1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) sơ lược kinh tế chính trị hàng hóa và các vấn đề về hàng hóa một số câu hỏi phổ biến và câu trả lời

36 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sơ lược kinh tế chính trị hàng hóa và các vấn đề về hàng hóa một số câu hỏi phổ biến và câu trả lời
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 425,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Adam Kinh tế chính trị mang tầm ảnh hưởng đến các ngành khoa học khác và đôi lúc được dùng để giải thích một số hiện tượng liên quan đến kinh tế và chính trị, xã hội,…Sự ảnh hưởng của k

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh tế chính trị là một môn khoa học tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề giữa hàng hóa và sự trao

đổi hàng hóa dưới góc nhìn chính trị Năm 1615, kinh tế chính trị được đề cập lần đầu tiên trong tác phẩm Traite d’economie politique Được kết hợp bởi một số Hy Lạp ngữ, mang nghĩa là thiết chế chính trị, kinh tế chính trị xuất hiện với mục đích cung cấp các khái niệm cơ bản về cung cầu,

lợi nhuận, thương mại,… Các trường phái kinh tế chính trị đặt ra hệ ý thức

cho các nhà kinh tế học Kinh tế chính trị và trường phái chính trị nhận sự tác động lớn từ triết học Kinh tế chính trị được xem như là kinh tế học dưới góc nhìn của một số nhà kinh tế học:

Political economy considered as a branch of the science of a statesman or legislator proposes two distinct objects, first, to supply a plentiful revenue or subsistence for the people, or more properly to enable them to provide such a revenue or subsistence for themselves; and secondly, to supply the state or commonwealth with a revenue sufficient for the public service It proposes to enrich both the people and the

sovereign.

-Adam Kinh tế chính trị mang tầm ảnh hưởng đến các ngành khoa học khác và đôi lúc được dùng để giải thích một số hiện tượng liên quan đến kinh tế và chính trị, xã hội,…Sự ảnh hưởng của kinh tế chính trị với các ngành khoa học xã hội được thể hiện rõ thông qua mối liên hệ giữa các khái

Smith-niệm cơ bản: quan hệ xã hội trong xã hội học, quan hệ giữa sản xuất với xã hội loài người, sự ảnhhưởng giữa hệ thống tư bản toàn cầu với nền chính trị địa phương trong nhân loại học, quy luật vận hành kinh tế - xã hội đối với sử học, quản lý đất nước và xã hội thông qua hệ thống luật pháp,

… Đồng thời, sinh thái học cũng có sự tác động cực kỳ lớn đến kinh tế

- chính trị nói riêng và con người nói chung Tiểu luận được soạn dựa trên cơ sở:

- Tài liệu hướng dẫn ôn tập môn “ Kinh tế chính trị Mác – Lenin” (Khoa lý luận chính trị đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh )

- Nguồn Kinh tế chính trị ( wikipedia )

Nội dung chính tiểu luận bao gồm:

- Phần thứ nhất: Sơ lược kinh tế chính trị

- Phần thứ hai: Hàng hóa và các vấn đề về hàng hóa

- Phần thứ ba: Một số câu hỏi phổ biến và câu trả lời

Trong quá trình biên soạn, tuy đã qua khung kiểm tra và đánh giá, tuy nhiên không tránh khỏinhững sai sót, mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả cho sự sửa chữa được tiến hànhmột cách tốt nhất, đem lại bản tiểu luận hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 12 năm 2021

TRƯỞNG NHÓM THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

1 | T r a n g

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN THỨ NHẤT Chương 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VÀ CÂU HỎI 3

Chương 2: KINH TẾ CHÍNH TRỊ LÀ GÌ? 4

I KHÁI NIỆM 4

II TRƯỜNG PHÁI CHÍNH 10

III PHƯƠNG PHÁP LUẬN 11

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ CHỨC NĂNG 12

V TIẾP THU VÀ KẾ THỪA 13

VI NỘI DUNG CƠ BẢN 13

PHẦN THỨ HAI Chương 1: HÀNG HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNG HÓA I Khái Niệm Hàng Hóa 16

II Sản Xuất Hàng Hóa 17

III Bản Chất Hàng Hóa 19

Chương 2: Ý NGHĨA THỰC TIỄN 29

PHẦN THỨ BA CÂU HỎI PHỔ BIẾN VÀ CÂU TRẢ LỜI 30

_

Trang 3

đầy đủ nhất về nhân tố mang tính ảnh hưởng đặc biệt trong kinh tế, đó là Hàng hóa

Thông qua đó, chúng ta hiểu rõ về các nền tảng quan trọng của hàng hóa, bao gồm: sản xuất hàng hóa, bản chất hàng hóa, …

- Kinh tế chính trị là gì?

- Một số sơ lược về kinh tế chính trị?

- Phân tích về điều kiện sản xuất hàng hóa?

- Phân tích bản chất hàng hóa?

- Phân tích lượng giá trị và những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị?

- Ý nghĩa thực tiễn của hàng hóa?

Trang 4

tế chính trị chú trọng nghiên cứu về các vấn đề kinh tế và xã hội, qua đó, có thể đưa ra

những quy luật chung hiệu quả nhất, góp phần phát triển nền kinh tế của một quốc gia

1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời

Về kinh tế

Hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp ở một loạt nước tư bản chủ nghĩa, mở đầu là ở nướcAnh vào những năm 70 của thế kỷ XVIII và kết thúc vào những năm 20 của thế kỷ XIX, khinền đại công nghiệp cơ khí được xác lập Nó đem lại cho chủ nghĩa tư bản những kết quả sau:

- Biến lao động thủ công thành lao động máy móc và làm cho chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn đại công nghiệp cơ khí

- Làm cho chủ nghĩa tư bản chiến thắng hoàn toàn xã hội phong kiến và cho giai cấp vô sản phải phụ thuộc vào giai cấp tư sản cả về kinh tế lẫn kỹ thuật

- Làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển trên cơ sở vật chất-kỹ thuật của chính bản thân nó

Do vậy đến đây chủ nghĩa tư bản bộc lộ đầy đủ những mâu thuẫn và bản chất cơ bản của nónhư khủng khoảng, thất nghiệp…

Về chính trị - xã hội

Đại công nghiệp cơ khí ra đời dẫn tới sự xuất hiện một giai cấp mới - giai cấp vô sản (giai cấpcông nhân công nghiệp) Giai cấp này cùng với giai cấp tư sản hình thành nên hai giai cấp cơbản trong xã hội tư bản Giai cấp tư sản là giai cấp nắm toàn bộ tư liệu sản xuất, nắm quyềnthống trị xã hội; giai cấp vô sản là giai cấp không còn tư liệu sản xuất, đi làm thuê cho giai cấp

tư sản, cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp tư sản phát triển cả về mặt sốlượng và mặt chất lượng

Do bị áp bức và bị bóc lột nặng nề nên giai cấp vô sản đã từng bước đứng lên đấu tranh vớigiai cấp tư sản và đã trở thành những phong trào rộng lớn: phong trào đấu tranh của giai cấpcông nhân ở Lyon (Pháp); phong trào hiến chương ở Anh… Nhưng tất cả những phong trào

Trang 5

này đều mang tính tự phát, nên một yêu cầu khách quan phải có một lý luận khoa học để dẫnđường, nhằm đưa phong trào đấu tranh của công nhân từ tự phát lên tự giác.

Về mặt tư tưởng

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX có nhiều phát minh khoa học làm cơ sở lý luận cho việc lýgiải các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Đặc biệt có ba trào lưu tư tưởng lớn: Triết học

cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp Đây là những trào lưu

có nhiều thành tựu khoa học để các nhà kinh tế học mác-xít kế thừa và phát triển

Đối với triết học cổ điển Đức: Trong phép biện chứng duy tâm của F.Hegel, chủ nghĩa duy vậtsiêu hình của Feuerbach, các nhà kinh tế mác-xít đã khắc phục mặt duy tâm và siêu hình, đồngthời kế thưa phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật của các ông để xây dựng nên phương phápluận khoa học của mình, đó là phép duy vật biện chứng

Đối với kinh tế chính trị Anh: các nhà kinh tế học mác-xít đã kế thừa những thành tựu khoahọc của trường phái tư sản cổ điển về lý luận giá trị, tiền tệ, tiền công, lợi nhuận, địa tô…Đồng thời khắc phục những hạn chế, từ đó bổ sung, phát triển làm cho những lý luận trở lênhoàn chỉnh và khoa học

Đối với chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: các nhà kinh tế học mác-xít đã khắc phục tínhkhông tưởng của họ là dựa vào nhà nước tư sản và lòng từ thiện của các nhà tư sản để xóa bỏchủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới Từ đó đưa chủ nghĩa xã hội không tưởng thành khoahọc

Tóm lại, trên cơ sở kế thừa tinh hoa của nhân loại, kết hợp với thực tiễn của chủ nghĩa tư bản

và với tài năng trí tuệ của mình Mác, Ăngghen và Lênin đã sáng lập và phát triển kinh tế chính trị mácxít

2 Đặc điểm kinh tế chính trị Mác - Lênin

Kinh tế chính trị Mác - Lênin do C.Mác và Ăng-ghen sáng lập và Lênin phát triển trong điềukiện lịch sử mới

Học thuyết kinh tế Mác - Lênin là sự kết thừa những tinh hoa của nhân loại

Những tư tưởng kinh tế xuất hiện rất sớm, ngay từ thời cổ đại và nó không ngừng được pháttriển, đến chủ nghĩa tư bản những tư tưởng này phát triển trở thành những học thuyết kinh tế:trọng thương, trọng nông, tư sản cổ điển, tiểu tư sản, không tưởng… những học thuyết này cónhiều thành tựu đồng thời cũng có nhiều hạn chế Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa nhữngthành tựu của họ và khắc phục những hạn chế để xây dựng lện học thuyết kinh tế chính trịMác - Lênin

Học thuyết kinh tế Mác - Lênin dựa trên phương pháp luận khoa học

Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu kinh tế chính trị Mácxít: Biện chứng duy vật, đồngthời còn sử dụng một loạt các phương pháp khác như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học,lôgíc và lịch sư, phân tích, tổng hợp…

Với những phương pháp nghiên cứu như trên đã khắc phục được những hạn chế của cácphương pháp nghiên cứu của các nhà kinh tế đi trước (quan sát, duy tâm khách quan, duy tâmchủ quan…) và đi vào nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình kinh tế từ trong quá trình sảnxuất vật chất, quá trình vận động phát triển, và trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.Học thuyết kinh tế Mác -Lênin là sự khái quát thực tiễn sinh động của chủ nghĩa tư bản

Trang 6

Những nhà kinh tế trước Mác sống trong thời kỳ chủ nghĩa tư đang trên đà phát triển theochiều hướng tiến bộ chưa bộc lộ những mâu thuẫn và chưa bộc lộ đày đủ bản chất của nó nênnhững học thuyết của họ còn nhiều mặt hạn chế Đến Mác, Ăngghen, Lênin thì chủ nghĩa tưbản đã hoàn thành cách mạng công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa Thực tiễn đó đã chophép Mác và tiếp đó là Lênin đã phân tích một cách sâu sắc và đầy đủ về bản chất và quá trìnhvận động của chủ nghĩa tư bản.

Học thuyết kinh tế Mác - Lênin là nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin gồm ba bộ phận cấu thành: Triết học Mác-Lênin; Kinh tế chính trịMác-Lênin; Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mỗi bộ phận có vị trí, vai trò và nội dung riêng, trong đó kinh tế chính trị là môn khoa họcnghiên cứu mặt xã hội của quá trình sản xuất

3 Quá trình hình thành và phát triển của học thuyết kinh tế chính trị Mác

- Giai đoạn 1843 - 1848

Đây là giai đoạn hình thành cơ sở triết học và phương pháp luận của C.Mác và Ăngghen để đivào nghiên cứu kinh tế chính trị Lúc đầu các ông là những người dân chủ cách mạng, tích cựctham gia phong trào đấu tranh vì tự do dân chủ, bảo vệ lợi ích của nông dân, đòi tự do báo chí

và bắt đầu tìm hiểu những vấn đề về kinh tế Các ông đã xây dựng thế giới quan phương phápluận khoa học - Phương pháp duy vật biện chứng Đồng thời các ông chuyển từ lập trường dânchủ sang lập trường chủ nghĩa cộng sản

Trong giai đoạn này, các ông viết một số tác phẩm sau:

“Bản thảo kinh tế- triết học” (1844); “Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị” (1844); “Tìnhcảnh giai cấp lao động ở Anh” (1844); “Hệ tư tưởng Đức” (1846); “Sự khốn cùng của triết học”(1847); “Lao động làm thuê và tư bản” (1849); “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848)

Trong những tác phẩm trên, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được coi là mốc mở đầu của thờiđại mới trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế Đây là tác phẩmtrình bày một cách xúc tích nhất những tư tưởng, quan điểm về: triết học, kinh tế chính trị học

và chủ nghĩa cộng sản khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen Thể hiện cụ thể như sau:

- Các ông đã khẳng định cơ sở kinh tế là nhân tố quyết định chính trị, tư tưởng của thời đại,sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đặc biệtkhi xã hội có giai cấp, thì lịch sử xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp làđộng lực phát triển của xã hội loài người (các ông đã vượt khỏi tư tưởng duy tâm và siêuhình)

- Các ông đã xác định được đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là nghiên cứu mặt xãhội của quá trình sản xuất và trao đổi những của cải vật chất nhất định của một xã hội., đồngthời các ông đi vào nghiên cứu các khái niệm, phạm trù, quy luật của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa: hàng hóa, tiền tê, tư bản, giá trị, sở hữu… và đi đến kết luận: những ngườicộng sản có nhiệm vụ xóa bỏ chế độ tư hữu

- Các ông khẳng định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là phương thức tồntại vĩnh viễn, nó tất yếu sẽ bị tiêu vong và được thay thế bằng một phương thức phát triển caohơn - đó là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa Sứ mệnh lịch sử này là do giai cấp côngnhân đảm nhận

Trang 7

Từ 1857 - 1858, C.Mác viết bản thảo kinh tế đầu tiên (không được xuất bản) Ở đây, C.Máctrình bày những quan điểm của mình về đối tượng, phương pháp nghiên cứu của kinh tế chínhtrị; về hàng hóa, tiền tệ, tư bản, lợi nhuận, lợi tức và về tuần hoàn, chu chuyển của tư bản.Đến năm 1859, C.Mác viết tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” Trong tácphẩm này ông tiếp tục trình bày những tư tưởng của mình về duy vật lịch sử, về hàng hóa, giátrị, tiền tệ.

Từ 1861 - 1863 C.Mác viết bản thảo kinh tế thứ hai gồm 23 quyển với 1472 trang và lấy tên là

“Tư bản” Trong bản thảo này, ông trình bày quá trình chuyển hóa của tiền thành tư bản, giátrị thặng dư tuyệt đối và tương đối, lợi nhuận bình quân, và sơ đồ tái sản xuất tư bản xã hội

Từ 1864 - 1865 C.Mác viết bản thảo thứ ba và chuẩn bị tư liệu cho bản thảo thứ tư Trong bảnthảo thứ ba, ông trình bày về các loại hình tư bản

Như vây, C.Mác dự kiến bộ Tư bản của ông gồm 4 quyển: Quyển I: Quá trình sản xuất của tưbản

Quyển II: Quá trình lưu thông của tư bản

Quyển III:Toàn bộ quá trình sản xuất của tư bản chủ nghĩa Quyển IV: Phê phán lịch sử lýluận giá trị thặng dư

Năm 1867, Quyển I bộ Tư bản được xuất bản bằng tiếng Đức, sau đó được tái bản bằng nhiềuthứ tiếng khác nhau Do điều kiện phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và sức khoẻ,ông thể tiếp tục xuất bản những quyển tiếp theo

Sau khi C.Mác mất, Ăngghen kế tục sự nghiệp của ông Ăngghen chỉnh lý và cho xuất bản 2quyển tiếp theo vào những năm: 1885 và 1894

Ăngghen cùng Mác viết tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta, khi Mác mất ông đã viết tácphẩm Chống Đuyrinh để bảo vệ và phát triển học thuyết kinh tế của Mác Thông qua tác phẩmnày Ăngghen đã khái quát bộ Tư bản thành ba bộ phận: Triết học Mácxít; Kinh tế chính trịmácxít; Chủ nghĩa xã hội khoa học

4 Những đóng góp của Mác và Ăng-ghen trong kinh tế chính trị

- Mác đưa ra quan điểm mới về đối tượng và phương pháp cỉa Kinh tế chính trị (Mà phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phương pháp duy vật biện chứng là nền tảng)

- Mác đưa ra quan điểm lịch sử về sự phát triển kinh tế vào việc phân tích các phạm trù, các quy luật kinh tế

- Dựa trên quan điểm lịch sử, Mác thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị - lao động (giải quyết được bết tắc cảu các trào lưu tư tưởng kinh tế trước đây)

Trang 8

- Công lao to lớn của Mác là xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác.

- Công lao to lớn của Mác còn thể hiện ở một loạt phát hiện khác nhau như phân tích tích lũy

tư bản, sự bần cùng hóa giai cấp vô sản, nghuyên nhân nạn thất nghiệp…

- Mác, Ăngghen đã dự đoán về những nội dung của xã hội tương lai

- Lý luận kinh tế Mácxít đã vạch ra mâu thuẫn cơ bản của xác hội tư bản, vạch ra quy luật vận động tất yếu của lịch sử

5 Điều kiện mới

Về kinh tế: Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đây là thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng khoa

học kỹ thuật lần thứ 2 - Phát minh ra năng lượng điện Cơ khí hóa chuyển thành điện khí hóalàm thay đổi cơ cấu kinh tế của chủ nghĩa tư bản: công nghiệp nặng chiếm vị trí hàng đầu, đẩymạnh quá trình tập trung sản xuất, cạnh tranh mạnh mẽ, khủng hoảng kinh tế… Từ đó xuấthiện các công ty, các xí nghiệp khổng lồ, xuất hiện các tổ chức độc quyền Biến chủ nghĩa tưbản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa đế quốc

Về chính trị: Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa đế quốc làm xuất

hiện chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) để phân chia lại thị trường thế giới giữa cáccường quốc đế quốc Sau năm 1895 Ph Ăngghen mất Quốc tế cộng sản II đi vào con đườngphản bội chủ nghĩa Mác, xuất hiện yêu cầu cần phải bảo vệ chủ nghĩa Mác

6 Quá trình hình thành và phát triển lý luận của V.Lênin

Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917

Đây là giai đoạn V.I.Lênin tiếp tục phát triển các lý luận về chủ nghĩa tư bản của C.Mác vàPh.Ăngghen, ông đi vào nghiên cứu giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản - chủ nghĩa đế quốc.Ông viết một số tác phẩm: “Vấn đề dân tộc trong cương lĩnh của chúng ta” (1908); “Chiếntranh và phong trào dân chủ - xã hội Nga” (1914); “Sự phá sản của Quốc tế II” (1915); “Chủnghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” (1916)

Tác phẩm nổi bật nhất là “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”.V.I.Lênin đã trình bày được bản chất kinh tế - chính trị của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời vạch

ra được xu hướng vận động của chủ nghĩa đế quốc đây là tác phẩm kế tục trực tiếp bộ Tư bảncủa C.Mác, là sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong giai đoạn độc quyền

Giai đoạn sau cách mạng Tháng Mười năm 1917 đến năm 1924

Đây là giai đoạn V.I.Lênin tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa đế quốc và đồngthời ông đi vào nghiên cứu mô hình chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ

Ông đi vào viết một số tác phẩm: “Về bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản" (1918);

“Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết” (1918); “Kinh tế chính trị trong thời đạichuyên chính vô sản” (1919); “Bàn về thuế lương thực” (1921); “Về tác dụng của vàng hiệnnay và sau khi chủ nghĩa xã hội hoàn thành thắng lợi” (1922); “Bàn về chế độ hợp tác xã”(1922)…

Lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội

Trang 9

Trên cơ sở lý luận tái sản xuất tư bản xã hội của C.Mác, V.I.Lênin đã bổ sung thêm một sốđiểm cho sát với hiện thực của xã hội tư bản trong giai đoạn phát triển mới của nó Ông chiakhu vực I - khu vực sản xuất tư liệu sản xuất thành hai khu vực nhỏ: Khu vực sản xuất tư liệusản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệutiêu dùng; đồng thời ông cho cấu tạo hữu cơ c/v thay đổi, qua thực tiễn 4 năm, ông đã rút raquy luật ưu tiên phát triển tư liệu sản xuất (thực chất là phát triển công nghiệp nặng) Do đóquy luật này chỉ phát huy tác dụng trong điều kiện nền đại công nghiệp cơ khí.

Lý luận về chủ nghĩa đế quốc

Chủ nghĩa đế quốc không phải là một chính sách, mà là một giai đoạn phát triển cao của chủnghĩa tư bản, là kết quả của quá trình vận động phát triển dưới sự tác động của các quy luậtkinh tế nội tại của nó, đặc biệt là quy luật cạnh tranh tự do đưa tới tập trung sản xuất Tậptrung sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì dẫn tới độc quyền

Chủ nghĩa đế quốc có 5 đặc điểm kinh tế nổi bật: Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền;

Tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính; Xuất khẩu tư bản; Các tổ chức độc quyền phân chia thịtrường thế giới; Các nước đế quốc phân chia lãnh thổ thế giới

V.I.Lênin cũng vạch rõ tính quy luật của việc chuyển chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủnghĩa tư bản độc quyền nhà nước (chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự dung hợp, lệthuộc của nhà nước vào các tổ chức độc quyền và nhà nước trở thành tư bản khổng lồ tham giavào quá trình bóc lột công nhân)

Chủ nghĩa tư bản độc quyền và độc quyền nhà nước vẫn nằm trong khuôn khổ phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa, chỉ là sự thay đổi về hình thức của chủ nghĩa tư bản

V.I.Lênin đã rút ra quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản Do đó, Cách mạng vôsản có thể nổ ra ở một số nước, thậm chí ở một nước kinh tế kém phát triển

Lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội

Dựa trên những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen và chủ nghĩa xã hội, sau Cách mạngTháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin đã vận dụng vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Ngathông qua hai mô hình:

+ Mô hình chính sách cộng sản thời chiến:

+ Mô hình chính sách kinh tế mới - NEP:

Là sự đổi mới của V.I.Lênin cả về phương diện lý luận cả về chỉ đạo thực tiễn về xây dựng môhình chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ Nội dung của mô hình:

- Về thời kỳ quá độ

- Về sở hữu và các thành phần kinh tế

- Về phát triển kinh tế hàng hóa

- Về xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

- Về mô hình hợp tác xã

Như vậy, V.I.Lênin là người bổ sung, phát triển học thuyết kinh tế của C.Mác và Ph

Ăngghen, hình thành nên học thuyết kinh tế Mác - Lênin

(nguồn: voer.edu.vn )

Trang 10

II TRƯỜNG PHÁI CHÍNH

Kinh tế chính trị được thể hiện thông qua nhiều trường phái khác nhau, với cách nhìn nhận vàđịnh nghĩa khác nhau Sự phát triển trong các tư tưởng kinh tế hướng đến việc trả lời chonhững câu hỏi trên từng bước riêng biệt hơn là phát triển một cách thuận lợi theo thời gian.Một trường phái ý tưởng mới đột nhiên nổi lên làm thay đổi mức sản lượng trong nền kinh tếmang lại những hiểu biết mới và làm cho các học thuyết hiện tại lỗi thời Cuối cùng trườngphái mới đã trở thành quan điểm chung, và tiếp tục được đẩy sang các học thuyết khác bởi lànsóng của những ý tưởng mới Quá trình này đang tiếp tục ngày hôm nay và thúc đẩy lực lượngcủa nó vẫn còn giống như ba thế kỷ trước đây: hiểu được nền kinh tế chúng ta có thể sử dụng

nó một cách khôn ngoan để đạt được các mục tiêu của xã hội Một cách tổng quan, tư tưởngkinh tế được phát triển thông qua 2 giai đoạn sau:

- Những tư tưởng kinh tế cổ đại, trung đại: các tư tưởng kinh tế giai đoạn này chưa mang

tính quy củ, hệ thống, ý nghĩa chưa bao hàm được các phạm trù, khái niệm chính xác Đó là do

sự phát triển còn thấp về mặt sản xuất, trình độ còn lạc hậu, sơ sài

- Chủ nghĩa trọng thương: là một hệ thống lý luận đầu tiên chú trọng về nền sản xuất tư

bản chủ nghĩa Tuy còn thiếu nhiều điều kiện, chủ nghĩa trên đã thể hiện được vấn đề về vaitrò của thương mại trong mối liên hệ của sự tư hữu của một quốc gia tư bản giai đoạn ban đầu,

có thể được xem như là một bước phát triển về mặt lý luận Chủ nghĩa đặt vấn đề hoạt độngthương mại làm chính yếu, đặc biệt là ngoại thương Một số đại diện tiêu biểu cho giai đoạnnày: Starfod, Thomas Mun, A Serra,…

Thomas Robert Malthus – nhà kinh tế học người Anh

Trang 11

- Chủ nghĩa trọng nông: là hệ thống lý luận kinh tế chính trị mang

tính nhấn mạnh vai trò của sản xuất nông nghiệp, thể hiện sự quan tâm đến sở hữu tư nhân và

tự chủ kinh tế Rút ra lý luận kinh tế từ trong lĩnh vực, đó là điều chưa được tìm thấy ở chủ nghĩa trọng thương Đồng thời, sự phản ánh bám sát vào thực tiễn của sự phát triển đời sống

xã hội Một số nhà kinh tế học tiêu biểu: F Quesney, Turgot, Boisguillebert

Francois Quesnay – nhà kinh tế học Pháp

- Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh: do các nhà kinh tế tư sản trình bày về các phạm trù

kinh tế trong nên kinh tế thị trường, bao gồm: hàng hóa, giá trị, tiền tệ, … Từ đó, rút ranhững quy luật vận động chung Đại biểu tiêu biểu: W Petty, A Smith, D Richardo

 Kinh tế chính trị là môn khoa học có mục đích nghiên cứu và tìm ra các quy luật chung, ở

đó, chúng chi phối sự vận động của các hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của conngười mang sự đồng điệu với quá trình phát triển nhất định của xã hội

Tư tưởng kinh tế được phát triển qua từng thời kỳ, mang sự đa dạng với các hệ tư tưởng

và lý thuyết khác nhau

- Dòng lý thuyết kinh tế chính trị của C Mác: dựa trên sự tiếp thu trực tiếp các giá trị của kinh tế tư sản cổ điển Anh, ông đã xây dựng một hệ thống lý luận khoa học, mang tính toàn vẹn hơn đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và khai thác các quy luật, sự hình thành và phát triển của nó Lý luận Kinh tế của C Mác và Ph Anghen được thể hiện rõ trong bộ Tư bản Các phạm trù cơ bản được thể hiện trong đấy một cách đầy đủ: hàng hóa, thị trường, giá trị thặng dư, tích lũy, lợi nhuận,… Đó là những đặc trưng cơ bản của một nền kinh tế thị trường, mang sự cạnh tranh với các quy luật kinh tế cơ bản cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường dưới bối cảnh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Kinh tế chính trị V.I.Lenin: sự bổ sung của V.I.Lenin là sự kế thừa, phát huy và phát triểncác lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận Nổi bật là sự phát hiện về những đặc điểmkinh tế của chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX

- Sự bổ sung của các Đảng Cộng sản dựa trên kinh tế chính trị V.I.Lenin

Kinh tế chính trị chịu ảnh hưởng của triết học chính trị Các trường phái kinh tế chính trị được phát triển dựa trên quan điểm của các trường phái triết học chính trị Chủ nghĩa tự do cho rằng nhànước nên hạn chế can thiệp vào đời sống xã hội Khi áp dụng quan điểm này vào kinh tế học tạo rakinh tế chính trị học cổ điển Chủ nghĩa bảo thủ quan niệm giá trị tư bản thặng dư thuộc về cá nhân Đại diện của chủ nghĩa bảo thủ là Thomas Hobbes, Leo Strauss Những nhà kinh tế chịu ảnhhưởng của chủ nghĩa bảo thủ thường phản đối phân phối lại thu nhập, ủng hộ tự do kinh doanh thậm chí ủng hộ bảo hộ mậu dịch Chủ nghĩa xã hội tin rằng mỗi cá thể tạo ra

11 | T r a n g

Trang 12

giá trị thặng dư đều là thành viên của xã hội nên giá trị thặng dư đó mang tính chất xã hội do

đó cần được xã hội điều tiết Điều này được phản ánh trong kinh tế chính trị học Marxist Chủnghĩa cộng sản cho rằng tăng trưởng kinh tế-xã hội do giá trị thặng dư xã hội sinh ra do đó nóphải thuộc về toàn thể xã hội Đại diện của chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx, Friedrich

Engels, Lenin và Lev Davidovich Trotsky

Phương pháp lấy quyền lực làm trung tâm Đây là phương pháp tiếp cận của kinh tế

chính trị cổ điển Do coi quyền lực là vấn đề trung tâm của chính trị, nên họ cho rằng kinh tế chính trị nghiên cứu cách thức đạt được quyền lực trong nền kinh tế

Phương pháp lấy xã hội làm trung tâm Đây là cách tiếp cận của kinh tế chính trị

Marx-Lenin và của chủ nghĩa công lợi Các trường phái này xuất phát từ lợi ích xã hội để nghĩ vềnhà nước

Phương pháp lấy nhà nước làm trung tâm Trường phái kinh tế chính trị tân cổ điển

và kinh tế chính trị Keynes xuất phát từ cách xác định chính trị là khoa học về nhà nước,còn kinh tế hàm ý thị trường Vì thế, họ cho rằng kinh tế chính trị nghiên cứu cân bằng quyền lực giữa thị trường và nhà nước Nhà nước tìm cách kiểm soát nền kinh tế để đạt được những mục đích của mình

Phương pháp lấy "chính nghĩa" làm trung tâm Đây là cách tiếp cận của kinh tế chính

trị hiện đại Kinh tế chính trị hiện đại xuất phát từ quan điểm rằng có một hệ thống

"quyền" gắn liền với thị trường, mà quan trọng nhất là quyền sở hữu Chính trị có thể xác định và tác động tới các quyền đó Vì thế, nhiệm vụ của kinh tế chính trị là nghiên cứu cách thức chính trị tác động tới các hệ thống quyền lợi đó Kinh tế chính trị hiện đại có thểphân thành ba trường phái nhỏ hơn, đó là chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa khế ước hiện đại, và chủ nghĩa Hegel

Kinh tế chính trị liên quan đến nhiều ngành khoa học xã hội khác Các nhà nghiên cứu kinh tế chính trị thường sử dụng tri thức của các ngành khoa học xã hội khác để giải thích các hiện tượng, các hành vi kinh tế Một số ngành khoa học xã hội có liên quan mật thiết đến kinh tế chính trị học như xã hội học, nhân loại học, sử học, luật học Xã hội học nghiên cứu các quan

hệ xã hội Nhiều nhà xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội hình thành dựa trên quan hệ sản xuất cũng như sự ảnh hưởng của quan hệ sản xuất lên hoạt động xã hội loài người Nhân loại học áp dụng kinh tế chính trị để nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống tư bản toàn cầu vàcác nền văn minh địa phương Lịch sử luôn thay đổi, phương pháp lịch sử được môn kinh tế chính trị áp dụng để nghiên cứu các quy luật chung của hoạt động kinh tế-xã hội Luật học, luật pháp được chính quyền áp dụng để quản lý xã hội Trong kinh tế chính trị, luật cùng với các tư tưởng xã hội và quan điểm chính trị tạo nên kiến trúc thượng tầng Sinh thái học có quan hệ với kinh tế chính trị bởi vì hoạt động kinh tế-xã hội loài người ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái Những thay đổi về mặt sinh thái tác động trở lại đến con người, nhiều khi tiêu cực

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lenin là các quan hệ xã hội của sản xuất

và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định

Nói chung, kinh tế chính trị nghiên cứu mặt xã hội của sản xuất và trao đổi, là mặt xã hội của sự thống nhất biện chứng của cả sản xuất, phân phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng một cách toàn diện, khoa học và phản ánh đúng với thực tiễn vận động của nền sản xuất xãhội có sự vận hành của các quy luật thị trường

2 Chức năng

- Chức năng nhận thức: cung cấp những phạm trù kinh tế cơ bản, bản chất, phát hiện và nhận diện các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường làm cơ sở lý luận cho việc nhận thức các hiện tượng và quy luật kinh tế

- Chức năng thực tiễn: phát hiện ra những quy luật và tính quy luật chi phối sự vận động của các quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi

- Chức năng tư tưởng: tạo lập nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Góp phần hình thành thế giới quan khoa học

- Chức năng phương pháp luận: thể hiện chức năng thông qua hệ thống phạm trù, khái niệmkhoa học, quy luật kinh tế chung cho việc tiếp cận các khoa học kinh tế chuyên ngành

Để xây dựng nên một lý thuyết kinh tế chính trị đặc trưng cho chủ nghĩa Mác, Các Mác và Ăng ghen đã nghiên cứu, kế thừa nhiều lý thuyết về kinh tế học trước đó như các trường phái chủ nghĩa trọng nông (đề cao nông nghiệp), chủ nghĩa trọng thương (đề cao vấn đề thương mại, mua bán, trao đổi ) và chịu ảnh hưởng của kinh tế học cổ điển Anh với các đại biểu như Adam Smith, David Ricardo hay William Petty

Trên cơ sở đó, Mác và Engels đã làm cuộc cách mạng sâu sắc trong kinh tế chính trị trên tất cảcác phương diện về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, nội dung, tính chất giai cấp của kinh tế chính trị Kinh tế chính trị Mác Lenin là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, dựa vào phép biện chứng duy vật và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế của xã hội tư bản Họ đã thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong kinh tế chính trị học Kinh tế chính trị Mác - Lenin là lý luận sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa

tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản

Kinh tế chính trị của Mác và Ăng-ghen xây dựng có khác so với các lý thuyết trước đó ở chỗ các học thuyết, lý thuyết trước Mác và Ăng-ghen chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu về vấn đề kinh tế, các quan hệ kinh tế đơn thuần và tập trung cho mục đích kinh tế và hoạt động kinh tế,hay hiệu quả kinh tế, các phương pháp kinh doanh trong khi đó lý thuyết của Mác và Ăng-ghen thì gắn chặt kinh tế với chủ nghĩa duy vật lịch sử

VI NỘI DUNG CƠ BẢN

Kinh tế chính trị Mác-Lê nin tập trung nghiên cứu, mổ xẻ các quan hệ kinh tế trong lòng

xã hội tư bản và nghiên cứu sâu về các quy luật của nền sản xuất này, cụ thể là

Trang 14

Đề cập về hàng hóa, sản xuất hàng hóa và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng

hóa (trong chủ nghĩa Tư bản)

Tập trung mổ xẻ quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản mà cốt lõi là việc sản xuấtgiá trị thặng dư

Phân tích sự vận động của tư bản cá biệt và tái sản xuất tư bản xã hội

Xem xét các hình thái tư bản và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư

Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước (phần này do Lenin có công đóng góp rất lớn)

Từ những nội dung cơ bản mà Mác và Ăng-ghen đã xây dựng nên một hệ thống những

phạm trù có liên quan một cách đồ sộ như: tái sản xuất xã hội, phương thức sản xuất, quan

hệ sản xuất, tư bản lưu động, tư bản cố định, tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị, giá trị

sử dụng, hàng hóa sức lao động, sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động, tư liệu sản xuất

( Kinh tế chính trị Mác – Lenin – Wikipedia )

Trang 15

PHẦN THỨ HAI

Phân tích điều kiện ra đời của sản xuất hàng

hóa, bản chất của hàng hóa, lượng giá trị hàng

hóa và những nhân tố ảnh hưởng lượng giá trị

của hàng hóa Ý nghĩa thực tiễn.

Trang 16

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thôngqua trao đổi, mua bán.

Sản phẩm của lao động chỉ mang hình thái hàng hóa khi nhằm trao đổi, mua bán trên thị trường Hàng hóa có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất Hàng hóa

có thể tồn tại ở dạng vật thể hoặc phi vật thể

Ví dụ:

1 Một chiếc điện thoại được tạo ra bởi lao động từ nhà máythiết bị điện tử, qua bàn tay của người lao động lắp ráp.Khi được bày trên kệ bán ở các cửa hàng điện tử, đó chính

Chiếc điện thoại được tung ra bày bán trên thị trường gọi là

hàng hóa

2 Một phần mềm hỗ trợ cho vay tín dụng được tạo ra bởi công ty tín dụng, được thiết lập trên một trang web nhất định Sau khi được tung ra thông qua các phương tiện mạng xã hội, được mọi người biết đến và mua bán để sử dụng, nó trở thành hàng hóa Đây là dạng hàng hóa phi vật thể

 Tóm lại, hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hóa, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường.

16 | T r a n g

Trang 17

Các Mác định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật và dưới dạng thỏa mãn các nhu cầu conngười bằng chính những đặc trưng về tính chất của nó Để đồ vật trở thành hàng hóa cần:

1. Tính hữu dụng đối với người dùng

2. Giá trị kinh tế, chi phí bởi lao động

3. Sự hạn chế - độ khan hiếm

2 Khái niệm hàng hóa hiện tại

Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế dẫn đến cách hiểu hàng hóa khôngnhư các nhà kinh tế cổ điển xác định Phạm trù hàng hóa mất đi ranh giới của sự hiển hiện vật

lý của vật thể và tiến sát đến gần phạm trù giá trị Tiền, cổ phiếu, quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sức lao động, v.v được xem là hàng hóa trong khi chúng khôngnhất thiết có những tính chất như đã liệt kê trên

Theo luật giao thông đường bộ: Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, động vật sống và các động sản khác được vận chuyển bằng phương tiện giaothông đường bộ

Theo luật thương mại thì hàng hóa bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản

hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai

Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là

để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán trên thị

trường Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán.

Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, sản phẩm được sản xuất

ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường.

Ở những thời kì đầu của lịch sử loài người, hàng hóa được tạo ra với chỉ một mục đích

là phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu trong đời sống cho chính người sản xuất ra chúng Thế nhưng do chất lượng cuộc sống càng nâng cao con người càng có thêm nhiều nhu cầu trong đời sống và sản xuất cũng phát triển đã khiến cho sản xuất tự cung

tự cấp ở thời kì đầu dần chuyển sang sản xuất hàng hóa và nó đã tồn tại từ chế độ

chiếm hữu nô lệ đến chế độ phong kiến rồi tiếp đến chế độ tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là đến ngày nay- xã hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa là tổ chức kinh tế tồn tại trên cơ sở của sự trao đổi hàng hóa và là nền tảng cho mọi nền kinh tế.

Sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa

- Tác động của quy luật giá trị

- Được tích lũy nguyên thủy tư bản

- Có hàng hóa sức lao động

- Có nhà tư bản

Sản xuất là một phạm trù lịch sử và chỉ tồn tại khi xã hội có những điều kiện nhất định Theo C.Mác, sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa dựa trên hai điều kiện sau đây:

Trang 18

1 Phân công lao động xã hội

Đó là sự phân chia lao động trong xã hội thành những ngành nghề khác nhau Phân

chia lao động sẽ dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất.

Phân công lao động xã hội là cơ sở, tiền đề của sản xuất hàng hóa bởi vì khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ có thể tập trung sản xuất những sản phẩm nhất định, nhưng với nhu cầu của đời sống thì cần phải có nhiều hàng hóa khác nhau Điều này buộc con người phải cần trao đổi sản phẩm với nhau Thêm nữa nhờ vào sự chuyên môn hóa sản xuất, năng suất lao động tăng lên, lượng thặng dư cũng vì thế càng ngày càng nhiều thúc đẩy sự trao đổi hàng hóa Như vậy, phân công lao động xã hội càng phát triển thì việc trao đổi và buôn bán hàng hóa sẽ càng đa dạng và phát triển.

2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất

Đó là những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau

Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá.

Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ.

Nếu như phân công lao động xã hội giúp những người sản xuất phụ thuộc vào nhau thì sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất lại khiến họ độc lập với nhau và điều này sẽ được giải quyết qua quá trình trao đổi và buôn bán hàng hóa Mặc dù mâu thuẫn nhau nhưng chúng là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì sẽ không có sản xuất hàng hóa.

3 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa

3.1 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán.

Trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp và sảnxuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sảnxuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất củangười dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởngdưới chế độ phong kiến Ngược lại, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sảnphẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chínhngười trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông quaviệc trao đổi, mua bán

Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội.

Ngày đăng: 13/12/2022, 06:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w