Đối với Liên Xô, với một ngân sách quốc phòng chiếm tới 18% tổng thu nhập quốc dân đã khiến cho nền kinh tế Liên Xô hoạt động không thể bình thường được, nó làm cho các chương trình xã h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN
PHÂN TÍCH VÀ LÀM RÕ QUAN ĐIỂM VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI
ĐẠI HỘI VIII 1996 CỦA ĐẢNG
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nhóm 9
Lớp học phần: 215DL0607
GV: Đinh Thị Điều Sinh viên:
Trần Trương Ngọc Hân – K214110832 Phan Gia Huy – K214110834
Phan Nguyễn Trúc Loan – K24110838
Đỗ Thị Nhung – K214110844 Thái Kim Huỳnh – K214110835 Nguyễn Hoàng Yến – K21503230
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022
Trang 2Mục Lục
Lớp học phần: 215DL0607 GV: Đinh Thị Điều 0
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022 0
I Nguyên nhân dẫn đến Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII: 2
1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực: 2
1.2 Bối cảnh trong nước: 3
II Nội dung đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII 4
2.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và bước đầu thực hiện công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2001) 4
2.1.1 Những thành tựu đã đạt được ở đại hội VII 4
2.1.2 Nhiệm vụ tổng quát 5
2.1.3 Nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu 5
2.2 Quan điểm về công nghiệp hóa trong thời đại mới 6
2.3 Nhiệm vụ trọng tâm sau đại hội VIII 6
2.3.1 Kinh tế 6
2.3.2 Chính trị 7
2.3.3 Giáo dục 8
2.3.4 Xã hội 8
2.3.5 Văn hóa 8
III.Nhận xét về quan điểm công nghiệp hóa hiện đại hóa của Đại hội VIII 8
3.1.Một số thành tựu mà Đảng đã thực hiện được trong thời kì này 8
3.2 Hạn chế và cách khắc phục 9
3.2.1 Một số điểm hạn chế 9
3.2.3 Cách khắc phục điểm hạn chế 10
3.3 Bài học kinh nghiệm 11
IV KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3I Nguyên nhân dẫn đến Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII: 1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực:
Nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ Thế giới đang từng bước thực hiện cuộc cách mạng khoa học, kinh tế đang dần được phục hồi và phát triển, xã hội ổn định Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, năng suất tăng cao, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội Quá trình chuyển dịch từ đối đầu sang đối thoại trong quan hệ quốc tế và giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thực tế được bắt đầu từ cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, lại càng trở thành yêu cầu cấp bách trong chiến lược của các nước, đặc biệt là các nước lớn vào giữa những năm 1980
Những thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với bạn bè,
sự hoà dịu ngày càng tăng giữa Washington và Bắc Kinh đã tạo ra một môi trường hoàn toàn mới Từ chỗ là những quốc gia có sức mạnh vượt trội trong hai
hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nhưng do hậu quả của cuộc chạy đua vũ trang lâu dài và tốn kém, cả Mỹ và Liên Xô ở mức độ khác nhau, đều lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng cả về kinh tế lẫn chính trị, đánh mất dần hoặc suy giảm vai trò chi phối trong từng hệ thống và trong quan hệ quốc tế Nước Mỹ
từ chiếm hơn 50% nền kinh tế thế giới vào năm 1945, đến năm 1993 chỉ còn chiếm 21% của nền kinh tế thế giới Riêng ngân sách quân sự của Mỹ từ năm 1980 đến
1986 đã tăng đến 50% Cho đến năm 1985, trong sự so sánh với Mỹ, tổng giá trị sản phẩm của Liên Xô chỉ bằng 40%, thu nhập quốc dân bằng 50%, năng suất lao động công nghiệp bằng 55%, năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 20 - 25% Trong khi đó hai nền kinh tế Đức và Nhật Bản cộng lại cùng thời điểm năm 1993
đã chiếm đến 26% nền kinh tế thế giới Đối với Liên Xô, với một ngân sách quốc phòng chiếm tới 18% tổng thu nhập quốc dân đã khiến cho nền kinh tế Liên Xô hoạt động không thể bình thường được, nó làm cho các chương trình xã hội quy
mô lớn không thể tiến hành và là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện trong xã hội Liên Xô
Cuộc khủng hoảng kinh tế ngày càng trầm trọng do bệnh chủ quan duy ý chí, xem thường các quy luật kinh tế khách quan, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, không thừa nhận sản xuất hàng hoá và quy luật giá trị cùng với sai lầm về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức; cộng với sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài đã đặt Liên Xô trước những thách thức sống còn Để cứu vãn tình thế, từ năm 1987 đến 1991, Liên Xô bước vào công
Trang 4cuộc cải tổ rộng lớn cả về chính trị và kinh tế Thất bại trong việc chuyển nền kinh
tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước đã đẩy Liên Xô lún sâu vào tình trạng khủng hoảng, rối ren và mất phương hướng.Sự tan rã của Liên Xô là một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị thế giới Sự tan rã của một trong hai siêu cường của trật tự thế giới hai cực đã tạo ra một khoảng trống lớn trong không gian chính trị quốc tế, làm tan vỡ sự cân bằng toàn cầu đã tồn tại trong gần 50 năm qua từ Hội nghị Yalta 1945.Quan hệ quốc tế toàn cầu lúc này rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn Đối với Việt Nam, những sự kiện năm 1989 ở Đông Âu và sự sụp đổ của Liên Xô hai năm sau đó đã đưa đến sự sắp xếp lại một cách cơ bản cán cân đối ngoại
Chính những sự ảnh hưởng của tình hình thế giới, nên Đại hội Đảng lần thứ VIII được diễn ra để đưa ra những kế hoạch, mục tiêu,… dựa trên sự thất bại của các nước lớn mà rút ra được những bài học để có thể thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của Việt Nam hướng tới một đất nước có nền kinh tế phát triển và xã hội văn minh
1.2 Bối cảnh trong nước:
Đến năm 1996, công cuộc đổi mới đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh được củng cố Đồng thời, thành tựu 10 năm đổi mới
đã tạo được nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII diễn ra trong bối cảnh đất nước đã trải qua việc thực hiện công cuộc Đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI hơn 10 năm và đạt được những thắng lợi to lớn, được nhân dân và quốc tế ủng hộ
Đại hội đã tổng kết đánh giá, kiểm điểm 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được; điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên Xuất phát từ đặc điểm tình hình đất nước và từ nhận định Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội cũng như căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 5Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội Dự Đại hội có 1.198 đại biểu đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII bao gồm 170 uỷ viên
II Nội dung đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
2.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và bước đầu thực hiện công
cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2001)
2.1.1 Những thành tựu đã đạt được ở đại hội VII
- Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm
- Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội
- Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh
- Thực hiện có hiệu quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị
- Phát triển mạnh mối quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế
* Kế hoạch 5 năm 1991-1995 do Đại hội đề ra đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới:
- Nhịp độ phát triển kinh tế cao, những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch hoàn thành vượt mức Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,2%/năm Công nghiệp tăng 13,3%/năm Sản lượng lương thực tăng 26% Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn Dịch vụ tăng 80% Vận tải tăng 62% Lạm phát từ 67.1% (1991) giảm còn 12.7% (1995)
- Kinh tế đối ngoại phát triển Xuất khẩu đạt 17 tỷ USD Nhập khẩu 21 tỷ USD Có quan hệ buôn bán với hơn 100 nước Nhà nước mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho
tư nhân Vốn đầu tư nước ngoài tăng 50%, đạt trên 19 tỷ USD
- Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội phát triển Thu nhập quốc dân tăng và giải quyết được nạn đói
- Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, không còn bị bao vây do đã rút quân khỏi Campuchia
từ năm 1988 Bình thường quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995
Trang 6- Đánh giá tổng quát sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII Báo cáo Chính trị khẳng định đất nước đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go và đạt những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt
2.1.2 Nhiệm vụ tổng quát
Đại hội khẳng định cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Trên con đường thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội xác định: “Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao
và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau”
2.1.3 Nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu
- Tập trung sức cho mục tiêu phát triển, đến năm 2000, GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi năm 1990 Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt khoảng 9-10%
- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân hằng năm 4,5-5%
- Phát triển các ngành công nghiệp, chú trọng trước hết công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng.có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng, cơ khí, điện tử, thép, phân bón, hoá chất,
Trang 7một số cơ sở công nghiệp quốc phòng Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm 14-15%
- Đến năm 2000, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 34-35% trong GDP; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm khoảng 45-46%
- Tăng nhanh khả năng và tiềm lực tài chính của đất nước, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
- Giải quyết tốt một số vấn đề xã hội
- Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững mạnh, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống
- Tích cực chuẩn bị và tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn sau năm
2000, chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, xây dựng kết cấu hạ tầng và một số công trình công nghiệp then chốt, hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.2 Quan điểm về công nghiệp hóa trong thời đại mới
- Giữ vững độc lập, tự chủ, đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước chính là đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài;
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo;
- Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững;
- Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định;
- Lấy hiệu quả kinh tế làm chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ;
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh
Trang 82.3 Nhiệm vụ trọng tâm sau đại hội VIII
2.3.1 Kinh tế
- Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là: Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ Đẩy mạnh các hoạt động kinh
tế đối ngoại Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu khí, một số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện
tử và công nghệ thông tin, du lịch Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ
- Xác định các chính sách đối với các thành phần kinh tế, bao gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã; kinh tế tư bản nhà nước; kinh
tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
2.3.2 Chính trị
- Tăng cường quốc phòng an ninh Đại hội xác định nhiệm vụ về quốc phòng,
an ninh trong năm tới là: phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
- Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển
- Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân
Trang 9- Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo các quan điểm: xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh công nông và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo
2.3.3 Giáo dục
Phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo
2.3.4 Xã hội
Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đại hội khẳng định, văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng
và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội
2.3.5 Văn hóa
Chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển; khuyến khích làm giàu hợp phát đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
“uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, nhân hậu thuỷ chung
III.Nhận xét về quan điểm công nghiệp hóa hiện đại hóa của Đại hội
VIII 3.1.Một số thành tựu mà Đảng đã thực hiện được trong thời kì này
Mặc dù thời kỳ 1996 - 2000, sự nghiệp đổi mới, nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa mặc dù gặp những khó khăn thử thách nhưng vẫn đạt được những thành tựu quan trọng:
- Kinh tế vẫn tăng trưởng khá, GDP bình quân tăng bình quân hằng năm là 6,94% Năm 2000 đã chặn được đà giảm sút về mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt được mức kế hoạch đề ra, nhất là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
Trang 10- Văn hóa, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện Nước
ta đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Đã chú trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo nội dung
và định hướng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII Phong trào và chính sách xóa đói, giảm nghèo cùng các chính sách xã hội khác được thực hiện tốt hơn
- Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường Các lực lượng vũ trang nhân dân có nhiều cố gắng bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo an ninh quốc gia và trật tư an toàn xã hội
- Quan hệ đối ngoại và việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng
và thu nhiều kết quả tốt Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng được chú trọng theo yêu cầu, nội dung của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
- Tiến hành cải cách một bước nền hành chính quốc gia, tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Bước đầu thực hiện một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của Nhân dân, trước hết ở cơ sở Vì vậy, hệ thống chính trị được củng cố
Những thành tựu trong 5 năm (1996-2000) đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống của Nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của nước ta
3.2 Hạn chế và cách khắc phục
3.2.1 Một số điểm hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nổi lên một số vấn đề lớn như:
- Nước ta còn nghèo và kém phát triển Chúng ta chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư phát triển
- Nhà nước còn thiếu chính sách để huy động có hiệu quả nguồn vốn trong dân
Sử dụng nguồn lực còn phân tán, kém hiệu quả, chưa kiên quyết tập trung cho các chương trình, dự án kinh tế - xã hội cấp thiết
- Tình hình xã hội còn nhiều vấn đề tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa ngăn chặn được Tiêu cực trong
bộ máy nhà nước, đảng và đoàn thể, trong các doanh nghiệp nhà nước, nhất là trên