Mọi người vẫn thường ít chú ý đến hành vi 'tấn côngtình dục được tạo điều kiện từ mạng Internet công nghệ cao, nơi các công nghệ mới được sử dụng như một công cụ để gây ra hoặc kéo dài m
Trang 1ĐẠI HỌC UEH
BÀI DỊCH LUẬN
BỘ MÔN LUẬT HÌNH SỰ ĐẶNG THỊ KHÁNH LINH
MS: 31201026723
Giảng viên: Trần Thị Minh Đức
Trang 2SEXUAL VIOLENCE IN THE DIGITAL AGE: THE SCOPE AND LIMITS OF
CRIMINAL LAW TẤN CÔNG TÌNH DỤC TRONG THỜI ĐẠI KĨ THUẬT SỐ - LIỆU ĐÂY CÓ
PHẢI LÀ PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA LUẬT HÌNH SỰ?
BÀI TÓM TẮT CỦA SINH VIÊN
Bài viết đã đưa ra rất nhiều vấn đề của những trường hợp nở rộ lên ngày nay là: Hành vitấn công tình dục trong thời đại công nghệ và phân tích kĩ một số những phạm vi cùnggiới hạn của Luật Hình Sự trong vấn đề này Cá nhân em cảm thấy bài viết đã phân tíchrất kĩ và nhìn vấn đề ở rất nhiều khía cạnh khác nhau mà ngay cả bản thân em cũng chưa
hề nghĩ đến Đây là một bài viết rất đáng đọc và đáng để suy ngẫm, nghiên cứu và pháttriển nhiều hơn
Trước khi bắt đầu vào những vấn đề chính trong bài, tác giả đã chia sẻ về một vấn đề làBạo lực giới, họ đặt ra một câu hỏi rằng liệu những vấn đề tấn công tình dục có đăngnhắm vào đa phần là trẻ em nữ và phụ nữ? Làm cho họ phải chịu những tác động tiêu cực
do sự tồn tại của những lầm tưởng lạc hậu, xu hướng đổ lỗ cho nạn nhân thay vì tập trungchính vào hành vi tội phạm Liệu nạn nhân có đáng bị đem ra lăng mạ, bàn luận dưới sựhiếu kì của truyền thông?
Ở khía canh thứ nhất, một vấn đề tội phạm được nêu lên là hành vi “Trả thù tình dục” chỉviệc phân phối, phán tán nội dung khiêu mà không có sự đồng ý của nạn nhân Trong vấn
đề này, xuất hiện những giới hạn và kẽ hở của Luật Hình sự trong việc đặt ra thuật ngữ
“Khiêu dâm trả thù”, cụm từ này không thể bao hàm hết các trường hợp trong vấn đề này,như liệu động cơ của tội phạm có phải chỉ để trả thù hay không? Hơn nữa, thuật ngữ nàymang xu hướng tập trung vào nạn nhân thay vì phân tích động cơ của thủ phạm, liệu cónên gọi những hình ảnh không may bị phát tán là hình “khiêu dâm” “dung tục” để giántiếp lăng mạ, phán xét nạn nhân Hơn nữa, trong bài viết cũng nhắc đến việc một số nướctrên thế giới đã hình sự hóa hành vi phát tán hình ảnh này, nhưng hiện tại ở Việt Nam,những điều này vẫn chưa được quá phổ biết và nghiêm khắt răn đe Hơn nữa, chi phí liênquan đến kiện tụng dân sự có thể quá nặng nề đối với nạn nhân không có địa vị quá cao,những người không có đủ phương tiện tài chính để khởi kiện dân sự theo luật hiện hành
Ở khía cạnh thứ hai là hành vi “Ghi lại, phát tán các hình ảnh cưỡng dâm” điều tồi tệ ởđây không phải chỉ là bản thân hành động cưỡng bức, mà còn là việc ghi lại những hànhđộng này trên phim Nỗi đau của nạn nhân sẽ bị nhân lên gấp mười khi hình ảnh bị cưỡnghiếp của mình tràn lan trên mạng để bao nhiêu cặp mắt soi mói phán xét Hành vi nàythực sự cần hình sự hóa và xử lý thật nghiêm khắt
Trang 3Tiếp theo là hành vi Tấn công và cưỡng bức tình dục dựa trên công nghệ, hành vi nàythường phổ biến trên các ứng dụng hẹn hò, nó được sử dụng để tạo điều kiện cho mộtcuộc tấn công tình dục Những trường hợp như vậy đã đánh lê hồi chuông rằng các nhàcung cấp dịch vụ nên xem xét các phương pháp tiếp cận chặt chẽ hơn để xác nhận danhtính của các cá nhân được liên kết với hồ sơ của họ trên các ứng dụng và trang web củamình.
Cuối cùng là hành vi “Quấy rối” cả trên mạng và ngoài đời cùng những lời phỉ báng đedọa trên mạng Internet là một hiện tượng mới nổi và ngày càng phổ biến mà luật pháp đãphải vật lộn để theo kịp khi công nghệ phát triển Nhiều khu vực pháp lý vẫn chưa quyếtđịnh làm thế nào để nắm bắt tốt nhất tác hại của hành vi quấy rối và hoạt động theo dõiqua mạng trong không gian trực tuyến
Kết luận, em vô cùng đồng ý với quan điểm cho rằng: “Luật pháp không nên được coi làbiện pháp khắc phục duy nhất cho những hành vi phạm tội này.” Do đó, chúng ta cần có
sự quan tâm bình đẳng đối với các chính sách thực tiễn của các nhà cung cấp dịch vụcộng đồng trực tuyến và mạng truyền thông xã hội cùng theo đó là trách nhiệm của họtrong việc chủ động giải quyết vấn đề này bằng cách cung cấp cơ chế để người dùng báocáo nội dung xúc phạm, quấy rối, đồng thời cung cấp đầy đủ nguồn lực theo hướng giámsát để loại bỏ nội dung này Chúng ta cần có những hành động thực tiễn hơn để giải quyếtcho những vấn đề này, đồng thời thích nghi với một tương lai công nghệ phát triển mạnhcùng nhiều rủi ro chưa thể đoán được
BÀI DỊCH
Abstract
Considerable scholarly attention has been paid to a range of criminal behaviours that areperpetrated with the aid of digital technologies Much of this focus, however, has been onhigh-tech computer crimes, such as hacking, online fraud and identity theft, or childexploitation material and cyberbullying Less attention has been paid to ‘technologyfacilitated sexual violence’, where new technologies are used as tools to perpetrate orextend the harm of a sexual assault, extend control and abuse in a domestic violencesituation, or distribute sexual or intimate images of another without their consent In thisarticle, we focus on the scope and limitations of criminal legislation for responding tothese varied but interconnected gendered harms We argue that although there have beensome developments in a range of international jurisdictions, particularly relating to thephenomenon of ‘revenge pornography’, much more needs to be done both within andbeyond the law Whilst we support the intervention of the criminal law, we argue thatequal attention must be given to policies and practices of educators, law enforcementagencies, service providers, online communities and social media networks to fulfil thepromise of equal and ethical digital citizenship
Trang 4Tóm tắt
Bài viết được các học giả tập trung chủ yếu đến một loạt các hành vi tội phạm được thựchiện với sự hỗ trợ của công nghệ kỹ thuật số Tuy nhiên, phần lớn nội dung, chúng tôi tậptrung vào tội phạm máy tính công nghệ cao, chẳng hạn như hacker, lừa đảo trên mạngInternet, đánh cắp, giả mạo danh tính, hoặc những “rác phẩm” bóc lột trẻ em và hiệntượng bắt nạt trên mạng Internet Mọi người vẫn thường ít chú ý đến hành vi 'tấn côngtình dục được tạo điều kiện từ mạng Internet công nghệ cao, nơi các công nghệ mới được
sử dụng như một công cụ để gây ra hoặc kéo dài mối nguy hại của hành vi tấn công tìnhdục, mở rộng kiểm soát và lạm dụng trong một tình huống bạo lực gia đình hoặc phát tánhình ảnh tình dục hay thân mật của người khác mà không có sự đồng ý Trong bài viếtnày, chúng tôi tập trung vào phạm vi và giới hạn của luật hình sự trong việc ứng phó vớinhững tác hại đa dạng nhưng có liên quan đến vấn đề những tác hại về giới Chúng tôitranh luận rằng mặc dù đã có một số phát triển trong một loạt các khu vực tài phán quốc
tế, đặc biệt là liên quan đến hiện tượng 'nội dung khiêu dâm trả thù', nhưng chúng ta cầnphải hành động nhiều hơn cả trong và ngoài lĩnh vực pháp lý Vì vậy chúng tôi ủng hộ sựcan thiệp của luật hình sự và cho rằng các chính sách và kế hoạch thực tiễn của các nhàgiáo dục, cơ quan thực thi pháp luật, nhà cung cấp dịch vụ, cộng đồng trực tuyến vàmạng truyền thông xã hội phải được chú trọng như nhau để thực hiện lời hứa về quyềncông dân kỹ thuật số bình đẳng và có đạo đức
Trang 5or narrow language that produces a paradigmatic conceptualization of the behaviour (e.g.
‘revenge porn’) and in the process excludes other related behaviours or leads to bothvictim blaming and perpetrator exoneration On the other hand, focusing more broadly onthe phenomenon of TFSV provides an opportunity to reflect on the similarities amongdiverse behaviours, impacts and responses as well as the problematic languagesurrounding them
Giới thiệu
Trong thời đại ngày nay, các phương tiện truyền thông ngày một phát triển, điều đó làmcho các nhà hoạt động, người hành nghề, luật pháp và các lĩnh vực hơi hướng học thuậtbuộc phải chú ý đến hiện tượng bạo lực trên cơ sở giới tính do công nghệ tạo điều kiện(TFSV), nơi mà công nghệ di động và trực tuyến được sử dụng làm công cụ để tống tiền,kiểm soát, ép buộc, quấy rối, làm nhục, xâm phạm hay tấn công đến người khác Mộtphần của thách thức này là đặt ra một thuật ngữ thích hợp để mô tả một loạt các hành vigây nên tác hại trực tuyến dựa trên nhiều vấn đề tình dục khác nhau như: “trả thù bằngtình dục” “cưỡng hiếp ảo” “quấy rối trên mạng” và “sỉ nhục giới tính trực tuyến” cũngnhư việc sử dụng công nghệ mới để gây ra các tội ác truyền thống hoặc thông thườnghơn, chẳng hạn như bạo lực gia đình hoặc tấn công tình dục Các thuật ngữ hiện tại vàluật điều chỉnh các hành vi phạm tội như vậy ở nhiều khu vực tài phán quốc tế khôngnắm bắt được đầy đủ phạm vi, bản chất hoặc điểm giao nhau của những tác hại đó Cácphản ứng đối với lập pháp và chính sách thường coi các công nghệ hiện có và công nghệmới chỉ là "công cụ" để lạm dụng và như vậy làm lộ rõ những cách độc nhất mà nạn nhânsống sót phải chịu tổn hại Những hành vi này thường được đóng khung trong các bàidiễn thuyết công chúng bằng cách sử dụng ngôn ngữ uyển chuyển, nhẹ nhàng và hạn hẹptạo ra những khái niệm mô hình về hành vi (ví dụ: 'khiêu dâm trả thù') và trong quá trìnhnày, loại trừ các hành vi liên quan khác hoặc dẫn đến việc đổ lỗi cho cả nạn nhân và thủphạm Mặt khác, khi tập trung rộng hơn vào hiện tượng TFSV sẽ tạo cơ hội để phản ánhnhững điểm tương đồng giữa các hành vi, tác động và phản ứng đa dạng cũng như ngônngữ có vấn đề xung quanh chúng
In this article, we examine the scope and limitations of criminal laws for responding toTFSV We draw predominantly on Australian law as a means to illustrate the ways inwhich a common law country is grappling with these issues and the adequacy orinadequacy of current approaches within this context We examine the emergingliterature on TFSV and the criminal law (both in Australia and internationally) andcritically examine legislation as well as case law We argue that although perpetrators can
be prosecuted under existing criminal laws, these laws are often ill-equipped to capturethe gendered harms resulting from these behaviours Part of the issue, we argue, concernslaw’s pacing problem Law has typically been slow to respond to the emergence of newtechnologies as tools of abuse Existing laws are often inconsistent, outdated and poorly
Trang 6enforced across state, territory and federal jurisdictions in Australia (Henry and Powell,2015a) Moreover, law is often treated as the most effective, if not sole, remedy for suchharms Although we focus specifically on the role of criminal law, we conclude thearticle by arguing that attention must be given to broader measures both within andbeyond law to tackle the problem of digital abuse and violence.
In the article, we first conceptualize the phenomenon of TFSV as a form of genderbasedviolence We then explore a range of different behaviours that are encompassed underthis term and the array of existing criminal laws for responding to each of thesebehaviours
Trong bài viết này, chúng tôi xem xét phạm vi và giới hạn của luật hình sự đối với việcphản hồi TFSV Chúng tôi chủ yếu dựa trên luật pháp của nước Úc như một phương tiện
để minh họa các cách thức mà một quốc gia thông luật đang đối mặt với những vấn đềnày và tính đầy đủ hay không phù hợp của các phương pháp tiếp cận hiện tại trong bốicảnh này Chúng tôi kiểm chứng các tài liệu mới nổi về TFSV và luật hình sự (cả ở Úc vàquốc tế) và xem xét nghiêm túc luật pháp cũng như án lệ Chúng tôi cho rằng mặc dù thủphạm có thể bị truy tố theo luật hình sự hiện hành, nhưng những luật này thường không
đủ trang bị để nắm bắt được hết những tác hại về giới do những hành vi này gây ra Mộtphần của vấn đề, chúng tôi tranh luận, liên quan đến vấn đề nhịp độ của luật pháp Luậtpháp thường chậm phản ứng với sự xuất hiện của các công nghệ mới như một công cụlạm dụng Các luật hiện hành thường không nhất quán, lỗi thời và kém hiệu lực trên cáckhu vực tài phán của tiểu bang, lãnh thổ và liên bang ở Úc (Henry và Powell, 2015a).Hơn nữa, luật pháp thường được coi là biện pháp hữu hiệu nhất, nếu không phải nói làduy nhất, để khắc phục những tác hại đó Mặc dù chúng tôi tập trung đặc biệt vào vai tròcủa luật hình sự, chúng tôi vẫn sẽ kết thúc bài viết bằng cách lập luận rằng cần phải chú ýđến các biện pháp rộng hơn cả trong và ngoài luật để giải quyết vấn đề lạm dụng và bạolực trong thời đại kỹ thuật số
Trong bài báo, đầu tiên chúng tôi chỉ ra khái niệm hiện tượng TFSV là một dạng bạo lựctrên cơ sở giới Sau đó, chúng tôi khám phá một loạt các hành vi khác nhau được baohàm trong thuật ngữ này và một loạt các luật hình sự hiện hành để ứng phó với từng hành
vi này
TFSV and Harassment: A Continuum of Gendered Violence
Although there is currently a lack of empirical data on the prevalence of online forms ofsexual violence and harassment, and as such little is known about the gender of victimsand perpetrators, or the causes of these behaviours, we hypothesize that TFSV is agendered phenomenon for three interconnected reasons First, research to date supportsthe theory that although not the exclusive victims of violence, women and girls are the
Trang 7main targets of online digital sexualized violence Studies on ‘sexting’, for instance, showthat young women are more likely than young men to send explicit images of themselves(via mobile phone or other means) as a result of pressure or coercion from their malepartners or peers (Drouin et al., 2015; Ringrose et al., 2012) Other studies suggest thatwomen and girls are the primary targets of the non-consensual distribution of intimateimages online (revenge porn) (Citron and Franks, 2014; CCRI, 2014) Research alsoconsistently points to the prevalence of sexual violence in ‘offline’ contexts, wherewomen and girls are disproportionately the victims of sexual harassment, domesticviolence and sexual violence (see e.g ABS, 2006, 2013; Heenan and Murray, 2006).
TFSV và Sự Quấy Rối: Sự liên hoàn bạo lực giới
Mặc dù hiện tại còn thiếu rất nhiều dữ liệu thực nghiệm về mức độ phổ biến của các hìnhthức bạo lực và quấy rối tình dục trực tuyến, và do người ta còn ít chú ý về giới tính củanạn nhân và thủ phạm, hay nguyên nhân của những hành vi này, chúng tôi giả thuyết rằngTFSV là một hiện tượng theo giới tính vì ba lý do liên kết với nhau Thứ nhất, nghiên cứucho đến nay ủng hộ giả thuyết rằng mặc dù không phải là nạn nhân duy nhất của vấn đềbạo lực lạm dụng, nhưng phụ nữ và trẻ em gái là mục tiêu chính của các hành vi tấn côngtình dục kỹ thuật số trực tuyến Ví dụ, các nghiên cứu về hành vi 'gửi tin nhắn quấy rốitình dục' cho thấy phụ nữ trẻ có nhiều khả năng gửi các hình ảnh khiêu dâm của bản thân(qua điện thoại di động hoặc các phương tiện khác) do áp lực hoặc ép buộc từ bạn tìnhhoặc đồng nghiệp của họ (Drouin et al, 2015; Ringrose và cộng sự, 2012) Các nghiêncứu khác cũng cho thấy rằng phụ nữ và trẻ em gái là mục tiêu chính của việc bị phát táncác hình ảnh thân mật lên trên mạng mà không có sự đồng thuận của họ (Citron vàFranks, 2014; CCRI, 2014) Nghiên cứu cũng liên tục chỉ ra mức độ phổ biến của việctấn công tình dục trong bối cảnh "ngoại tuyến", nơi phụ nữ và trẻ em gái là nạn nhân củaquấy rối tình dục, bạo lực gia đình và bạo lực tình dục một cách bất cân xứng (xem ví dụ:ABS, 2006, 2013; Heenan và Murray, 2006)
Second, the impacts of these behaviours are gendered because women and girls mayexperience adverse impacts due the persistence of outdated myths and expectationssurrounding sexual norms and expectations for women specifically.1 And third,regardless of the gender of the perpetrator (or indeed the victim), a key factor underlyingthe perpetration of sexual violence is the social and structural context of genderhierarchization – a ‘historically constructed pattern of power relations between men andwomen and definitions of femininity and masculinity’ (Connell, 1987: 98–99)
Thứ hai, tác động của những hành vi này là theo giới tính vì phụ nữ và trẻ em gái có thểphải chịu những tác động tiêu cực do sự tồn tại của những lầm tưởng lạc hậu, những kỳvọng xung quanh các chuẩn mực và kỳ vọng tình dục đối với phụ nữ nói riêng Và thứ
Trang 8ba, bất kể giới tính của thủ phạm (hoặc thực sự là nạn nhân), một yếu tố cơ bản gây rabạo lực tình dục là bối cảnh xã hội và cấu trúc của phân cấp giới tính - một 'mô hình lịch
sử được xây dựng về quan hệ quyền lực giữa nam và nữ và các định nghĩa về nữ tính vànam tính' (Connell, 1987: 98–99)
In this article, we claim that TFSV is fundamentally an issue of gender We acknowledgethat men and boys are also subjected to TFSV and that these harms are likewisesignificant Nonetheless, it is important to note that women and girls may be targeted forparticular forms of digital abuse (e.g sexual assault or revenge porn) precisely because oftheir gender and the perpetrator’s intention to ‘slut-shame’ We also acknowledge theadverse impacts on already marginalized members of the community on the basis ofgender, sexuality, race and religion In perhaps the majority of cases of TFSV, whetheragainst male or females, or members of particular ethnicities, races, religions, or genderidentity or sexual orientation, the motivation for the behaviour stems essentially from theobjectification and debasement of the ‘other’ as many of our examples throughout thearticle show
Trong bài viết này, chúng tôi khẳng định rằng TFSV về cơ bản là một vấn đề về giới tính.Chúng tôi thừa nhận rằng nam giới và trẻ em trai cũng là đối tượng của TFSV và nhữngtác hại này cũng đáng kể Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là phụ nữ và trẻ em gái cóthể bị nhắm mục tiêu cho các hình thức lạm dụng kỹ thuật số cụ thể (ví dụ: tấn công tìnhdục hoặc khiêu dâm trả thù) chính xác vì giới tính của họ và ý định 'lăng mạ việc làm
“gái”' của thủ phạm Chúng tôi cũng thừa nhận những tác động bất lợi đối với nhữngthành phần đã bị gạt ra ngoài lề của cộng đồng trên cơ sở giới tính, tình dục, chủng tộc vàtôn giáo Có lẽ trong phần lớn các trường hợp TFSV, dù chống lại nam hay nữ, hoặc cácthành viên của các dân tộc, chủng tộc, tôn giáo cụ thể, bản dạng giới hoặc khuynh hướngtình dục, thì động cơ cho những hành vi này chủ yếu bắt nguồn từ việc phản đối và coithường 'người khác', được thể hiện qua nhiều luận cứ của chúng tôi trong suốt bài báo
In our discussion, we categorize these different behaviours in turn and give anexplanation as to how criminal law has addressed these harms, taking into account thescope of law (what is/is not covered); the extent to which legislation captures the uniqueharms of digital abuse; and any outstanding issues We acknowledge that there aresignificant overlaps between these different categories
Trong cuộc thảo luận, chúng tôi lần lượt phân loại các hành vi khác nhau này và đưa ralời giải thích về cách thức luật hình sự hoạt động để giải quyết những tác hại này, chúngtôi có tính đến phạm vi pháp lý (những gì được / không được đề cập); mức độ mà phápluật nắm bắt được những tác hại riêng của việc lạm dụng kỹ thuật số; và một số vấn đềkhác còn tồn tại Chúng tôi thừa nhận rằng có sự trùng lặp đáng kể giữa các danh mụckhác nhau này
Trang 9Dimensions of Digital Sexualized Violence
Revenge Porn: The Distribution of Sexual or Intimate Images Without Consent
The terms revenge porn, ‘non-consensual sexting’, ‘involuntary porn’ (Burns, 2015) and
‘non-consensual pornography’ (Citron and Franks, 2014; Franks, 2015) are usedinterchangeably to refer to the distribution of sexually explicit or intimate images (photos
or videos) without the consent of the subject.3 In some instances, the victim has taken theimage herself/himself (a ‘selfie’), or consented to someone else taking the image of them,but has not consented to its distribution In other cases, images have been doctored bysuperimposing the face or identity of a victim onto an existing pornographic image, orintimate images have been hacked from the victim’s computer or mobile device Infurther cases, nude or semi-nude images have been taken when a victim is asleep,unconscious, alcohol or drug affected and/or during a sexual assault and then distributedamong peer networks or shared online (see e.g Powell, 2015, and discussion below).4
Các khía cạnh của việc tấn công tình dục kỹ thuật số
Trả thù tình dục: Phát tán hình ảnh khiêu dâm, nhạy cảm mà không có sự đồng ý
Các thuật ngữ của hành vi khiêu dâm trả thù như, 'tình dục không đồng thuận', 'khiêu dâmkhông tự nguyện' (Burns, 2015) và 'nội dung khiêu dâm không đồng thuận' (Citron vàFranks, 2014; Franks, 2015) được sử dụng thay thế cho nhau để chỉ việc phân phối, phántán nội dung khiêu dâm hoặc hình ảnh thân mật (ảnh hoặc video) mà không có sự đồng ýcủa đối tượng Trong một số trường hợp, nạn nhân đã tự chụp những hình ảnh đó ('ảnh tựsướng') hoặc đồng ý cho người khác chụp ảnh họ, nhưng không đồng ý với việc phát táncủa nó Trong các trường hợp khác, hình ảnh đã được ngụy tạo bằng cách đặt khuôn mặthoặc danh tính của nạn nhân lên một hình ảnh khiêu dâm đã có sẵn hay ảnh thân mật đã
bị tấn công từ máy tính hoặc thiết bị di động của nạn nhân Thêm vào đó, trong cáctrường hợp khác nữa là, hình ảnh khỏa thân hoặc bán khỏa thân được chụp khi nạn nhânđang ngủ, bất tỉnh, bị ảnh hưởng bởi rượu hoặc ma túy và / hoặc trong khi bị tấn côngtình dục và sau đó được phát tán lên mạng xã hội hoặc chia sẻ trực tuyến (xem ví dụ:Powell, 2015, và thảo luận phía dưới)
In one Australian case, a man threatened to distribute a topless photo of his victim inorder to coerce her to have sex with him after she told him she wanted to end their casualsexual relationship (Bryan, 2015) Other instances involve the more ‘conventional’ orparadigmatic revenge porn cases, including a 2010 New Zealand case where the accusedposted a nude photo of his ex-girlfriend on Facebook after having logged into heraccount, uploaded the image, unblocked her privacy settings and then changed herpassword (Stuff, 2010) Similarly, in the first social networking-related conviction inAustralia in 2012, a Sydney man received a 6-month jail sentence after posting six nudeimages of his former girlfriend on Facebook (Police v Ravshan Usmanov, 2011,
Trang 10NSWLC 40).5 In the former case, the accused was charged with an indecency offence(morality and decency), and in the latter case, the accused was also charged with anindecency offence (publishing indecent articles) By way of comparison, in the UnitedKingdom in July 2015, a 21-year-old man became the first person to be convicted underthe new revenge porn legislation after sending intimate images of a woman to her familyand sharing them on Facebook (BBC, 2015).
Trong một trường hợp ở Úc, một người đàn ông đã đe dọa sẽ phát tán ảnh phần nửa trêncủa cơ thể nạn nhân để ép cô quan hệ tình dục với hắn sau khi cô nói với rằng cô muốnchấm dứt mối quan hệ tình cảm với hắn ta (Bryan, 2015) Các trường hợp khác liên quanđến các vụ án khiêu dâm trả thù 'thông thường' hoặc có qui mô hơn, bao gồm một trườnghợp ở New Zealand năm 2010, nơi thủ phạm đăng ảnh khỏa thân của bạn gái cũ lênFacebook sau khi đăng nhập vào tài khoản của cô ấy, tải hình ảnh lên, bỏ chặn cài đặtquyền riêng tư và sau đó thay đổi mật khẩu của cô ấy (Stuff, 2010) Tương tự, trong vụkết án đầu tiên liên quan đến mạng xã hội internet ở Úc vào năm 2012, một người đànông ở Sydney đã nhận án tù 6 tháng sau khi đăng sáu hình ảnh khỏa thân của bạn gái cũlên Facebook (Cảnh sát v Ravshan Usmanov, 2011, NSWLC 40) Trong trường hợptrước, bị cáo bị buộc tội phỉ báng (đạo đức và phẩm giá), và trong trường hợp sau, bị cáocũng bị buộc tội làm nhục, phỉ báng người khác (đăng tải các bài không đứng đắn) Để sosánh, ở Vương quốc Anh vào tháng 7 năm 2015, một người đàn ông 21 tuổi đã trở thànhngười đầu tiên bị kết tội theo luật khiêu dâm trả thù mới sau khi gửi những hình ảnh thânmật, nhạy cảm của một phụ nữ đến cho gia đình cô ấy và chia sẻ chúng trên Facebook(BBC , 2015)
The term revenge porn is a misnomer since not all perpetrators are motivated by revenge(Franks, 2015) and not all content constitutes or serves the purpose of ‘pornography’.First, in relation to motivations, whilst the paradigmatic revenge porn scenario might be
of a scorned and spiteful ex-lover posting images of his or her former partner ontomainstream or ‘ex-girlfriend’ pornography sites, or imageboard and social media sites,not all perpetrators distribute images out of vengeful motivations The term revenge porn
is inadequate to describe many situations where intimate or explicit images are beingdistributed for reasons such as coercion, blackmail, fun, sexual gratification, social status
or monetary gain For individuals who solicit images on dedicated revenge porn threadswithin online communities (such as reddit, 4Chan or 8Chan), or for those who provideonline platforms for the distribution of explicit images, revenge might not be a motive atall.6 The term is furthermore inadequate to capture the harm caused where thedistribution or threat of distribution of an explicit image is deployed as a means ofintimidating, silencing or otherwise extending power and control over victims ofdomestic and sexual violence (Henry and Powell, 2015a)
Trang 11Thuật ngữ khiêu dâm trả thù là một cách viết chưa hoàn toàn chính xác vì không phải tất
cả thủ phạm đều có động cơ trả thù (Franks, 2015) và không phải tất cả nội dung đều cấuthành hoặc phục vụ mục đích "nội dung khiêu dâm" Thứ nhất, liên quan đến động cơ,trong khi yếu tố cấu thành tội khiêu dâm trả thù có thể là một người yêu cũ bị khinh bỉ vàuất hận đăng hình ảnh của bạn tình cũ của anh ấy hoặc cô ấy lên các trang web khiêu dâmchính thống hay ‘ex-girlfriend’, hoặc các trang web truyền thông xã hội, nhưng khôngphải tất cả các thủ phạm phát tán hình ảnh đều vì động cơ báo thù này Thuật ngữ khiêudâm trả thù không đủ để mô tả các tình huống mà trong đó hình ảnh thân mật hay nhạycảm bị phát tán vì các lý do như ép buộc, tống tiền, thú vui tiêu khiển, thỏa mãn tình dục,địa vị xã hội hoặc kiếm tiền Đối với những cá nhân gạ gẫm hình ảnh trên các chủ đềkhiêu dâm trả thù chuyên dụng trong cộng đồng trực tuyến (chẳng hạn như reddit, 4Chanhoặc 8Chan) hoặc đối với những người cung cấp nền tảng trực tuyến để phân phối hìnhảnh khiêu dâm, thì chắc chắc rằng động cơ của những người này không phải là trả thù.Hơn nữa, thuật ngữ này không đủ khả năng để nắm bắt hết được tác hại gây ra khi việcphát tán hoặc đe dọa phát tán hình ảnh khiêu dâm được triển khai như một phương tiện
đe dọa, bịt miệng hoặc mở rộng quyền lực và kiểm soát đối với các nạn nhân của bạo lựcgia đình và tình dục (Henry và Powell, 2015a)
The second issue with the terminology – both revenge porn and non-consensualpornography – is that the focus is on the content of the image, which is framed aspornography, regardless of the image or the intent of the original creator of that image.Whilst this may fit with Dworkin and MacKinnon’s (1984: 321) definition ofpornography as ‘the graphic sexually explicit subordination of women’, it fails torecognize that many images are not per se ‘sexually graphic’ (e.g mid-dressed or showershots) Moreover, labelling the distribution of non-consensual images, pornography hasthe potential both to minimize the harm done to victims and to liken the images to anacceptable and/or desirable subgenre within commercially produced online pornography
As Rackley and McGlynn (2014) also note:
[t]here is a danger that the framing of this form of harassment and abuse as
‘‘pornography’’ shifts attention away from the motivations and actions of theperpetrators of the abuse and onto the content of the image and actions of thevictim
Vấn đề thứ hai với thuật ngữ - cả khiêu dâm trả thù và khiêu dâm không có sự đồng thuận
- là nội dung của hình ảnh, bị đóng khung mặc định là nội dung khiêu dâm, bất kể hìnhảnh hay mục đích của người tạo ra hình ảnh đó Mặc dù điều này có thể phù hợp với địnhnghĩa của Dworkin và MacKinnon (1984: 321) về nội dung khiêu dâm là ‘đồ họa, hìnhảnh khiêu dâm của phụ nữ’, nhưng vẫn có những hình ảnh không phải là 'hình ảnh khiêudâm' (ví dụ như cảnh mặc quần áo sơ mi hoặc đang tắm) Hơn nữa, việc gắn nhãn chohành vi phát tán hình ảnh không có sự đồng thuận, nội dung khiêu dâm vừa có khả năng
Trang 12giảm thiểu tác hại gây ra cho nạn nhân, vừa để ví những hình ảnh đó với một thế hệ nhỏhơn được chấp nhận hay mong muốn trong nội dung khiêu dâm trực tuyến được sản xuấtthương mại Như Rackley và McGlynn (2014) cũng đã lưu ý rằng:
Vấn đề ở đây là mối nguy hiểm khi việc đóng khung hình thức quấy rối và lạmdụng này là '' nội dung khiêu dâm '' khiến cho sự chú ý của chúng ta chuyển hướngkhỏi từ động cơ và hành động của thủ phạm và chuyển sang nội dung của hình ảnh
và hành động của nạn nhân
Of course, pornography, it is widely agreed, is notoriously difficult to define due thesheer diversity of ‘sexualized’ content and the interpretation of that content (e.g whetherthe intention or effect is sexual arousal) What constitutes pornography will very muchdepend on the ‘production, distribution, or reception’ (Andrews, 2012: 460) and althoughsome images will be produced, distributed and received specifically as pornography,many images fall outside of this frame Again, like images taken and distributed ofintimate partners without their consent where the purpose is humiliation and not sexualgratification (e.g in the context of domestic violence), the content does not generallyserve the purpose of pornography and indeed the images may have been taken in thecontext of a loving relationship
Dĩ nhiên, nội dung khiêu dâm, được nhiều người đồng tình và cỗ vũ rộng rãi, vấn đề ởđây là khó xác định do tính đa dạng tuyệt đối của nội dung 'kích dục' và cách giải thíchnội dung đó (ví dụ: cho dù mục đích hay tác dụng là kích dục) Điều gì cấu thành nộidung khiêu dâm sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc ‘sản xuất, phân phối hoặc tiếp nhận’(Andrews, 2012: 460) và mặc dù một số hình ảnh sẽ được sản xuất, phân phối và tiếpnhận, cụ thể là nội dung khiêu dâm, nhưng vẫn có rất nhiều hình ảnh nằm ngoài khungnày Một lần nữa, giống như hành vi chụp lại và phát tán những hình ảnh khiêu dâm củabạn tình lúc thân mật mà không có sự đồng ý của họ, thì hành vi này có mục đích là làmnhục chứ không phải để thỏa mãn tình dục (ví dụ: trong bối cảnh bạo lực gia đình), nộidung thường không phục vụ mục đích khiêu dâm và thực sự thì những hình ảnh đó có thể
đã từng được sử dụng khi cả hai còn trong mối quan hệ yêu đương
Some have instead suggested that revenge porn is a form of sexual assault or ‘cyberrape’.7 Whilst there are issues defining revenge porn in these terms (as eitherpornography or sexual assault/rape), no other term to date has proved satisfactory tocapture the types of behaviours that emerge under this category One alternative term is
‘imagebased sexual exploitation’ (see Powell, 2009, 2010) This mirrors debatesregarding child exploitation material, which uses this term to distinguish it frompornography but yet at the same time highlights the harmful circumstances of itsproduction and the continued harm associated with its dissemination First, image-basedsexual exploitation captures a wide variety of motivations driving the non-consensualdistribution of intimate images, including that of revenge Second, such images
Trang 13themselves need not be pornographic per se but rather are used as a form of sexualexploitation (e.g for sexual gratification, coercion, humiliation, revenge and otherreasons) And third, this term captures a broader range of contexts where the image wasoriginally produced, thus including situations where the victim has taken a selfie and hasshared it with someone else, but has not consented to any broader forms of distribution.Such a term can also encapsulate situations where the perpetrator or someone else takesthe image or when a victim does not know they are being filmed or photographed.Although we prefer this term for the abovementioned reasons, we nonetheless continue touse ‘revenge pornography’ in this article due to its popular use in public and academicdiscourses.
Thay vào đó, một số ý kiến cho rằng khiêu dâm trả thù là một hình thức tấn công tình dụchoặc ‘hãm hiếp trên mạng' Trong khi có những vấn đề về định nghĩa khiêu dâm trả thùtrong các thuật ngữ này (như khiêu dâm hoặc tấn công tình dục/hiếp dâm), cho đến naychưa có thuật ngữ nào khác chứng minh thỏa đáng nắm bắt các loại hành vi xuất hiệntrong danh mục này Một thuật ngữ thay thế là "bóc lột tình dục dựa trên hình ảnh" (xemPowell, 2009, 2010) Điều này phản ánh các cuộc tranh luận liên quan đến tài liệu bóc lộttrẻ em, khi sử dụng thuật ngữ này để phân biệt với nội dung khiêu dâm nhưng đồng thờilại nêu bật các hoàn cảnh có hại của quá trình sản xuất và tác hại liên tục liên quan đếnviệc phổ biến nội dung đó Thứ nhất, việc tấn công tình dục dựa trên hình ảnh lưu giữ lạiđược nhiều động cơ thúc đẩy việc phát tán các hình ảnh nhạy cảm mà không có sự đồngthuận, bao gồm cả hành động trả thù Thứ hai, bản thân những hình ảnh đó không cầnphải là khiêu dâm mà được sử dụng như một hình thức bóc lột tình dục (ví dụ: để thỏamãn tình dục, cưỡng bức, làm nhục, trả thù và các lý do khác) Và thứ ba, thuật ngữ nàyghi lại nhiều hoàn cảnh hơn về nơi hình ảnh được tạo ra ban đầu, do đó nó có thể baogồm được các tình huống nạn nhân đã chụp ảnh tự sướng và chia sẻ nó với người khác,nhưng không đồng ý với bất kỳ hình thức phát tán rộng rãi nào Thuật ngữ này cũng cóthể bao hàm các tình huống mà thủ phạm hoặc người khác lấy hình ảnh hay cả khi nạnnhân không biết họ đang bị quay phim hoặc chụp ảnh Mặc dù chúng tôi thích thuật ngữnày hơn vì những lý do đã đề cập ở trên, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục sử dụng 'nội dungkhiêu dâm trả thù' trong bài viết này do nó được sử dụng phổ biến trong các bài diễn văncông cộng và học thuật
In response to the increasing prevalence of revenge pornography, as well the growingappreciation of the significant harms and impacts on victims, a number of jurisdictionshave introduced specific legislation to criminalize the non-consensual distribution ofintimate images These include the Philippines (2009; maximum (max.) sentence 7years), Israel (2014; max sentence 5 years), Japan (2014; max sentence 3 years), Canada(2014; max sentence 5 years)9 , the United Kingdom (in England and Wales) (2014;max sentence 2 years)10 and New Zealand (2015; max sentence 2 years).11 At the time
Trang 14of writing, in the United States, 25 states had passed some form of revenge pornlegislation.12
Để đối phó với sự phổ biến ngày càng tăng của nội dung khiêu dâm trả thù, cũng nhưviệc đánh giá cao hơn những tác hại và tác động ngày càng tăng đối với nạn nhân, một sốkhu vực tài phán đã ban hành luật cụ thể để hình sự hóa việc phát tán không có sự đồngthuận của các hình ảnh thân mật Chúng bao gồm Philippines (2009; tối đa (tối đa) án 7năm), Israel (2014; tối đa 5 năm), Nhật Bản (2014; tối đa 3 năm), Canada (2014; tối đa 5năm) 9, Vương quốc Anh (ở Anh và xứ Wales) (2014; tối đa câu 2 năm) 10 và NewZealand (2015; tối đa câu 2 năm) Vào thời điểm viết bài, ở Hoa Kỳ, 25 tiểu bang đãthông qua một số hình thức của luật khiêu dâm trả thù
In Australia, Victoria is the only state or territory in Australia to have a specific offencethat makes it illegal to maliciously distribute, or threaten to distribute, intimate images ofanother person without their consent (2014; max sentence 2 years; section 41DA andsection 41DB, Crimes Amendment (Sexual Offences and Other Matters) Act 2014 (Vic)).South Australia has broader legislation making it a criminal offence to distribute withoutconsent an ‘invasive’ image (2013; max sentence 2 years; section 26C, SummaryOffences (Filming Offences) Amendment Act 2013 (SA)) At the Commonwealth(federal) level, whilst there is no specific criminal offence in place, broadertelecommunications offences can and have been used in relation to using a ‘carriageservice to menace, harass or cause offence’ (section 474.17, Crimes LegislationAmendment (Telecommunications Offences and Other Measures) Act (No 2) 2004).13
In all other Australian states and territories without specific legislation, options forcriminal charges include stalking (where a course of conduct needs to be established),blackmail, voyeurism or indecency These existing criminal offences are ill-suited to thediverse types of behaviours that are captured under the label of revenge pornography.Moreover, prosecuting offenders under indecency or obscenity offences impliesproblematically that the images themselves are offensive rather than the perpetrator’sbehaviour
Tại Úc, Victoria là tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ duy nhất ở Úc có hành vi phạm tội cụthể là phát tán bất hợp pháp hoặc đe dọa phát tán hình ảnh thân mật của người khác màkhông có sự đồng ý của họ (2014; bản án tối đa 2 năm; mục 41DA và phần 41DB, Đạoluật Sửa đổi Tội phạm (Vi phạm Tình dục và Các Vấn đề Khác) 2014 (Vic)) Nam Úc cóluật pháp rộng hơn khiến việc phát tán hình ảnh ‘xâm hại’ mà không được sự đồng ý(2013; bản án tối đa 2 năm; mục 26C, Đạo luật sửa đổi Tóm tắt về Vi phạm (Quay phim)
2013 (SA)) Ở cấp độ Liên Bang, mặc dù không có tội hình sự cụ thể, nhưng các tộiphạm về viễn thông lớn hơn có thể và đã được sử dụng liên quan đến việc dùng 'dịch vụvận chuyển để đe dọa, quấy rối hoặc gây ra tội' (mục 474.17, Bản sửa đổi Luật về Tộiphạm ( Đạo luật về Vi phạm Viễn thông và Các biện pháp Khác) (Số 2) 2004) Ở tất cả
Trang 15các bang và vùng lãnh thổ khác của Úc mà không có luật cụ thể, các yếu tố cấu thành đểbuộc tội hình sự bao gồm rình rập (khi cần phải thiết lập một hành vi), tống tiền, nhìntrộm hoặc phỉ báng người khác Những hành vi phạm tội hiện có này không phù hợp vớicác loại hành vi đa dạng được quy kết dưới nhãn nội dung khiêu dâm trả thù Hơn nữa,việc truy tố người phạm tội theo các tội khiếm nhã hoặc tục tĩu ngụ ý một vấn đề rằngbản thân những hình ảnh đó là phản cảm chứ không phải là hành vi của thủ phạm.
The introduction of specific revenge pornography criminal legislation regardless ofjurisdiction raises four key issues The first concerns the nature and content of the image.Different jurisdictions use a range of terms, including ‘intimate images’, ‘private sexualmaterial’, ‘nude or semi-nude images’ and ‘sexually explicit images’ However, whilst inmany cases, the law specifies that private, sexual or intimate images must be those ‘not ofthe kind ordinarily seen in public’ and must be what a reasonable person would consider
‘sexual’, in practice it is not clear what would constitute a sexual or ‘intimate’ image(McGlynn and Rackley, 2015) The Victorian legislation, for example, defines ‘intimateimage’ as ‘a moving or still image that depicts (a) a person engaged in sexual activity; (b)
a person in a manner or content that is sexual; or (c) the genital or anal region of a person,
or, in the case of a female, the breasts’
Sự ra đời của luật hình sự về nội dung khiêu dâm trả thù cụ thể bất kể quyền tài phán đãđặt ra bốn vấn đề chính sau đây Điều đầu tiên liên quan đến bản chất và nội dung củahình ảnh Các quyền tài phán khác nhau sử dụng nhiều thuật ngữ, bao gồm "hình ảnhthân mật", "tư liệu tình dục thầm kín", "hình ảnh khỏa thân hoặc bán khỏa thân" và "hìnhảnh khiêu dâm" Tuy nhiên, trong khi có nhiều trường hợp, luật quy định rằng hình ảnhriêng tư, tình dục hoặc thân mật phải là những hình ảnh 'không phải loại thường thấy ởnơi công cộng' và phải là hình ảnh mà một người bình thường dĩ nhiên sẽ coi là 'gợi dục',thế nhưng trong thực tế, những điều này đều không rõ ràng hay chỉ là loại hình ảnh ‘thânmật’ Chẳng hạn, luật pháp Victoria định nghĩa 'hình ảnh thân mật' là 'dạng clip hay hìnhảnh tĩnh mô tả (a) một người tham gia vào hoạt động quan hệ tình dục; (b) một ngườitheo một cách hiểu nào đó đang thể hiện hình ảnh khiêu dâm; hoặc (c) bộ phận sinh dụchay hậu môn của một người, ví dụ trong trường hợp của phụ nữ, thì đó có thể là ngực '
It is unclear whether images that a ‘reasonable person’ in the community might notconsider either intimate or sexual would actually be covered by these divergent laws Forinstance, would existing laws criminalize the non-consensual distribution of an intimateimage of a Muslim woman in her underwear without her hijab on (Yosufzai, 2015)?Similarly, it is unclear whether ‘female breasts’ include cleavage shots and whethertransgender or intersex persons are also protected under such legislation We contend thatthe law should take into account the nature and content of the image, the degree to whichthe distribution affects the privacy of the person, as well as the degree to which the
Trang 16distribution of images violates that person’s community’s standards of acceptableconduct.
Chúng ta vẫn chưa được làm rõ rằng liệu những hình ảnh mà một người bình thường cóthể không coi đó là hình ảnh thân mật hay gợi dục nhưng vẫn bị các luật khác nhau cheđậy hay không Ví dụ: liệu các luật hiện hành có hình sự hóa việc phát tán không có sựđồng thuận của một phụ nữ Hồi giáo mặc nội y mà không đeo khăn trùm đầu không(Yosufzai, 2015)? Tương tự, vẫn chưa rõ liệu 'ngực phụ nữ' có bao gồm những shot ảnhtừng phần hay không và liệu những người chuyển giới hoặc những người liên giới tính cóđược bảo vệ theo luật như vậy hay không Chúng tôi cho rằng luật phải tính đến bản chất
và nội dung của hình ảnh, mức độ ảnh hưởng đến quyền riêng tư của người đó, cũng nhưmức độ mà việc phát tán hình ảnh vi phạm các tiêu chuẩn ứng xử được chấp nhận củacộng đồng người đó
The second issue concerns the intention of the perpetrator Some jurisdictions require thatthe accused must have distributed the image with the specific intent to cause emotionaldistress, whilst others require ‘malicious intention’ or, alternatively, proof of harm to thevictim As noted above, perpetrators may have diverse motivations for distributingprivate sexual images without consent, including revenge, coercion, humiliation,blackmail, sexual gratification, social notoriety and financial gain Many perpetratorsthen do not necessarily have the intention to cause harm or emotional distress This poses
a challenge to legislators: Should laws apply to third parties who do not know that theimage was originally distributed without consent but who then goes on to distribute theimage? Or should the laws only apply if the person knows, or has reason to know, thatthe other person did not consent to the distribution of the image? As legal scholar Citron(2014: 15) claims, ‘[i]t should not be a crime, for instance, to repost a stranger’s nudephotos having no idea that person intended them to be kept private’ That does not mean
it is ethical to do so however, the law should only capture those who knowingly betrayanother person’s privacy or those who were reckless to whether or not the personconsented to the distribution of the image (e.g they did not give any thought to it).Moreover, whilst proving intent to cause harm or distress might be relativelystraightforward in some cases, in others, the difficulty of proving intent of the originaldistributor of the image, as well as others who repost and distribute the images, mayserve as an obstacle to successful revenge porn convictions (McGlynn and Rackley,2015)
Vấn đề thứ hai liên quan đến động cơ của hung thủ Một số khu vực pháp lý yêu cầungười bị buộc tội phải phát tán hình ảnh với mục đích cụ thể để gây ra đau khổ về mặttinh thần, trong khi những khu vực khác yêu cầu 'ý định xấu' hoặc phải có bằng chứng vềtổn hại đến nạn nhân Như đã lưu ý ở trên, thủ phạm có thể có nhiều động cơ khác nhau
để phát tán hình ảnh tình dục riêng tư mà không được sự đồng ý, bao gồm trả thù, cưỡng
Trang 17bức, làm nhục, tống tiền, thỏa mãn tình dục, tai tiếng xã hội và lợi ích tài chính Nhiềuthủ phạm sau đó không nhất thiết phải có ý định gây tổn hại hoặc đau khổ về tình cảm.Điều này đặt ra một thách thức cho các nhà lập pháp: Liệu luật có nên áp dụng cho cácbên thứ ba không biết rằng hình ảnh ban đầu được phát tán mà không có sự đồng ý nhưngsau đó có người lại tiếp tục phát tán những hình ảnh đó? Hay luật chỉ nên áp dụng nếungười đó biết, hoặc có lý do để biết rằng người kia không đồng ý việc phân phối hìnhảnh? Như học giả pháp lý Citron (2014: 15) tuyên bố rằng, ‘không nên xem đây là phạmtội, trong trường hợp: đăng lại ảnh khỏa thân của một người lạ mà không biết rằng người
đó muốn giữ chúng ở chế độ riêng tư” Điều đó không có nghĩa là làm như vậy thì sẽ viphạm đạo đức, tuy nhiên, luật pháp chỉ nên quy chụp những người cố ý xâm phạm quyềnriêng tư của người khác hoặc những người liều lĩnh xem người đó có đồng ý cho việcphát tán hình ảnh (ví dụ: họ không đưa ra bất kỳ suy nghĩ nào với nó) Hơn nữa, việcchứng minh ý định gây tổn hại hoặc đau khổ có thể tương đối đơn giản trong một sốtrường hợp, nhưng trong một số trường hợp khác, có thể sẽ gặp khó khăn trong việcchứng minh ý định của những người phát tán hình ảnh ban đầu, cũng như những ngườiđăng lại và tiếp tục phát tán hình ảnh, có thể là một trở ngại để trả thù về khiêu dâm thànhcông (McGlynn và Rackley, 2015)
A third issue concerns the harms of revenge pornography and whether this could replace
or supplement the mental element of the accused in specific legislation It is important toacknowledge that in some instances, there may be little or no harm to the subject of theimage Conversely, in other situations, there may be adverse and farreaching physical,psychological, social and financial consequences for victims, including risks to personalsafety due to stalking and/or further domestic violence; shame and humiliation; alteredrelationships with others; reputational damage; loss of employment prospects; victimblaming; withdrawal from social life and low self-esteem and paranoia among a wholerange of other afflictions (see Citron and Franks, 2014) Therefore, we argue that theintroduction of specific criminal legislation is important to acknowledge the harmsassociated with the non-consensual distribution of intimate images In the absence oflegal frameworks to address this serious and emerging issue, victims, perpetrators and thecommunity more generally will continue to place the blame on women, and in theprocess, exacerbate existing psychological and social harms
Vấn đề thứ ba liên quan đến tác hại của nội dung khiêu dâm trả thù và liệu điều này cóthể thay thế hoặc bổ sung yếu tố tinh thần của bị cáo trong luật cụ thể hay không Điềuquan trọng là phải thừa nhận rằng trong một số trường hợp, có thể có ít hoặc không gâyhại cho chủ thể của hình ảnh Ngược lại, trong các tình huống khác, có thể gây ra nhữnghậu quả bất lợi và sâu sắc hơn về thể chất, tâm lý, xã hội và tài chính cho nạn nhân, baogồm các rủi ro đối với an toàn cá nhân do bị rình rập hoặc thêm hành vi bạo lực gia đình;xấu hổ và nhục nhã; thay đổi mối quan hệ với những người khác; thiệt hại về danh tiếng;mất đi cơ hội việc làm; đổ lỗi cho nạn nhân; rút lui khỏi cuộc sống xã hội và bị hạ thấp
Trang 18lòng tự trọng và hoang tưởng cùng với hàng loạt những phiền não khác (xem Citron vàFranks, 2014) Do đó, chúng tôi cho rằng sự ra đời của luật hình sự là rất quan trọng đểthừa nhận những tác hại liên quan đến việc phát tán các hình ảnh thân mật nhạy cảm màkhông có sự đồng thuận Trong trường hợp không có khuôn khổ pháp lý để giải quyếtvấn đề nghiêm trọng và đang nổi lên này, các nạn nhân, thủ phạm và cộng đồng nóichung sẽ tiếp tục đổ lỗi cho phụ nữ, và trong quá trình đó, làm trầm trọng thêm các táchại hiện có về tâm lý và xã hội.
Finally, the fourth issue surrounding the criminalization of revenge pornographyconcerns the platform or medium in which such images are shared and distributed andhow they are shared For instance, does revenge pornography only include imagesdistributed in online form? Does ‘distribution’ also encapsulate the ‘showing’ or
‘sharing’ of these images (e.g a person showing a video or photo on their mobile phone
to another person)? In some jurisdictions, it is made clear that images include photograph
or film sent as text messages, distributed on social networking sites or distributed inoffline form This indicates that although revenge pornography is an emerging issue due
to the development of new technologies, it is not actually a new phenomenon as peoplehave been distributing intimate images without consent prior to the advent of smartphones and social media
Cuối cùng, vấn đề thứ tư xung quanh việc hình sự hóa nội dung khiêu dâm trả thù liênquan đến nền tảng hoặc phương tiện mà những hình ảnh đó được chia sẻ và phát tán cũngnhư cách chúng được chia sẻ Ví dụ, có phải nội dung khiêu dâm trả thù chỉ bao gồm cáchình ảnh được phát tán dưới dạng trực tuyến? Có phải "phát tán" cũng chỉ gói gọn trongviệc "hiển thị" hoặc "chia sẻ" những hình ảnh này (ví dụ: một người hiển thị video hoặcảnh trên điện thoại di động của họ cho người khác)? Ở một số khu vực pháp lý, quy định
rõ rằng hình ảnh bao gồm ảnh chụp hoặc phim được gửi dưới dạng tin nhắn văn bản,được phát tán trên các trang mạng xã hội hoặc được phát tán ở dạng ngoại tuyến Điềunày chỉ ra rằng mặc dù nội dung khiêu dâm trả thù là một vấn đề đang nổi lên do sự pháttriển của công nghệ mới, nó thực sự không phải là một hiện tượng mới vì mọi người đãphát tán những hình ảnh thân mật mà không có sự đồng ý trước khi điện thoại thôngminh và phương tiện truyền thông xã hội ra đời
Furthermore, there is some debate about whether website operators should haveimmunity from prosecution (Cecil, 2014; Franklin, 2014) In Australia, under proposedfederal legislation, website operators would be liable for up to 5 years if they possess,control, produce, supply or obtain for commercial purposes or some kind of benefit
‘private sexual material for use through a carriage service’ (Criminal Code Amendment(Private Sexual Material) Bill 2015) In other words, the onus is on the website operator
to take all steps to ensure that another person providing the image has verified that theyown the image and/or that the image is being distributed with the subject’s consent It
Trang 19should not be enough for websites to simply provide victims with an option of requestingtheir images be removed from their websites In October 2015, for instance, Pornhub, thelargest pornography site on the Internet, announced a reporting option for victims ofrevenge pornography but did not take the extra step of requiring uploaders to verifyimages are consensual (Brown, 2015).
Hơn nữa, có một số cuộc tranh luận về việc liệu các nhà điều hành trang web có nên đượcmiễn trừ truy tố hay không (Cecil, 2014; Franklin, 2014) Tại Úc, theo luật liên bangđược đề xuất, các nhà điều hành trang web sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý lên đến 5năm nếu họ sở hữu, kiểm soát, sản xuất, cung cấp hoặc lấy các mục đích thương mại, một
số loại 'tài liệu tình dục riêng tư để sử dụng thông qua dịch vụ vận chuyển' (Hình sự Dựluật Sửa đổi Bộ luật (Tài liệu Tình dục Riêng tư) 2015) Nói cách khác, nhà điều hànhtrang web có trách nhiệm thực hiện tất cả các bước để đảm bảo rằng một người khác cungcấp hình ảnh phải xác minh rằng họ sở hữu hình ảnh hoặc hình ảnh đang được phát tánvới sự đồng ý của chủ thể Sẽ không đủ và đơn giản để các trang web chỉ cung cấp chonạn nhân một tùy chọn yêu cầu xóa hình ảnh của họ khỏi trang web Ví dụ, vào tháng 10năm 2015, Pornhub, trang web khiêu dâm lớn nhất trên Internet, đã công bố tùy chọn báocáo cho các nạn nhân của nội dung khiêu dâm trả thù nhưng không thực hiện thêm bướcyêu cầu người tải lên xác minh hình ảnh đã có sự đồng ý hay không (Brown, 2015)
Although there are a range of existing civil avenues available to victims (including undercivil laws such as anti-discrimination, copyright, breach of confidence and defamation),neither civil or criminal laws adequately protect or provide a remedy for victims ofrevenge pornography This is for three key reasons The first is that the costs associatedwith civil litigation may be overly burdensome for the average victim who may not havethe financial means to bring civil action under existing laws The second reason is thatexisting criminal offences that are not specific to revenge pornography behaviours do notcapture the harms of revenge porn or provide an effective deterrent against thesebehaviours since in the absence of legislation, perpetrators may not know that thenonconsensual distribution of intimate images is a wrong And third, neither new norexisting civil or criminal laws are capable of stopping the spread of the image once it hasbeen posted online (see Citron and Franks, 2014)
Mặc dù một loạt các con đường pháp lý dân sự hiện có dành cho nạn nhân (bao gồm cả theoluật dân sự như chống phân biệt đối xử, bản quyền, vi phạm lòng tin và phỉ báng), cả luậtdân sự và hình sự đều không bảo vệ hay cung cấp biện pháp khắc phục hậu quả cho nạn nhâncủa hành vi khiêu dâm trả thù Đây là vì ba lý do chính Thứ nhất là chi phí liên quan đếnkiện tụng dân sự có thể quá nặng nề đối với nạn nhân không có địa vị quá cao, những ngườikhông có đủ phương tiện tài chính để khởi kiện dân sự theo luật hiện hành Lý do thứ hai làcác hành vi phạm tội hiện tại không dành riêng cho các hành vi khiêu