Con người được đặt ở vị trí trung tâm nên việc phát triển thị trường hàng hóa sức lao động sao cho hợp lý là một nhu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.. Người thợ thủ c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI:
LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VẬN DỤNG ĐƯA RA GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
LIÊN HỆ BẢN THÂN.
NHÓM: 2
MLHP: 2236RLCP1211
GVGD: Cô Hoàng Thị Vân
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2022
PHẦN I MỤC LỤC PHẦN 1: MỤC LỤC
Trang 2PHẦN 2: GIỚI THIỆU THÀNH VIÊN
PHẦN 3: NỘI DUNG
3.1 Mở đầu
3.2.Lý luận hàng hóa sức lao động
3.2.1.Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
3.2.1.1 Sức lao động
3.2.1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 3.2.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
3.2.2.1 Giá trị hàng hóa sức lao động
3.3.Vận dụng đưa ra giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam
3.3.1.Lí luận về hàng hóa sức lao động của C Mác với thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
3.3.1.1.Khái niệm thị trường lao động
3.3.1.2.Thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
3.3.2.Vận dụng đưa giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam
3.4 Liên hệ bản thân
3.4.1.Liên hệ bản thân
3.4.2 Liên hệ mở rộng
3.5 Kết luận
PHẦN II GIỚI THIỆU THÀNH VIÊN
Trang 31 Tạ Minh Đức - trưởng nhóm
2 Nguyễn Thị Phương Dung
3 Phạm Thị Ánh Dương
4 Lý Thị Kim Duyên
5 Nguyễn Hương Giang
6 Nguyễn Thị Hằng
7 Vũ Thị Minh Hạnh
8 Lê Hạnh Hoa
9 Nguyễn Thị Minh Hòa
Trang 4PHẦN III NỘI DUNG
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, Việt Nam dần hội nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế tri thức trở thành xu hướng phát triển chung của cả thế giới Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Con người được đặt ở vị trí trung tâm nên việc phát triển thị trường hàng hóa sức lao động sao cho hợp lý là một nhu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Lý luận về loại hàng hóa đặc biệt – sức lao động theo chủ nghĩa Mác đã cung cấp thêm nhiều luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cở sở đó, tạo lý luận tiền đề vững chắc cho việc lý giải
và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trường của loại hàng hóa đặc biệt này và các vần đề liên quan tới nó
3.2 LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (T-H) Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường
3.2.1 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
3.2.1.1 Sức lao động
Theo C Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất, Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Thực tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động của con người nô lệ không phải là hàng hóa, vì bản thân người nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải là hàng hóa, vì anh ta có
Trang 5tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống
3.2.1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:
-Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
-Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản Tuy nhiên, để biến tiền thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ nhất định
Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa tư bản
3.2.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng
có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
3.2.2.1 Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất
ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc,ở, học nghề, v.v
Ngoài ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình
và con cái anh ta nữa Chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất ramột cách liên tục
Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt ấy; hay nói cách khác, giá trị hàng hóa sức lao
Trang 6động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết
để nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta
Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa… Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc vào cả hoàn cảnh địa lý, khí hậu của nước đó
Tuy giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và lịch
sử, nhưng đối với mỗi nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:
- Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân,
- Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân,
- Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân,
Để biết được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời
kỳ nhất định, cần nghiên cứu hai loại nhân tố tác động đối lập nhau đến
sự biến đổi của giá trị sức lao động Một mặt, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hóa và dịch vụ, về học tập và nâng cao trình độ lành nghề đã làm tăng giá trị sức lao động; mặt khác, sự tăng năng suất lao động xã hội sẽ làm giảm giá trị sức lao động
3.2.2.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động không chi có giá trị, mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ một hàng hóa thông thường nào Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian
Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình sáng tạo ra giá trị mới Mục đích của các nhà tư bản là muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động và thực tế việc nhà tư bản tiêu dùng sức lao động (thông qua hoạt động lao động của người công nhân)
Trang 7đã hàm chứa khả năng này Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt
Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đó là chìa khóa để giải thích mâuthuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản
3.3.VẬN DỤNG ĐƯA GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 3.3.1.Lí luận về hàng hóa sức lao động của C Mác với thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
3.3.1.1.Khái niệm thị trường lao động
Thị trường lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người công nhân làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận
về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác trên cơ
sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác
3.3.1.2.Thị trường lao động ở Việt Nam hiện
nay *Thực trạng thị trường lao động nước ta:
Hiện nay, theo xu thế hội nhập quốc tế phát triển nề kinh tế tri thức, đòi hỏi người lao động phải biết nắm bắt, xử lí nhanh nhạy, tức là, cần nâng cao giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động Tuy nhiên quá trình nhận thức và vận dụng lí luận về hàng hóa sức lao động của C Mác vẫn còn những giới hạn nhất định, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể là:
Về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động còn thấp hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường thế giới, giá trị hàng hóa sức lao động còn bất cập, chưa bao quát hết những yếu tố đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn những người làm công ăn lương, hệ thống thông tin lao động việc làm chưa được quản lí chặt chẽ, hệ thống giáo dục – đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Trang 8Nhà nước ta cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực, trình độ cho người công nhân Ngày càng có nhiều trường đào tạo nghề được thành lập nhằn phục vụ cho việc học nghề của nhân dân
và nâng cao tay nghề của công nhân Các nhà máy, xí nghiệp cũng tạo điều kiện cho công nhân nâng cao trình độ của mình như cử một số công nhân đi học tiếp thu khoa học kĩ thuật tiên tiến, tổ chức các lớp tập huấn cho công nhân, nhằm nâng cao tay nghề từ đó tăng năng suất lao động Tuy nhiên, thị trường lao động nước ta vẫn còn nhiều điểm hạn chế Lực lượng công nhân Việt Nam dù là dồi dào nhưng tay nghề chưa cao lao động chủ yếu bằng cơ bắp, ít lao động trí óc Mặc dù các trung tâm, các trường đào tạo nghề được thành lập nhiều nhưng có một số cơ sở vẫn hoạt động không có hiệu quả công nhân học xong không thể làm việc có hiệu quả, hơn nữa chi phí học tập còn cao nên không phải ai cũng có điều kiện để có thể theo học được Công nhân và gia đình họ cũng còn gặp khó khăn trong việc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân chính đáng của mình như khó tiếp cận với các dịch vụ, việc đăng kí học cho con cái
Bên cạnh đó, mức tiền công, tiền lương người công nhân được trả chưa phù hợp với mức lao động của họ Ngoài ra, lao động nước ta tập trung chủ yếu chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, tác phong công nghiệp thấp
3.3.2 Vận dụng đưa giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam
Vận dụng lý luận sức lao động của C Mác vào thị trường sức lao động Việt Nam là một vấn đề quan trọng đối với Việt Nam hiện nay Đặc biệt là đưa ra một số giải pháp phát triển thị trường sức lao động trong nước
Thứ nhất, việc vận dụng lý luận lao động hàng hoá phải phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế phát triển chung của nền kinh tế tri thức Điều này đòi hỏi phải xây dựng và phát
triển hệ thống giáo dục cả về chất lượng và số lượng, nhất là về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, về phẩm chất đạo đức, năng lực thì mới có thể tiếp cận, hướng dẫn người lao động tiếp cận với nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế Cần tập trung phát triển mạnh hệ thống trung học chuyên nghiệp, dạy nghề theo hướng đồng bộ về cơ cấu, ưu tiên các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao như năng lượng, vi điện tử, tự động hóa, công nghệ sinh học… Đồng thời, có các chính sách
Trang 9thu hút nhân tài, đãi ngộ giáo viên, cơ chế ưu đãi để khuyến khích các thành phần kinh tế, tổ chức cá nhân tham gia vào công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho người lao động
Ví dụ: Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực (Bộ GD&ĐT) đã tổ chức lễ ký kết thỏa thuận hợp tác với các đối tác để từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục phát triển bền vững Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực cho biết, Trung tâm định hướng xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ phát triển bền vững gồm nhiều bên tham gia Trong đó, bên cung là các cơ sở giáo dục đào tạo; bên cầu là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động; cùng các tổ chức, doanh nghiệp là bên tham gia nội dung chương trình đào tạo, cung cấp chuyên gia giỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ người lao động
Thứ hai: Vận dụng lý luận một cách phù hợp vào thực tế điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam Với lợi ích của người sử dụng lao động và
người lao động cần phải hài hòa, cân đối Tránh việc làm phát sinh, gây mâu thuẫn gay gắt mà phải tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiết, thống nhất giữa người lao động và người đi thuê lao động Ta cần nâng cao chất lượng sức khỏe và chính sách lương thưởng, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động để người lao động được tiếp xúc với công nghệ hiện đại, thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở thành phố, đổi mới sản xuất ở nông thôn Chú trọng phát triển mạnh quan hệ kinh tế với nước ngoài bằng nhiều hình thức để tạo nguồn xuất khẩu lao động tại chỗ, tăng đầu tư khai thác, mở rộng xuất khẩu lao động sang các khu vực, thị trường truyền thống và một số thị trường mới; khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tạo việc làm, ưu tiên vốn vay cho các doanh nghiệp thu hút, sử dụng nhiều lao động
Ví dụ: Năm 1914, Công ty Ford bắt đầu trả lương cho công nhân 5 USD/ngày khi mà mức lương phổ biến vào thời điểm đó chỉ khoảng 2-3 USD/ngày Henry Ford tin rằng lương cao làm tăng sự ổn định của lực lượng lao động và giúp đỡ con người tập trung làm việc vì gia đình họ được hỗ trợ đầy đủ về vật chất
Bằng chứng cho thấy rằng việc trả lương cao như thế có lợi cho công ty Theo một báo cáo kỹ thuật viết vào thời gian đó thì mức lương cao của Ford đã quét sạch sự chây lười và chống đối Người lao động trở nên cực kỳ dễ bảo và có thể nói chắc chắn rằng từ hôm tất niên năm
1913 đó, không có ngày nào nhà máy của Ford không cắt giảm đáng kể chi phí của mình
Trang 10Số người nghỉ việc giảm 75% và điều này cho thấy nỗ lực của công nhân tăng lên rất nhiều Allan Nevins, một sử gia nghiên cứu thời kỳ đầu của Công ty Ford, đã viết: Nhiều lần Ford và đồng nghiệp của ông ta đã tuyên bố công khai rằng chính sách tiền lương cao tỏ ra rất hiệu quả Khi nói như vậy, họ muốn nhấn mạnh rằng nó góp phần nâng cao kỷ luật của người lao động, làm cho họ quan tâm và trung thành hơn với công ty, cũng như nâng cao hiệu quả cá nhân của họ
Thứ ba: Vận dụng lý luận về hàng hóa sức lao động phải gắn liền với việc hình thành đội ngũ lao động có trình độ và cơ cấu hợp
lý, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phải
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực mới đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Phải biết nắm bắt sử dụng có hiệu quả những phương tiện kỹ thuật hiện đại Đi đôi với việc đào tạo tay nghề cần quan tâm tới giáo dục phẩm chất cho người lao động, rèn luyện ý thức trách nhiệm, kỷ luật, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Nhà nước đề ra
Thực trạng hiện nay:
+ Ý thức kỷ luật trong lao động còn thấp
+ Người lao động chưa được trang bị kiến thức và kỹ năng làm việc nhóm
+ Các kỹ năng trong quá trình lao động còn kém
Bởi vậy ta cần phải nâng cao giáo dục phẩm chất cho người lao động, Hoàn thiện hệ thống giá trị con người trong thời đại mới, xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực
Thứ tư: Thúc đẩy sự giao dịch trên thị trường lao động bằng các
hình thức như phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, tăng cường quản lý Nhà nước, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường lao động, hoàn thiện bộ máy quản lý và vận hành có hiệu quả thị trường lao động,…
Đại dịch covid đã và đang ảnh hưởng lớn đến vấn đề lao động, việc làm, an sinh xã hội của người dân Theo số liệu thống kê của tổng cục lao động : ước tính số người bị mất việc làm chiếm 5%, tạm nghỉ hoặc tạm ngừng kinh doanh, sản xuất chiếm 32%, gần 50% người làm bị cắt giảm giờ làm hoặc nghỉ luân phiên … Đặc biệt là trong giai đoạn đất nước đang phải chịu những anh hưởng lớn bới đại dịch covid có nhiệm