3.2.1 Hệ thống đại từ chỉ trỏ, nghi vấn đối ứng với hệ thống từ toàn dân:

Trang 9

- Hệ thống đại từ chỉ trỏ, nghi vấn đối ứng với hệ thống từ toàn dân: tức là mỗi

từ chỉ trỏ, nghi vấn ở từ toàn dân thì phương ngữ Trung đều có một từ khác tương ứng

(Mường Mán, Đồng Khánh ngày xưa)

3.2.2.Ngữ khí từ của phương ngữ Trung có phần nặng nề, khô khan:

-Ngữ khí từ phụ họa với ngữ điệu tạo ra sắc thái từ địa phương rõ nét Cũng nói

với cấu trúc ngữ pháp và từ vựng, chỉ cần thay đổi ngữ khí và giọng điệu là có

thể nhận ra vùng phương ngữ Ngữ khí từ của phương ngữ Trung có phần nặng

nề, khô khan

Giải thích nguyên nhân:

• Điều này được lí giải từ cách sống cũng như từ văn hóa ứng xử của mỗi vùng

+ Người miền Trung có cách sống thoải mái, họ sống gần gũi với nhau nên ít có

sự câu nệ, không thích kiểu cách mà thích sự chân thật trong tình cảm nên ít

Trang 10

quan tâm đến hình thức bên ngoài Đồng thời người miền Trung chủ yếu là nôngdân, họ gặp nhau nói chuyện với nhau trong lúc làm việc đồng áng nên kiểu cách lịch sự không phù hợp mà họ thích kiểu nói chuyện suồng sả một chút, nói chuyện gì cũng được, miễn là quên đi nỗi mệt nhọc của công việc.

+ Bên cạnh đó, phương ngữ Trung không phải là cơ sở để xây dựng hệ thống từ toàn dân nên nó ít được chuẩn hóa và không thống nhất với từ toàn dân

-Ngôn ngữ gắn liền với văn hóa, phương ngữ cũng vậy Việc tìm hiểu, nắm vững đặc trưng của phương ngữ Trung phần nào giúp ta hiểu rõ hơn nét văn hóa,con người của vùng Đồng thời, giúp ta phân biệt phương ngữ Trung với hai phương ngữ còn lại, thấy được sự phong phú, đa dạng, giàu đẹp của tiếng Việt trên đất Việt ta

- Phương ngữ Trung có một vai trò hết sức quan trọng Nó thường được vậndụng trong ngôn ngữ văn học để tăng thêm tính cụ thể cho nhân vật, sắc thái biểu đạt củatình cảm Và cũng chỉ trong ngữ cảnh ấy, tư địa phương mơi có thể hiểu được đối vớimọi người

-Đã có rất nhiều nhà văn đã vận dụng thành công phương ngữ vào trong

những tác phẩm của mình và đặc biệt là nhà thơ Tố Hữu

Ví dụ:

“Em đi với chiếc thuyền khôngKhi mô vô bến rời dòng dâm ôTrời ôi em biết khi mô

Thân em hết nhục dày vò năm canh"

(Tiếng hát sông Hương)

Trang 11

II Lễ hội vùng Trung Bộ

1 Khái niệm

Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người vớithần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc

sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa,tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống

Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh Các lễ hội cổ truyền phản ảnhhiện tượng đó Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội

đê phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóa những thứtrần tục Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảmbớt và chỉ còn mang nặng tính văn hóa

2 Đặc trưng lễ hội miền Trung

Những lễ hội độc đáo, nổi bật ở miền Trung thường diễn ra vào dịp đầu năm mới, kéo dài từ ngày 4 tháng Giêng đến 17 tháng Giêng, mang đậm bản sắc dântộc với nhiều hoạt động đặc sắc, Những lễ hội này thường tập trung chủ yếu ở các tỉnh như: Huế, Bình Định, Nghệ An… Chẳng hạn như:

Lễ hội cầu Ngư

Đây là lễ hội vô cùng quan trọng của nhân dân làng Thái Dương Hạ, thị trấn Thuận

An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Lễ hội cầu Ngư được tổ chức vào ngày

12 tháng Giêng Âm lịch hằng năm, nhằm tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quý Công Ông là người có công dạy cho dân nghèo đánh bắt cá và buôn bán ghe mành Không thường niên như các lễ hội khác, lễ hội cầu

Trang 12

Ngư diễn ra ba năm một lần và được tổ chức đại lễ rất linh đình, khắc họa đậm nét nghi lễ dân gian của các cư dân vùng ven biển.

Lễ hội dinh thầy thím

3 Quy trình của lễ hội

Thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo ba bước sau:Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn chuẩn bị chomùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được

Trang 13

tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phâncông, cắt cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau Khi ngày hội sắp diễn ra, côngviệc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễtắm tượng (mộc dục) cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ cho thần

Vào hội: nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi thức tế

lễ, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ý nghĩa nhất của một lễ hội Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay ít khách đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trong những ngày này

Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, giã hội): Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa ditích

4 Một số đặc điểm của lễ hội

4 1 Tính thiêng

Lễ hội, bao giờ cũng mang tính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ

Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi

đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đó bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân

Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có thểphù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm

Trang 14

nghề, sản xuất, đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn đadạng hơn, phức tạp hơn của đời sống.

Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong nhữngthời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.4.2 Tính "cộng đồng"

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyệncủa một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởi thếmới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước

4.3 Tính địa phương

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế lễ hội

ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính là điềuchứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầutinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn

ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng

4.4 Tính cung đình

Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang

phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát nguyện vọng của người dân

Trang 15

4.5 Tính đương đại Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những tròchơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễhội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới.

Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện

5 Mục đích

Để giao tiếp với thần linh sông núi các vị thần tổ nghề anh linh các vị anh hùng dân tộc mời tổ tiên các dòng họ về dự hội với làng Dần tiếp thu những yếu tố đương đại Với sự phát triển kinh tế xã hội ngày nay, với nhu cầu văn hóa, du lịch ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân, bên cạnh việc bảo tồn nguyên gốc những lễ hội truyền thống kinh điển thì việc phát triển những lễ hội truyền thống có tiềm năng là một mô hình bảo tồn tích cực để mang lại lợi ích cho các cộng đồng.Các lễ hội miền Trung đã làm được điều đó,các yếu tố đương đại đã được người dân miền Trung kết hợp vào việc tổ chức lễ hội ,bên cạnh việc manglại lợi ích về mặt tinh thần ,bảo tồn truyền thống nét đẹp văn hóa dân gian nó còn mang lại lợi ích kinh tế cho khúc ruột miền Trung Tiếp thu nhưng yếu tố đương đại nhưng vẫn không làm mất đi các nét đẹp truyền thống ,bảo tồn được nguyên gốc lễ hội truyền thống

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ẨM THỰC CỦA VÙNG TRONG BỘ ĐỂ PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH KINH DOANH

Phân tích điều kiện tự nhiên vùng Trung Bộ để phục vụ mục đích kinh doanh

Ngày đăng: 13/12/2022, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w