ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢIKHOA CHÍNH TRỊ - QPAN - GDTC ***** TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN Câu hỏi tiểu luận: “Phân tích hai phương pháp sản xuất giá trị thặn
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHOA CHÍNH TRỊ - QPAN - GDTC
*****
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Câu hỏi tiểu luận: “Phân tích hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thăng dư siêu ngạch?Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc phát triển nền kinh tế nước ta hiện
nay?”
Sinh viên thực hiện: Vũ Trí Thịnh
Mã sinh viên: 71DCGT26001 Lớp: 71DCGT22
Khóa:
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Tâm
HÀ NÔI – 2021
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu như kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta
có quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiều khó khăn
Vì vậy, để khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã phát triển nền kinh tế thị trường để hiện đại hóa đất nước Trong đó, việc vận dụng các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như V.I.Lênin nhận xét thì “ Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác ”Giá trị thặng dư đã mang lại những bước phát triển cho nước ta trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị thặng dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản coi thành phần kinh tế này là bốc lột và nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ
là Đảng viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta
Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng như quá trình vận dụng giá trị thặng dư vào việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay với mong muốn có thể khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế,
sự giáo điều, tách rời lý luận và cuộc sống và góp phần hình thành tư duy kinh tế mới, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiếp hóa – hiện đại hóa
2 Đối tượng nghiên cứ
- Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu ngạch
- Nền kinh tế thị trường Việt Nam
Trang 33 Phạm vi nghiên cứu
- Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Việt Nam từ trước năm
1986 và nền kinh tế thị trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1 : Lý lu n của học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin về hai phương pháp sản xuất giá trị th ng dư ặng dư
1 Giá trị th ng dư và tư bản ặng dư
2 Khái niệm về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
đối , giá trị thặng dư tương đối và giá trị thăng dư siêu ngạch
2.1 Phương pháp sản xuất giá trị th ng dư tuyệt đối ặng dư
2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị
thặng dư siêu ngạch
Chương 2 : Sự hoạt động của 2 phương pháp xuất giá trị
sản thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam
1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986
2 Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay
3 Một số khuyến nghị với tiến trình hội nhập của Việt Nam, trong bối cảnh Chủ nghĩa tư bản độc quyền đang phổ biến trên toàn thế giới
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : Lý lu n của học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin về ận của học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin về
hai phương pháp sản xuất giá trị th ng dư ặng dư
1 Giá trị thặng dư và tư bản
Theo Mác, tư bản nẩy sinh từ tiền vào đầu thế kỷ XVI Khi ông phân tích những hình thái kinh tế trong đó quá trình lưu thông hàng hoá, thì tiền
là hình thái cuối cùng "Sản vật cuối cùng ấy của lưu thông hàng hoá là hình thái biểu hiện đầu tiên của tư bản Xét về mặt lịch sử thì đâu đâu tư bản cũng đối lập với sở hữu ruộng đất, trước tiên là dưới hình thái tiền, với
tư cách là tài sản bằng tiền, tư bản của thương nhân và tư bản cho vay nặng lãi Lịch sử ấy hàng ngày đang diễn ra trước mắt chúng ta Khi mới xuất hiện lần đầu tiên trên vũ đài, tức là trên thị trường, - thị trường hàng hoá, thị trường lao động hay thị trường tiền tệ, - thì mỗi một tư bản bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng tiền, số tiền này phải được chuyển hoá thành tư bản thông qua những quá trình nhất định" Sau đó Mác tiếp tục nghiên cứu những quá trình nhờ chúng mà tiền biến thành tư bản, và trước hết ông thấy rằng hình thức trong đó tiền lưu thông với tư cách là tư bản (T H T’), và một hình thức ngược lại với hình thức trên, tiền lưu thông với tư cách là vật ngang giá chung của các hàng hoá (H-T-H’) Một người chủ hàng hoá giản đơn thì bán để mua; anh ta bán cái mà anh ta không cần dùng, và với tiền thu được, anh ta mua cái mà anh ta cần dùng Còn nhà
tư bản bắt tay vào công việc thì thoạt tiên mua cái mà bản thân hắn không cần đến; hắn mua để bán, hơn nữa lại để bán đắt hơn, nhằm thu trở lại giá trị của số tiền đã bỏ ra lúc ban đầu để mua, cộng với số tiền tăng thêm nào
đó, Mác gọi là giá trị thặng dư
Nhà tư bản sản xuất ra hàng hóa có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang tới giá trị và giá trị thặng dư (T’>T) Đây cũng là quá trình nhà tư bản sử dụng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình, công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư
Trang 5Như vậy, giá trị thặng dư là giá rơi ra ngoài sức lao động do công
nhân sáng tạo ra và nhà tư bản chiếm không
2 Khái niệm về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối , giá trị thặng dư tương đối và giá trị thăng dư siêu ngạch
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư,
nhưng hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dưtuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối Mỗi phương pháp đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội
2.1 Phương pháp sản xuất giá trị th ng dư tuyệt đối ặng dư
– Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
– Phương pháp sản xuất giá trị thặn dư tuyệt đối:
+ Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân Bởi vì, người công nhân cần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Do vậy, việc kéo dài thời gian lao động gặp
sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm
+ Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định Nên tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động
Vì vậy, kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
– Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp
2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch
A Giá trị thặng dư tương đối
– Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ
Trang 6đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ
– Điểm mấu chốt của phương pháp này là phải hạ thấp giá trị sức lao động Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng
– Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưa cho phép Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Khi các nhà
tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn Tất
cả sẽ thu được giá trị thặng dư tương đối Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
B giá trị thặng dư siêu ngạch
C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối Bởi vì chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, chỉ khác một chỗ một bên là tăng năng suất lao động cá biệt, một bên là tăng năng suất lao động xã hội
– Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được
do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó
– Nhà tư bản chỉ phải bỏ ít chi phí hơn các nhà tư bản khác nhưng vẫn có thể bán được hàng hóa với giá ngang bằng với giá thị trường, từ đó thu được giá trị thặng dư cao hơn
Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật công nghệ thì giá trị thặng
dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó sẽ không còn nữa
– Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, nó lại thường xuyên tồn tại Và nó chính là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ
để tăng năng suât lao động cá biệt, đánh bại đối thủ cạnh tranh, thu được phần giá trị thặng dư lớn
Trang 7Chương 2: Sự hoạt động của 2 phương pháp xuất giá trị sản thặng dư trong nền kinh tế Việt Nam
1 Giai đoạn trước đổi mới năm 1986
A Mô hình kinh tế trước năm 1986
Giai đoạn kinh tế trước năm 1986, hay còn gọi là Thời kì bao cấp,
là giai đoạn áp dụng mô hình kinh tế cũ - kinh tế kế hoạch hóa tập trung
ở miền Bắc cho cả nước sau thống nhất
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân
sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm
gì về vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Cơ chế bao cấp trong thời kì này thể hiện chủ yếu qua 3 hình thức sau: + Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
+ Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
+ Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều
Trang 8đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng
vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”
B Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư trước năm 1986
Với việc Nhà nước kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất, khiến cho kinh tế
tư nhân không có điều kiện phát triển, điều đó dẫn tới việc phương thức sản xuất giá trị thặng dư cơ bản không tồn tại ở Việt Nam giai đoạn này
C Sự phát triển của nền kinh tế trước năm 1986
Trong giai đoạn này, Nhà nước liên tục thực hiện 2 kế hoạch đổi mới
kinh tế: kế hoạch 5 năm giai đoạn 1976-1980 và 1981-1986
Tuy nhiên trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm này cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mới chưa hình thành nên Đổi mới chưa có hiệu quả đáng kể
Trong giai đoạn 5 năm lần thứ nhất, kế hoạch có nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đều không đạt Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4
%/ năm (kế hoạch là 13-14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 % Tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm
20 %, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trình phải bỏ dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng Sau đó vào năm 1982, Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã thừa nhận kinh tế Việt Nam trong thời kỳ 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khó khăn"
Tại Đại hội IV ĐCS VN đã quyết định cải tạo XHCN trong cả nước với mục tiêu lớn: xây dựng chế độ làm chủ tập thể và sản xuất lớn Do các mục tiêu
đề ra quá lớn nên trong kế hoạch 5 năm lần thứ II (1981-1985) nền kinh tế vẫn thiếu cân đối và lâm vào khủng hoảng trầm trọng Sản xuất đình trệ thể hiện trên tất cả các lĩnh vực Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm
80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm, cuối năm 1985 lên đến 587,2 % và siêu lạm phát đạt đến đỉnh cao vào năm 1986, với 774,7 %
Trang 9Nhìn chung, nền kinh tế còn hết sức khó khăn trì trệ, đời sống nhân dân khổ cực, năng suốt lao động thấp do thiếu động lực phát triển
2 Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay A Mô hình kinh tế sau năm 1986
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc “Đổi mới” chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế
-Thực hiện mạnh mẽ chính sách dân chủ hoá về kinh tế trên cơ sở các
nguyên tắc hiến định là tự do kinh doanh, tự do khế ước trong khuôn khổ pháp luật Mọi công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo luật định đều có
quyền tự mình hoặc liên kết với những người khác thành lập doanh nghiệp hoặc kinh doanh trên mọi lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm Trên cơ sở đó, một nền kinh tế nhiều thành phần, không chỉ có quốc doanh
và tập thể như trước đây đã hình thành; nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất đã ra đời, trong đó có các loại hình sở hữu hỗn hợp đan xen nhau giữa các thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được tự do cạnh tranh với nhau theo một “luật chơi’’ chung
của kinh tế thị trường Nhà nước thực hiện cổ phần hóa các danh nghiệp nhà nước trao một phần quyền kiểm soát đến các doanh nghiệp tư nhân.Tuy nhiên, để bảo đảm định hướng xã hội chủ
Trang 10nghĩa của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước sẽ định ra một số ngành nghề then chốt mà kinh tế quốc doanh nắm độc quyền giữ vai trò chủ đạo - Từng bước xoá bỏ, đi đến xoá bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý kinh tế cũ theo lối hành chính, mệnh lệnh và kế
hoạch hoá tập trung cao độ trên cơ sở thiết lập từng bước vững chắc cơ chế thị trường, Nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân bằng các chính sách và công cụ kinh tế, chấm dứt sự can thiệp theo lối mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ngay cả đối với các doanh nghiệp nhà nước Bằng việc tăng cường ban hành pháp luật, Nhà nước dần dần tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khuôn khổ hành lang pháp lý đó, Nhà nước thừa nhận và tôn trọng đầy đủ quyền tự chủ của các doanh nghiệp, của các nhà kinh doanh và thực hiện sự bảo hộ cần thiết đối với mọi quyền lợi hợp pháp của họ.
- Xây dựng nền kinh tế vừa mở bên trong, vừa mở với bên ngoài, đưa nền kinh tế Việt Nam hòa nhập vào thị trường và đời sống kinh tế của khu vực và thế giới
B Sự hoạt động của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư sau
năm 1986
Khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, trong xã hội Việt Nam có một hình thái hoạt động vốn bình thường nay trở nên sôi động Đó là thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dần hình thành và tăng trửng nhanh chóng Hàng hóa được trao đổi mua bán mạnh
mẽ trong và ngoài nước đem về lơi nhuận cho các nhà sản xuất Trong giai đoạn đầu này, khi cơ chế quản lí các hoạt động kinh tế còn nhiều han chế phương pháp sx gttd tuyệt đối vẫn được sử dụng nhưng ngay sau đó đã nhanh chóng chuyển sang phương thức sản xuất thặng dư tương đối nhờ
áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật khiến năng suốt lao động tăng cao
C Sự phát triển của nền kinh tế sau năm 1986
Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển
kinh tế gây ấn tượng, được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều Sau 10 năm đổi mới (1996) đất nước đã thoát