Trong thời kì hiện nay sự biến đổinày không chỉ ở tộc người Sedang mà nhìn ra toàn thể đất nước Việt Nam thì các tộc ngườikhác cũng đang đổi thay theo dòng thời gian, và với những biến đ
Trang 1SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG CỦA TỘC NGƯỜI SEDANG TRONG
THỜI KÌ HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: Phanxicô Xaviê Hồ Ngọc Tuấn
Giáo sư hướng dẫn: TS Lý Tùng Hiếu
Niên khóa 2013-2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ HƯỚNG DẪN
Ngày….tháng….năm…
(Ký tên)
TS Lý Tùng Hiếu
Trang 3DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 2
3.1 Phương pháp 2
3.2 Tư liệu 2
4 Đối tượng và phạm vi 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Các phần nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI SEDANG 3
I SƠ LƯỢC VỀ TỘC NGƯỜI SEDANG 3
I.1 Nhân chủng và ngôn ngữ 3
I.2 Lịch sử và dân số 3
II HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG 4
II.1 Cách thức hoạt động sản xuất 4
II.2 Cách thức tổ chức xã hội cổ truyền 5
II.3 Cách thức ăn, mặc, ở và đi lại 6
II.4 Tín ngưỡng, phong tục, lễ hội 7
II.5 Văn học, nghệ thuật 9
CHƯƠNG 2 GIAO LƯU TIẾP BIẾN VĂN HÓA 10
I HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA 11
I.1 Cách thức hoạt động sản xuất 11
I.2 Cách thức tổ chức xã hội 12
I.3 Cách thức ăn, mặc, ở và đi lại 13
II TÍN NGƯỠNG, PHONG TỤC VÀ LỄ HỘI 14
II.1 Tín ngưỡng 14
II.2 Lễ hội 16
II.3 Văn học, nghệ thuật 17
III ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA 18
IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 19
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 5DT tộc người
TS - TN Trường Sơn – Tây Nguyên
VHTN văn hóa tín ngưỡng
Trang 6Đồng thời, tôi cũng muốn tìm ra là những cái mới, cái biến đổi và cái biến đổi đó
đã diễn ra như thế nào từ xưa đến nay? Những đổi thay đó có những điều gì cần định hướngcho xã hội của tộc người Sedang trong thời kì hiện nay?
Những biến đổi trong VHTN truyền thống của người Sedang so với VHTN hiệnnay, những nguyên nhân nào làm nó biến đổi như vậy? Từ những đổi thay đó ảnh hưởng gìđến sự tồn vong của một tộc người như tộc người Sedang Trong thời kì hiện nay sự biến đổinày không chỉ ở tộc người Sedang mà nhìn ra toàn thể đất nước Việt Nam thì các tộc ngườikhác cũng đang đổi thay theo dòng thời gian, và với những biến đổi đó có đem lại lợi ích gìcho xã hội hay không? Hay chỉ phục vụ cho một tộc người, nó có phù hợp với quy luật pháttriển của xã hội không? Dưới áp lực của xã hội hiện nay, liệu rằng các tộc người Việt Namnói chung và tộc người Sedang nói riêng họ còn giữ được bản sắc truyền thống của mình nữakhông?
Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài: “SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG CỦA TỘC NGƯỜI SEDANG TRONG THỜI KÌ HIỆN NAY” để làm bài
nghiên cứu
Trang 72 Ý nghĩa đề tài
Với mong muốn được hiểu rõ thêm về nền văn hóa, phong tục và lối sống truyềnthống của tộc người Sedang Tôi hy vọng rằng, với đề tài này giúp tôi và một số nhà nghiêncứu có thể nắm bắt về tộc người Sedang, về cuộc sống hiện tại của họ, để giúp đỡ và bảo tồnnhững nét văn hóa riêng của tộc người này Đồng thời có thể tìm ra nguyên nhân của sự biếnđổi, tìm ra mặt tích cực và mặt tiêu cực của những đổi thay đó Từ đó đề xuất một số kiếnnghị cho các cơ quan chức năng, ban ngành liên quan tham khảo
3 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 3.1 Phương pháp
Tiểu luận này, tôi sẽ dùng các phương pháp như sau: Khảo sát (tham gia, phỏng vấn),phân tích, tổng hợp và so sánh
3.2 Tư liệu
Trong bài, người viết có đi khảo sát thực tế và tham vấn ý kiến cha phụ trách giáo xứ linhmục Phêrô Nguyễn Hùng Tiến, già làng và một số người dân sinh sống ở Buôn Hằng vàotháng 7 năm 2013 Các sách sẽ được cập nhật trong quá trình footnote và được ghi đầy đủtrong phần tài liệu tham khảo
4 Đối tượng và phạm vi
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng tiểu luận này sẽ là nghiên cứu sự biến đổi về truyền thống VHTN hiện nay củatộc người Sedang đã biến đổi như thế nào? Nghiên cứu về người Sedang, về VHTN của họ để
so sánh họ đã có những sự biến đổi gì
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: Về cơ bản tôi sẽ lấy mốc từ khi người Sedang hình thành từ
năm 2008 đến hiện nay
+ Phạm vi không gian: Do những điều kiện chủ quan và khách quan nên tôi chỉ khảo sát người Sedang trên địa bàn Buôn Hằng, xã EA-UY, huyện Krông-Pắk, tỉnh Đắk Lắk vì
đây là nơi có hơn 9000 người Sedang đang sinh sống và làm việc
5 Các phần nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này gồm: dẫn nhập, tổng quan về tộc người Sedang, giao lưu tiếp biếnvăn hóa, đặc trưng của văn hóa và kết luận
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI SEDANG
I SƠ LƯỢC VỀ TỘC NGƯỜI SEDANG I.1 Nhân chủng và ngôn ngữ
Tộc người Sedang (hay có tên gọi khác như Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila) đượcphân bố chủ yếu ở Bắc TN Còn tính riêng lượng người đang cư trú trên địa bàn Buôn Hằng,
xã EA-UY, huyện Krông-Pắk, tỉnh Đắk Lắk là những người có nguồn gốc từ các tỉnh KonTum, Quảng Ngãi đã di cư lên Đắk Lắk vào năm 1972.1 Mới ban đầu họ di cư theo từngnhóm sau đó theo từng bản làng ở tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi đi làm ăn kinh tế và mongmuốn biến đổi cuộc sống, vì ở Đắk Lắk có loại đất bazan tươi tốt và màu mỡ hơn
Tộc người Sedang bao gồm các nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca
Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu
Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với
tiếng Hrê, Bahnar, Gié Triêng2 Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau
Bên cạnh đó thì hiện nay cũng có các tộc người di cư đến trong đó có cả người Kinh,nhưng số lượng người Kinh ở đây vẫn chưa nhiều
Do tình hình đó mà hiện nay tộc người người Sedang chỉ giữ vai trò chủ thể của bộ
phận văn hóa truyền thống Tuy nhiên vì lượng người sống rãi rác không tập trung đông mộtnơi trên một lãnh thổ, mà sống ở các tỉnh lẻ tẻ nên ngôn ngữ của tộc người Sedang cũng chỉđược sử dụng trong một khu vực nhất định chứ chưa bao quát hết toàn vùng Bên cạnh đó họcũng sử dụng hệ song ngữ Việt - Môn - Khơ Me Đồng thời, họ cũng học hỏi thêm một sốngôn ngữ của các tộc người khác trong vùng để giao lưu văn hóa và kết tình bạn hữu, chẳnghạn như tộc người Êđê, Kinh
I.2 Lịch sử và dân số
Theo tổng cục Thống kê năm 2009 cả nước có 169.501 người sống ở các tỉnh TS -TN,đặc biệt người Sedang cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnhQuảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc
1 Theo lời kể của già làng trong Buôn Hằng.
2 Nguyễn Văn Sơn, Người Sedang, truy cập ngày 10/3/2014; http://cema.gov.vn
Trang 9Linh3 Còn tộc người Sedang ở buôn Hằng, Đắk Lắk di cư từ hai tỉnh trên Lúc đầu họ mới di
cư lên Đắk Lắk khoảng năm hoặc sáu ngàn người, họ thường di cư theo lối tự phát và từngnhóm Cho đến nay dân số của buôn Hằng đã lên đến chín ngàn người (con số này có thểtăng theo năm tháng) và cùng sống trong một ngôi làng chung, bên cạnh đó cũng có một sốnhóm di chuyển đến nơi khác vì điều kiện làm ăn kinh tế
II HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG II.1 Cách thức hoạt động sản xuất
Cư tộc người người thiểu số ở vùng Đắk Lắk trong đó có tộc người Sedang vẫn cònsống hòa hợp với thiên nhiên Hoạt động kinh tế chủ yếu vẫn là làm nương rẫy trồng lúa ducanh, sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có săn bắn và hái lượm lâm thổ sản và một số nghềthủ công như rèn, đan lát, dệt… song đều ở phạm vi nhỏ lẻ, hoạt động ở qui mô hẹp Bởi xuấtphát điểm từ nền kinh tế tự túc, tự cấp dựa vào nương rẫy là chính nên nghề nào cũng có ởcác bản làng song cũng chỉ ở mức độ phục vụ đời sống là chính, chưa đạt đến mức độ tinhxảo
a) Trồng trọt: Tùy theo địa lí và đặc điểm của đất đai, mà ngành trồng trọt cũng
khác nhau Người Sedang chủ yếu là trồng lúa, mì (sắn), và phương thức canh tác chủ yếu làtrồng lúa trên ruộng nước ở các thung lũng, có những nơi thì trồng ở trên núi, đồi, và ở trên
đó họ cũng phát nương, phát rẫy trồng ngô, trồng sắn Họ thường phát rẫy như sau: trước tiênđàn bà, trẻ em dùng chà gạc4 chặt những cây nhỏ và dây leo nhưng không cần chặt đứt hẳn,tiếp đó đàn ông dùng rìu đốn những cây lớn dần từ dưới lên đỉnh dốc, những cây này ngã sẽkéo theo cây nhỏ và dây leo Sau khi phơi nắng khoảng hơn một tháng, người ta châm lửa đốtrồi dọn rẫy để gieo hạt khi mùa mưa bắt đầu (ở Đắk Lắk thông thường mùa mưa bắt đầu vàokhoảng tháng Tư nếu trễ thì tháng Năm) Nước tưới cho lúa chủ yếu dựa vào nước mưa theomùa, phân cho lúa là phân tro đốt tại chỗ Những nhóm làm rẫy thường sống du canh du cư,khi đất canh tác bạc màu lại chuyển đi nơi khác để cho rừng tự phục hồi Ngoài lúa, người XơÐăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía Vùng người Ca Dong
có trồng quế
b) Chăn nuôi: Họ chăn nuôi gia súc, gia cầm như: gà, vịt, trâu, bò, lợn, dê, chó…
theo phương thức thả rông Trâu, bò dùng làm sức kéo ở những vùng làm ruộng nước, còn lại
là để hiến tế trong các nghi lễ của làng hoặc nộp phạt và mua bán Việc hái lượm, săn bắn,
3 Hoài Thanh, Tộc người Sedang, truy cập ngày 05/3/2014; http://www.vinaculto.vn/vn/ethnicdetail/17/ xo-dang.aspx
4 Chà gạc cán được làm bằng gỗ hoặc bằng tre, lưỡi dài khoảng 20 - 30 cm rất sắc, dùng để phát nương rẫy hoặc phát cỏ trên đồi.
Trang 10kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ Vì đây là bữa ăn hàng ngày của gia đình nếu chợ ở quá
xa, hoặc họ ở trong rẫy khoảng một tuần mới về một lần
c) Các nghề khác: Như săn bắt thú rừng, đánh cá, hái lượm lâm thô sản vẫn rất phổ
biến được tổ chức thường theo tập thể và sau các cuộc đánh bắt con vật họ thường chia sẻ chonhau và không có sự tranh giành vì lúc này họ vẫn đang sống quần cư Các nghề thủ côngphổ biến nhất là đan lát và thêu dệt, ngoài ra một số nơi có nghề gốm, làm gạch Nghề thủcông đan, dệt, gốm, mộc nói chung còn chậm phát triển, trình độ kỹ thuật thô sơ không có gìđặc biệt so với cư dân khác ở TN Đặc điểm là họ cư trú ở gần vùng có quặng sắt lộ thiên, núibao bọc xung quanh, do đó mà nhóm Tơ Đrá đã chế tạo ra một loại lò rèn bễ hơi bằng da rấtđộc đáo, sử dụng rất có hiệu quả, có thể rèn nung nóng từ quặng ra thép, đánh các công cụ laođộng và dụng cụ phục vụ gia đình Những vật họ làm ra thì họ ưa thích trao đổi vật trực tiếpgiữa các người trong bản và ngoài bản như Chăm, Khơ-me, Êđê và người Kinh
d) Công cụ sản xuất truyền thống: Bằng những công cụ thô sơ như rìu, rựa để phát
quang, cuốc lưỡi sắt để xới đất, gậy chọc lỗ tra hạt, cán bằng gỗ, lưỡi sắt dài khoảng 30 cm,rộng 3-4 cm, làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong vềmột bên là rìu, rựa - dùng để chặt cây, bao gồm một đoạn tre già uốn cong một đầu để tra lưỡisắt Công cụ canh tác lúa nước của người Sedang có cuốc, cán bằng gỗ, hoặc bằng tre Càylàm bằng gỗ, hay bằng sắt, bừa để san phẳng đất Cày bừa dùng để trâu hoặc bò kéo
II.2 Cách thức tổ chức xã hội cổ truyền
Trải qua sự tiếp biến văn hóa đậm nhạt khác nhau giữa các tộc người ở trong vùngcách thức tổ chức xã hội cổ truyền của tộc người Sedang ở Đắk Lắk đã có những khác biệtđáng kể
Về chế độ và hình thức gia đình, người Sedang có hiện tượng sống trong các nóc nhàdài, lấy đại gia đình làm gốc, ngoài ra họ còn có nhiều thành viên khác bên chồng, bên vợ,
mẹ góa, con côi, người cùng làng cũng kết nghĩa anh em Cả nóc nhà dài do ông chủ nóc và
bà chủ nóc cai quản điều hành Các gia đình trong nóc làm chung hưởng chung, thóc thường
để chung vào một kho, sau đó mới phân chia cho từng gia đình nhỏ Lương thực và tài sảnlớn thì thuộc quyền sở hữu của cả nóc Mỗi gia đình nhỏ cũng có quyền chăn nuôi các loạigia súc nhỏ, và sản xuất riêng trên một mảnh vườn, mảnh rẫy, khi thu hoạch được quyền tách
ra làm của riêng, hoặc nhập vào nóc Hiện nay, hình thức đại gia đình đã suy yếu, những ngôinhà sàn dài nơi cư trú của đại gia đình đã ít dần và thay vào đó là các tiểu gia đình
Trang 11Có thể nói gia đình người Sedang có tính chất “song hệ''5, quan hệ huyết thống, quan hệthừa kế và quan hệ hôn nhân không ngả hẳn về bên cha cũng như bên mẹ Người Sedang không
có họ, gọi theo kiểu người Việt Người Sedang đối xử với nhau rất bình đẳng giữa nam và nữ,không phân biệt con đẻ hay con nuôi, con riêng và con chung, cũng không phân biệt con đẻ củamình với con của anh, hay của chị em ruột, con của anh chị em họ, họ sống tôn trọng lẫn nhau.Hiện tượng rất phổ biến là phong tục tập quán kết bạn làm anh em với những người cùng tên haycùng tuổi, khác làng khác tộc gặp nhau trong một hoàn cảnh tương đồng
ý hợp nào đó, họ sẽ coi nhau như anh em ruột thịt suốt đời, con cháu của họ không được phépkết hôn với nhau
Về tổ chức quần cư, từ trước đến nay người Sedang vẫn duy trì buôn làng làm tổ chức quần
cư cơ sở phát triển Mỗi buôn có bộ máy tự quản riêng gồm có chủ làng (Kră Plei – ngườiđứng đầu trong làng), chủ đất (srăp mui), thầy cúng, thầy mo, các tộc trưởng và già làng(Yang) Chủ làng chỉ thực hiện các quyết định khi được toàn thể dân làng nhất trí Mọi việc
to nhỏ đều được những người chủ nóc bàn bạc ở gia đình rồi đưa ra hội đồng già làng thảoluận, đến khi nhất trí mới thông qua
Chủ làng là người đại diện cho cả làng, thể hiện nguyện vọng của toàn dân, chăm nom bảo vệđịa giới làng, quyết định chiến tranh hay hòa giải, đôn đốc dân làng bảo vệ làng khi có giặc,giao thiệp với khách lạ tới làng, tiếp xúc với các đoàn buôn, thương lái, tổ chức các đoànbuôn của làng, có trách nhiệm giữ gìn phong tục tập quán, đôn đốc việc sản xuất, chủ trì các
lễ thức tín ngưỡng và tôn giáo của toàn làng, xử lý các vụ tranh chấp, kiện tụng, các vụ viphạm luật tục Nói chung, đa số các sự việc đều được đưa ra xử lý trong làng Nhưng cơ cấunày, ngày nay đã có phần biến đổi, bây giờ cơ cấu cai quản được thay thế trưởng buôn đạidiện cho pháp luật nhà nước, không còn chủ làng quyết định nữa
II.3 Cách thức ăn, mặc, ở và đi lại
Cuộc sống của người Sedang vẫn còn khó khăn nên đời sống sinh hoạt của họ cũngđang ở mức thấp Họ vẫn phải đi săn bắn, hái lượm để có thức ăn hằng ngày như: hái măngtrên nương rẫy, đánh bắt cá ở các vùng nước trũng…
Ẩm thực: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt (thường thì họ bỏ ớt rất nhiều để
tạo cảm giác đậm đà cho bữa ăn của họ) họ ăn một ngày chỉ hai bữa chính đó là bữa trưa và
Trang 12bữa tối Các thức ăn kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm Phổ biến làmón canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng Họ uống nước lã đượclấy từ trên các con suối, hay những mạch ngầm ở các ruộng chảy ra Ðặc biệt rượu được chế
từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn
Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồngbào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu Có lẽ nhờ ăn trầu cau màrăng của người Sedang rất đều và đẹp
Trang phục: Có sự khác nhau giữa nam và nữ Nam đóng khố, ở trần Nữ mặc váy, áo Trời
lạnh dùng tấm vải choàng người, như cái chăn người Kinh hay đắp Có gia đình nghèo nênphải dùng y phục bằng vỏ cây, hay lá kết lại để che thân Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màutrắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ
Nhà ở: Về cơ bản người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Đắk Lắk thì nhà ở của họ chủ yếu là nhà sàn,
và nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung, xung quanh được bao bọc bằng gỗ, mái được lợpbằng tranh để chống lạnh Kỹ thuật liên kết các cây cột với nhau chủ yếu là sử dụng bằngngoàm (bên trong to bên ngoài nhỏ để tránh chạy cột) và dây buộc Trước cửa ra vào là cầuthang lên xuống, vách đối diện với cửa là để ché, giỏ đựng đồ đạc và bàn thờ Mọi sinh hoạtchủ yếu (như ăn uống, nghỉ ngơi, tiếp khách) đều diễn ra quanh bếp lửa trong nhà Nhà ởtrong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa,
có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông
Phương tiện vận chuyển: Do địa hình và sự khó khăn về kinh tế nên đối với tộc người ở đây
chủ yếu là gùi Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quaikhoác vào một vai Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoavăn, không có hoa văn và chất liệu làm gùi thường được làm bằng tre hoặc bằng mây hoặcnứa Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan
II.4 Tín ngưỡng, phong tục, lễ hội
II.4.1 Tín ngưỡng, phong tục
Đời sống của đồng bào các tộc người thiểu số ở TN còn khó khăn, thiếu thốn về nhiềumặt nên những gì đồng bào không giải thích được, họ đều viện vào các đấng siêu nhiên, thầnlinh hoặc các lễ thức tín ngưỡng dân gian khác như thần Lửa, thần nước, thần Gió, thần Sấm,thần Sét, thần Rừng, thần Suối, thần Lúa để cầu mong các đấng siêu nhiên, thần linh đóphù hộ và chở che cho cuộc sống của họ luôn được yên lành, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt
Trang 13Từ đó sinh ra nhiều nghi lễ, tín ngưỡng dân gian từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức để hôm nay
nó vẫn còn in đậm dấu ấn và mãi trường tồn trong tâm thức của cộng đồng tộc người thiểu sốnơi đây Tín ngưỡng của các tộc người thiểu số ở TN không giống ở người Kinh Việc thờcúng tổ tiên được giới hạn trong phạm vi các thế hệ cha mẹ, ông bà và chủ yếu là trong thờigian trước bỏ mả Lễ bỏ mả là nghi lễ cuối cùng chấm dứt sự hiện diện của một con người,cắt đứt mối liên hệ giữa người sống và người chết Sau đó vong linh của những người chếtđược coi như đã về với các thần linh (Yang) nói chung
Còn đối với tộc người Sedang, tín ngưỡng của họ cũng tương tự đó là luôn tồn tại cùngcác lễ thức dân gian mang tính tâm linh trong các lễ hội cổ truyền vừa phản ánh thế giới nhânsinh quan và thế giới quan của một cư dân từ bao đời nay và lấy kinh tế nương rẫy làmphương thức sản xuất chính
Cho đến nay các nghi lễ phong tục cổ truyền của tộc người thiểu số ở TN nói chung vàtộc người Sedang nói riêng vẫn còn được bảo lưu Nhưng bên cạnh đó, trải qua nhiều thế hệđặc biệt là những năm gần đây một bộ phận khá lớn người Sedang đã tin theo những tôn giáo
du nhập từ bên ngoài vào như Tin Lành Một số bản văn Kinh Thánh đã được dịch ra tiếngbản địa để phục cho các nghi lễ
II.4.2 Lễ hội
Tộc người Sedang ở vùng TN vẫn còn duy trì những lễ hội cổ truyền mà phần đa là lễhội nông nghiệp và các nghi lễ vòng đời, thường được tổ chức vào những tháng nông nhànsau khi đã thu hoạch mùa màng xong
Đồng bào tộc người Sedang luôn gìn giữ và phát huy những giá trị lễ hội vốn có từlâu đời của mình và được tổ chức hàng năm như lễ đâm trâu, lễ tạ ơn (Mnê), lễ hội mừngcơm mới (Ká pêê nau), phát rẫy vào mùa khô (cọ muôi), ăn lúa kho (Ka Ba Ton) tại mỗibuổi lễ đều tổ chức đánh cồng chiêng Trong đó lễ hội mừng cơm mới là lễ hội quan trọng vàlớn nhất trong năm của người Sedang Lễ này do cả buôn cùng đứng ra tổ chức và được quy
tụ đầy đủ các con cháu trong làng (Plei) tập trung về tại nhà văn hóa của Plei để cùng thamgia lễ hội Vào những năm mưa thuận gió hòa, cây lúa trên nương, trên rẫy cho nhiều hạt.Mọi người vui mừng và sung sướng vì một năm đã cho họ vụ mùa no đủ Đó là lúc gia đìnhbàn chuyện với các bô lão (Hội đồng già làng) xin ngày để mở hội Ká-pê-nau
Trang 14Thông thường, đến khoảng tháng 9, tháng 10 Âm lịch, khi lúa trên nương, trên rẫychín vàng, gia đình suốt tượng trưng một số lúa vừa đủ một gùi mang về rồi trình báo với Hộiđồng già làng xin phép ngày tổ chức lễ hội Ká-pêê-nau.
Sau đó họ chuẩn bị cho những tháng nghỉ ngơi (ninh nơng) trong tháng mười một,tháng mười hai sau một năm lao động vất vả Trong những tháng nghỉ ngơi, người Sedangnay ở nhà này, mai ở nhà khác, ngày ở làng này, đêm sang làng khác, dự lễ ở mọi nhà, ởnhiều làng Mọi người vui say cho bõ những ngày lao động mệt nhọc Họ ca hát, hò reo, đánhcồng đánh chiêng cầu mong mùa màng sang năm được tốt tươi, lương thực sẽ thừa thãi nhưtrong lễ thức dân gian này
Các lễ thức dân gian mang tính tâm linh của người Sedang về cơ bản đều gắn bó chặtchẽ với vòng đời con người và quy trình sản xuất theo mùa vụ, ngoài những yếu tố về bản sắcvăn hóa truyền thống, các lễ thức dân gian này còn là môi trường hết sức quan trọng để tạo ra
sự gắn kết cộng đồng bền chặt về mọi mặt trong đời sống của tộc người Sedang
II.5 Văn học, nghệ thuật
II.5.1 Chữ viết
Người Sedang dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục nămnhưng đa phần được cải tiến nhiều Hiện nay, chữ viết của họ đã được đưa vào dạy ở một sốtrường học cho con em, nhưng loại chữ này vẫn chưa được phổ cập rộng rãi
II.5.2 Văn học, nghệ thuật
Vốn văn học nghệ thuật dân gian của tộc người Sedang khá phong phú Thơ ca vàtruyện cổ đậm chất trữ tình, đặc sắc và giàu nhạc tính Một số vũ khúc cổ truyền thường đượcbiểu diễn trong các lễ hội Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, trống,chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước ) Có loại dùng giải trí thôngthường, có loại dùng trong lễ hội Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ítnhiều giữa các nhóm Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớntuổi, hát ru Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam,riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia