Phân tích và đề xuất hướng xử lý tình huống trong gây mê với thuốc rocuronium của công ty C. Trong hoạt động Cảnh giác Dược, báo cáo phản ứng có hại của thuốc tự nguyện là phương pháp phổ biến nhất được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới để phát hiện và giám sát các phản ứng có hại của thuốc. Chính vì vậy, việc nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo ADR là nhiệm vụ rất quan trọng của hoạt động Cảnh giác Dược. Trong bối cảnh đó, trước tình huống: Tháng 122021, Công ty C được Khoa Dược ở Bệnh viện X và Bệnh viện Y thông báo về việc giảm đáp ứng điều trị ở liều thường dùng của chế phẩm rocuronium bromid 50 mg5 ml do công ty C sản xuất. Vậy công ty C cần có phản ứng thế nào? Công ty cần làm gì và phối hợp với từng đơn vị, bệnh viện và các cơ quan quản lý ra sao? Có cần gửi báo cáo ADR các trường hợp trên hay không? Các giải pháp xử lý tình huống thế nào?
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TIỂU LUẬN THI HẾT HỌC PHẦN Phân tích và đề xuất hướng xử lý tình huống trong gây mê với
thuốc rocuronium của công ty C MÔN HỌC: CẢNH GIÁC DƯỢC
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: HÀ ANH TÚ
MÃ SỐ HỌC VIÊN:
LỚP: HÀ NỘI (…)
HÀ NỘI 2022
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TIỂU LUẬN THI HẾT HỌC PHẦN Phân tích và đề xuất hướng xử lý tình huống trong gây mê với
thuốc rocuronium của công ty C MÔN HỌC: CẢNH GIÁC DƯỢC
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: HÀ ANH TÚ
MÃ SỐ HỌC VIÊN: 2122039 LỚP: HÀ NỘI (CKII 20)
HÀ NỘI 2022
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN……… 3
I TỔNG QUAN VỀ CẢNH GIÁC DƯỢC……… 3
1 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của Cảnh giác Dược…… 3
1.1 Một số khái niệm……… 3
1.2 Mục tiêu của Cảnh giác Dược……… 4
1.3 Vai trò của Cảnh giác Dược……… 4
2 Hệ thống Cảnh giác Dược trên thế giới……… 5
3 Hệ thống Cảnh giác Dược tại Việt Nam……… 6
3.1 Quá trình hình thành hệ thống Cảnh giác Dược………… 6
3.2 Cơ sở pháp lý cho công tác Cảnh giác Dược ở Việt Nam 7
3.3 Vị trí của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác Dược ………
8 II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẢNH GIÁC DƯỢC CỦA TÌNH HUỐNG………
10 1 Tổng quan về thuốc rocuronium bromide……… 10
2 Vài nét về tình hình báo cáo ADR, thông tin thuốc đối với thuốc rocuronium bromide………
16 3 Một số nghiên cứu về rocuronium và báo cáo ADR của đơn vị kinh doanh thuốc………
17 Chương II PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG CẢNH GIÁC DƯỢC………
19 1 Tình huống Cảnh giác Dược (Chủ đề 8)……… 19
2 Phân tích tình huống ……… 19
3 Đề xuất hướng xử lý tình huống trong gây mê với thuốc rocuronium của công ty C………
23 3.1 Giải pháp cho tình huống……… 23
3.2 Giải pháp mang tính hệ thống……… 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục: BÁO CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là hàng hóa đặc biệt, có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, an toàn và hiệu quả điều trị bệnh đối với người sử dụng Thuốc đóng vai trò là yếu tố rất quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà thuốc mang lại, thuốc cũng có thể gây ra những phản ứng bất lợi, những bệnh lý nghiêm trọng, thậm chí gây
tử vong cho người dùng thuốc Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh phản ứng có hại của thuốc tạo ra những gánh nặng lớn về bệnh tật và kinh tế [7]
Nhằm mục đích đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý trong phòng và điều trị bệnh, hạn chế những phản ứng có hại do thuốc gây ra, hoạt động Cảnh giác dược đã được triển khai thực hiện Đây là một hoạt động chuyên môn quan trọng trong chăm sóc sức khỏe người bệnh Tại Việt Nam, hoạt động Cảnh giác Dược đã được triển khai từ năm 1994 với việc thành lập Trung tâm theo dõi ADR phía Bắc Đến năm 2009, Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc
và theo dõi phản ứng có hại của thuốc được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 09/6/2009 [11]
Trong hoạt động Cảnh giác Dược, báo cáo phản ứng có hại của thuốc
tự nguyện là phương pháp phổ biến nhất được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới để phát hiện và giám sát các phản ứng có hại của thuốc [7] Chính vì vậy, việc nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo ADR là nhiệm vụ rất quan trọng của hoạt động Cảnh giác Dược
Trên thực tế, hoạt động này chỉ thực sự hiệu quả khi có sự tham gia tích cực của nhiều đối tác khác nhau trong hệ thống y tế Trong đó, các đối tác chính báo cáo ADR là các cơ sở khám, chữa bệnh và cơ sở, đơn vị kinh doanh thuốc Mặc dù còn có sự chênh lệch về số lượng báo cáo ADR gửi từ các đơn
Trang 5vị kinh doanh thuốc so với từ cơ sở khám, chữa bệnh, nhưng các đơn vị kinh doanh thuốc đã từng bước tham gia tích cực vào hoạt động Cảnh giác Dược,
cơ sở dữ liệu báo cáo ADR của đơn vị kinh doanh thuốc đã có sử phát triển trong giai đoạn 2010 - 2019 về số lượng cũng như tỷ trọng báo cáo ADR [9], đóng góp một phần không nhỏ vào hệ thống Cảnh giác Dược tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển không ngừng của hoạt động Cảnh giác dược, ngày 11/01/2021, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 122/QĐ-BYT về việc ban hành Hướng dẫn Quốc gia về Cảnh giác Dược Đây là tài liệu quan trọng làm căn cứ để tổ chức, thực hành Cảnh giác dược Trong đó, vị trí, vai trò và trách nhiệm của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác Dược đã được mô tả, quy định rõ ràng
Trong bối cảnh đó, trước tình huống: Tháng 12/2021, Công ty C được Khoa Dược ở Bệnh viện X và Bệnh viện Y thông báo về việc giảm đáp ứng điều trị ở liều thường dùng của chế phẩm rocuronium bromid 50 mg/5 ml do công ty C sản xuất
Trong số 5 trường hợp trên, bệnh viện X có ghi nhận 4 trường hợp khi
sử dụng cùng 1 lô thuốc nên đã yêu cầu công ty C đổi sang lô thuốc khác
Vậy công ty C cần có phản ứng thế nào? Công ty cần làm gì và phối hợp với từng đơn vị, bệnh viện và các cơ quan quản lý ra sao? Có cần gửi báo cáo ADR các trường hợp trên hay không? Các giải pháp xử lý tình huống thế nào?
Để trả lời các câu hỏi trên, tôi tiến hành tiểu luận chuyên đề Phân tích
và đề xuất hướng xử lý tình huống trong gây mê với thuốc rocuronium của công ty C Tiểu luận hướng tới mục tiêu:
- Phân tích tình huống Cảnh giác Dược được giao
- Đề xuất các giải pháp xử lý tình huống và các giải pháp mang tính hệ thống khác
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN
I TỔNG QUAN VỀ CẢNH GIÁC DƯỢC
1 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của Cảnh giác Dược
1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm Cảnh giác Dược: Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế
giới (WHO), Cảnh giác dược (Pharmacovigilance) là: “Môn khoa học và những hoạt động liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác dụng có hại hoặc bất kỳ một vấn đề nào khác liên quan đến thuốc” [2]
Theo quy định tại Khoản 41 Điều 1 Luật Dược 2016, “Cảnh giác Dược
là việc phát hiện, đánh giá và phòng tránh các bất lợi liên quan đến quá trình
sử dụng thuốc”
- Biến cố bất lợi (Adverse event - AE): là bất kỳ một biến cố bất lợi
nào xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc khi điều trị nhưng không nhất thiết
là do phác đồ điều trị gây ra [2]
- Phản ứng có hại của thuốc (Adverse drug reaction - ADR): Theo
Luật Dược 2016, phản ứng có hại của thuốc là những tác dụng không mong muốn có hại đến sức khỏe, có thể xuất hiện ở liều dùng bình thường Theo WHO, phản ứng có hại của thuốc là phản ứng độc hại, không mong muốn và xuất hiện ở liều thường dùng cho người với mục đích phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị bệnh hoặc làm thay đổi chức năng sinh lý của cơ thể [2]
- Phản ứng có hại ngoài dự kiến (unexpected adverse reaction): Là
các phản ứng có hại có biểu hiện, mức độ nghiêm trọng, tần suất gặp chưa được mô tả trước đó trong thông tin kê đơn hay thông tin trên nhãn thuốc [2]
- Phản ứng có hại nghiêm trọng ngoài dự kiến (suspected unexpected serious adverse reaction – SUSAR): Là phản ứng có hại ngoài dự kiến và
Trang 7nghiệm trọng, hoặc là các biến cố bất lợi nghiêm trọng, ngoài dự kiến, nghi ngờ liên quan đến thuốc hoặc sản phẩm nghiên cứu [2]
- Biến cố bất lợi/phản ứng có hại nghiêm trọng (serious adverse event/serious adverse drug reaction – SAE/SADR): Là các biến cố bất
lợi/phản ứng có hại dẫn đến một trong những hậu quả: tử vong đe dọa tính mạng, buộc người bệnh phải nhập viện để điều trị hoặc kéo dài thời gian nằm viện của người bệnh, để lại di chứng nặng nề hoặc vĩnh viễn cho người bệnh; gây dị tật bẩm sinh ở thai nhi, hoặc bất kỳ phản ứng có hại được nhân viên y
tế nhận định là gây hậu quả nghiêm trọng về mặt lâm sàng cho người bệnh [2]
1.2 Mục tiêu của Cảnh giác Dược
- Phát hiện và cảnh báo kịp thời những vấn đề bất cập trong sử dụng thuốc;
- Góp phần đánh giá hiệu quả, an toàn, lợi ích, nguy cơ liên quan đến thuốc để đảm bảo lợi ích luôn vượt trội so với nguy cơ khi sử dụng thuốc;
- Tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu nguy cơ trong sử dụng thuốc, góp phần tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, hiệu quả, an toàn (gồm cả yếu tố chi phí – hiệu quả);
- Nâng cao nhận thức của nhân viên y tế và cộng đồng về Thông tin thuốc 9 và Cảnh giác Dược thông qua giáo dục và truyền thông [2]
1.3 Vai trò của Cảnh giác Dược
Trước khi đưa ra thị trường, tính an toàn của thuốc đã được đánh giá qua nhiều giai đoạn nghiên cứu phát triển thuốc Tuy nhiên, sau khi thuốc được lưu hành, trên thị trường, việc sử dụng thuốc không còn bị giới hạn trên một số lượng nhỏ người bệnh và các điều kiện nghiêm ngặt như trong thử nghiệm lâm sàng mà được mở rộng theo yêu cầu thực tế điều trị Lúc này các vấn đề như đặc điểm người bệnh, bệnh lý mắc kèm, thuốc dùng đồng thời, sử dụng thuốc kéo dài, tuân thủ điều trị không hoàn toàn giống như trong thử
Trang 8nghiệm lâm sàng Thêm vào đó, một số vấn đề khác liên quan đến tính an toàn của thuốc như thuốc giả, thuốc kém chất lượng hay sai sót liên quan đến thuốc thường chỉ xuất hiện sau khi thuốc được cấp phép lưu hành và đưa vào
sử dụng Vì vậy, tính an toàn của thuốc vẫn cần tiếp tục được theo dõi và đánh giá sau khi thuốc ra thị trường để có biện pháp can thiệp kịp thời trong trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh [2]
Vì lý do trên, mỗi quốc gia đều cần phát triển hệ thống cảnh giác dược của mình cho phù hợp với đặc điểm mô hình bệnh tật, yếu tố di truyền, chủng tộc và tình hình sử dụng thuốc [2] Các thông tin do các nhân viên y tế, cá nhân, tổ chức cung cấp về các phản ứng có hại của thuốc sẽ vô cùng hữu ích
để tiếp tục đánh giá một cách toàn diện hơn về các nguy cơ tiềm ẩn của thuốc khi lưu hành trên thị trường, từ đó, góp phần giảm thiểu tác hại do thuốc gây
ra, tiết kiệm chi phí điều trị, đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng
2 Hệ thống Cảnh giác Dược trên thế giới
Mạng lưới giám sát an toàn thuốc toàn cầu được ra đời sau thảm họa Thalidomid năm 1961, khi hàng nghìn trẻ em dị tật bẩm sinh được sinh ra có liên quan tới việc người mẹ dùng thuốc thalidomid trong thời kỳ mang thai Sau đó, các cơ quan an toàn thuốc quốc gia đầu tiên được thành lập tại Anh (Commity on Safety of Drugs) Tới năm 1968, WHO triển khai dự án thử nghiệm về giám sát thuốc toàn cầu (WHO Pilot Research Project for International Drug Monitoring) Cho tới nay, hệ thống cảnh giác dược trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, với trung tâm UMC - Uppsala Monitoring Centre (WHO-UMC) chịu trách nhiệm các hoạt động của chương trình giám sát thuốc toàn cầu Các hệ thống báo cáo phát triển và có tầm ảnh hưởng nhất bao gồm The yellow card (UK), Medwatch (US) và CIOMS [2], [12]
Tại châu Âu, hoạt động cảnh giác dược ở châu Âu được điều phối bởi
Cơ quan quản lý thuốc châu Âu (European Medicines Agency-EMA) và thực hiện bởi cơ quan quản lý thuốc có thẩm quyền giải quyết nước sở tại
Trang 9(National competent medicines authorities_NCA) Báo cáo cảnh giác dược có thể làm với phần mềm chuyên dụng hoặc trên một ứng dụng web - EVWEB -
có thể truy cập thông qua trang chủ EudraVigilance và cần phải đăng ký sử dụng EVWEB này [13]
Tại Mỹ, ba đối tác chính trong cảnh giác dược ở Mỹ là FDA, các nhà sản xuất dược phẩm và các tổ chức hàn lâm hoặc phi lợi nhuận như RADAR, Public Citizen [13]
Hệ thống báo cáo ADR được xem là nền tảng của thực hành Cảnh giác dược của mỗi quốc gia
3 Hệ thống Cảnh giác Dược tại Việt Nam
3.1 Quá trình hình thành hệ thống Cảnh giác Dược
Mặc dù, Cảnh giác dược được giới thiệu rộng rãi tại châu Âu từ những năm 1960, nhưng tới năm 1994, Việt Nam mới bắt đầu nhận thức và chính thức có những hoạt động liên quan đến Cảnh giác Dược và giám sát tính an toàn của thuốc trong khuôn khổ dự án SIDA “Hỗ trợ hệ thống quản lý Dược”
do Chính phủ Thụy Điển tài trợ Năm 1999, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của mạng lưới giám sát thuốc toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO Program for International Drug Monitoring - WHO PIDM) với đầu mối đặt tại Trung tâm giám sát thuốc toàn cầu Uppsala Thụy Điển (Uppsala Monitoring Center, thường được gọi tắt là Trung tâm WHO-UMC) Năm
2009, sự ra đời của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc đã đánh dấu bước thay đổi quan trọng trong hoạt động Cảnh giác Dược tại Việt Nam Năm 2011, Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bệnh viện Chợ Rẫy đã được thành lập Những đơn vị chuyên môn này cùng với Cục Quản lý Dược, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Cục Y tế dự phòng, Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo
và các cơ quan quản lý khác trong ngành y tế là đầu mối chính trong hoạt
Trang 10động Thông tin thuốc và Cảnh giác Dược tại Việt Nam [2], [11]
Hệ thống cảnh giác dược Việt Nam dần hoàn thiện với cấu trúc hoạt
động, tiến trình hoạt động được thể hiện như Hình 1 [2]
Hình 1 Tóm tắt tiến trình hoạt động của mạng lưới Cảnh giác Dược
3.2 Cơ sở pháp lý cho công tác Cảnh giác Dược ở Việt Nam
Trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống Cảnh giác Dược, một
số văn bản tài liệu là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho việc tổ chức thực hiện, khuyến khích công tác thực hiện báo cáo ADR của cán bộ y tế đã được ban hành Những cơ sở pháp lý này đã góp phần tăng cường số lượng và chất lượng báo cáo ADR Một số văn bản pháp quy, văn bản hướng dẫn chuyên môn chính thức liên quan tới hoạt động Cảnh giác Dược được liệt kê sau đây:
- Luật Dược 2016: Điều 77 (Cảnh giác dược) của Luật Dược (2016) đã
Trang 11có những quy định về hoạt động Cảnh giác Dược, trong đó đã quy định các nội dung hoạt động Cảnh giác Dược, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động Cảnh giác Dược Điều 78 của Luật này cũng quy định: “Cơ sở kinh doanh dược, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tổ chức hoạt động thông tin thuốc và cảnh giác dược tại cơ sở”
- Thông tư số 32/2018/TT-BYT ngày 12/11/2018 của Bộ Y tế Quy định việc đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc: Tại điều 3, điều 5 của Thông tư này quy định trách nhiệm, quy định về báo cáo theo dõi, đánh giá an toàn, hiệu quả của thuốc đối với cơ sở đăng ký thuốc, cơ sở kinh doanh dược
- Quyết định số 122/QĐ-BYT ngày 11/01/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc ban hành Hướng dẫn Quốc gia về Cảnh giác Dược: Theo đó, Hướng dẫn này đưa ra những quy định phạm vi, quy trình hoạt động, vai trò của các thành phần trong hệ thống và hướng dẫn chi tiết triển khai các hoạt động Cảnh giác Dược
3.3 Vị trí của đơn vị kinh doanh thuốc trong hệ thống Cảnh giác Dược
Theo Hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác Dược, đơn vị kinh doanh thuốc (kinh doanh dược) bao gồm: các công ty sản xuất, đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu, hoặc phân phối thuốc
Các đơn vị kinh doanh thuốc có vai trò rất quan trọng trong hệ thống Cảnh giác Dược, thông qua thực hiện các nhiệm vụ:
- Theo dõi và báo cáo biến cố bất lợi (adverse drug event - AE) xảy ra trong quá trình lưu hành thuốc do cơ sở mình sản xuất, đăng ký, kinh doanh cho Trung tâm DI & ADR Quốc gia và khu vực theo quy định hiện hành
- Cập nhật thông tin về chất lượng, an toàn và hiệu quả của thuốc do cơ
sở mình sản xuất, đăng ký, kinh doanh cho Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) trong trường hợp các thông tin này chưa được cập nhật vào hồ sơ đăng ký thuốc khi thuốc còn đang lưu hành trên thị trường theo quy định hiện hành
Trang 12- Trong trường hợp thuốc có số đăng ký lưu hành tại Việt Nam cũng được lưu hành ở các nước khác, cần cập nhật các thay đổi mới về quản lý thuốc liên quan đến vấn đề an toàn như thông tin trên nhãn, hạn chế chỉ định, thu hồi thuốc và rút số đăng ký của cơ quan quản lý dược phẩm nước ngoài cho Cục Quản lý Dược theo quy định hiện hành
- Xây dựng và triển khai kế hoạch quản lý nguy cơ và giảm thiểu nguy
cơ đối với các thuốc do cơ sở mình sản xuất, đăng ký, kinh doanh và khi được Cục Quản lý Dược yêu cầu
Hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác Dược năm 2021 cũng quy định cụ thể về thời hạn, biểu mẫu và phương thức báo cáo, thể hiện tại bảng 1
Bảng 1 Các quy định báo cáo ADR của đơn vị kinh doanh dược
Thời hạn
báo cáo
- ADR nghiêm trọng gây tử vong hoặc
đe dọa tính mạng người bệnh: báo cáo
ban đầu gửi trong thời gian sớm nhất có
thể nhưng không muộn hơn 7 ngày làm
việc kể từ ngày số không; báo cáo bổ
sung gửi trong thời gian sớm nhất có thể
nhưng không muộn hơn 15 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được thông tin bổ
sung
- ADR nghiêm trọng không thuộc loại
gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng
người bệnh: báo cáo ban đầu gửi trong
thời gian sớm nhất có thể nhưng không
muộn hơn 15 ngày làm việc kể từ ngày
số không; báo cáo bổ sung gửi trong
thời gian sớm nhất có thể nhưng không
muộn hơn 15 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được thông tin bổ sung
- ADR không nghiêm trọng: báo cáo
ban đầu gửi trong thời gian sớm nhất có
thể nhưng không muộn hơn 30 ngày
theo lịch kể từ ngày số không; báo cáo
bổ sung gửi trong thời gian sớm nhất có
thể nhưng không muộn hơn 30 ngày
theo lịch kể từ ngày nhận được thông tin
bổ sung
Gửi báo cáo trong thời gian sớm nhất
có thể nhưng không muộn hơn 90 ngày theo lịch sau khoảng thời gian
mà báo cáo bao phủ Thông tin trong báo cáo được tổng hợp theo chu kỳ đối với từng sản phẩm Chu kỳ này do cơ
sở kinh doanh Dược lựa chọn và đăng
ký khi nộp báo cáo ADR định kỳ lần đầu Hướng dẫn này khuyến khích báo cáo theo chu kỳ hàng năm kể từ ngày sinh quốc tế của thuốc
Trang 13Báo cáo ADR đơn lẻ Báo cáo ADR định kỳ
- Mẫu báo cáo của Hội đồng các tổ chức
quốc tế về khoa học y học (mẫu báo cáo
CIOMS I) (xem phụ lục 6.1 của Hướng
dẫn này)
- Mẫu báo cáo bất thường về chất lượng
thuốc (chỉ áp dụng cho trường hợp nghi
ngờ thuốc giả hoặc thuốc không đạt tiêu
chuẩn chất lượng nhưng không gây ra
biến cố bất lợi trên bệnh nhân) (xem
phụ lục 2.5 của Hướng dẫn này)
- Báo cáo định kỳ về tính an toàn của thuốc (PSUR) hoặc Báo cáo đánh giá định kỳ về hiệu quả và tính an toàn của thuốc (PBRER) theo Hướng dẫn E2C của Hội nghị hòa hợp quốc tế tại website www.ich.org (báo cáo có thể được viết bằng ngôn ngữ tiếng Anh hoặc tiếng Việt) Báo cáo này cần nộp kèm báo cáo tóm tắt về hiệu quả và tính an toàn của thuốc bằng tiếng Việt (xem phụ lục 6.2 của Hướng dẫn này)
- Báo cáo an toàn, hiệu quả của thuốc sau khi lưu hành theo quy định hiện hành về đăng ký thuốc (xem phụ lục 6.3 và phụ lục 6.4 của Hướng dẫn này)
Hình
thức báo
cáo
Gửi báo cáo qua đường bưu điện, fax
hoặc email Ưu tiên gửi báo cáo bằng bản điện tử qua đĩa CD, USB hoặc email
Nơi
nhận báo
cáo
Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc
(nhận báo cáo từ tất cả các tỉnh/thành phố trên phạm vi toàn quốc)
Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc thành phố Hồ Chí Minh (nhận báo cáo của các tỉnh/thành phố từ Đà Nẵng trở
Trang 14Rocuronium bromid (tên chung quốc tế Rocuronium bromide) là một aminosteroid, có hoạt tính chẹn thần kinh - cơ không khử cực, gây giãn cơ, có tác dụng nhanh và thời gian tác dụng trung bình Sau khi tiêm, tác dụng giãn
cơ xuất hiện trong vòng 1 - 2 phút, sau đó kéo dài 30 - 50 phút Cơ chế tác dụng của rocuronium cũng tương tự các thuốc chẹn thần kinh - cơ không khử cực khác là do thuốc gắn với thụ thể acetylcholin ở màng sau synap, do đó thuốc phong bế cạnh tranh tác dụng dẫn truyền của acetylcholin ở bản vận động của cơ vân Các thuốc ức chế acetylcholinesterase như neostigmin hoặc edrophonium làm mất tác dụng này của rocuronium bromid [3]
Trong lâm sàng thuốc giãn cơ rocuronium hay dùng liều 1,5 - 2 ED90
để đặt ống nội khí quản Thời gian khởi phát và mức độ tác dụng trên các nhóm cơ khác nhau Điều đó phụ thuộc vào cấu tạo giải phẫu, cấu trúc cơ, độ nhạy cảm và sức đề kháng với thuốc giãn cơ [6]
Tác dụng lên các nhóm cơ: Thứ tự tác dụng trên các nhóm cơ như sau:
Nhóm cơ nhỏ: cơ mặt, cơ mắt Nhóm cơ trung bình: cơ lưỡi, cơ nhai, cơ tay Nhóm cơ lớn: cơ cổ, cơ vai, cơ lưng, cơ bụng Nhóm cơ hô hấp: cơ hoành, cơ liên sườn [6]
1.2 Dược động học
Sự phân bố thuốc được chia thành nhiều pha: Pha ban đầu phân bố nhanh có nửa đời 1 - 2 phút, tiếp theo là pha phân bố chậm có nửa đời 14 - 18 phút Khoảng 30% liều thuốc được liên kết với protein huyết thanh Nửa đời thải trừ là 1,4 - 1,6 giờ Chất chuyển hóa chính của rocuronium bromid là 17-desacetylrocuronium được cho là có hiệu quả phong bế thần kinh - cơ yếu Rocuronium bromid được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, tới 40% liều thuốc được bài tiết theo con đường này sau 24 giờ Rocuronium cũng được bài tiết vào mật [3]
1.3 Chỉ định - chống chỉ định
Chỉ định: Giãn cơ trong phẫu thuật, đặt nội khí quản, hỗ trợ trong thực
Trang 15hiện hô hấp có điều khiển [3]
Chống chỉ định: Người có tiền sử phản ứng quá mẫn với rocuronium
hoặc ion bromid Trẻ sơ sinh dưới 1 tháng [3]
1.4 Thận trọng
Rocuronium có tương tác với nhiều nhóm thuốc khác nhau, cần thận trọng khi dùng kết hợp với các thuốc khác Người bệnh suy gan, suy thận Phải thận trọng vì tác dụng của thuốc có thể kéo dài với liều 0,6 mg/kg Ở người bệnh nhược cơ hoặc có hội chứng nhược cơ, một liều nhỏ thuốc giãn cơ loại chẹn thần kinh cơ cạnh tranh không khử cực có thể gây tác dụng rất mạnh Ở những người bệnh này, cần phải có máy kích thích thần kinh ngoại
vi để theo dõi và chỉ sử dụng những liều thử nhỏ nhằm theo dõi sự đáp ứng của người bệnh đối với việc chỉ định liều dùng cho các thuốc giãn cơ Đối với những người bệnh mất cân bằng điện giải, tác dụng của rocuronium bromid
có thể tăng Phải thận trọng dùng thuốc trong trường hợp phẫu thuật ở trạng thái hạ thân nhiệt do tác dụng của thuốc vừa mạnh vừa kéo dài, phải giảm liều Người bị bỏng thường kháng thuốc loại không khử cực, có thể phải tăng liều Ngược lại, đối với người suy nhược, suy kiệt, thuốc có thể tác dụng mạnh nên có thể phải giảm liều Cần cân nhắc cẩn thận khi dùng rocuronium bromid lâu dài cho người thở máy vì có thể gây liệt kéo dài và yếu các cơ xương Rocuronium bromid chỉ được sử dụng khi có các trang thiết bị hỗ trợ
hô hấp và có nhân viên kinh nghiệm trong thực hành hô hấp nhân tạo, đặc biệt cần hồi sức khi ngừng thở [3]
1.5 Liều lượng và cách dùng
Cách dùng: Rocuronium bromid được tiêm tĩnh mạch nhanh hoặc
truyền tĩnh mạch [3]
Liều lượng: Liều lượng phải được điều chỉnh cẩn thận, tuỳ theo nhu
cầu và đáp ứng của từng người bệnh Nên dùng một máy kích thích dây thần kinh ngoại biên để giám sát chính xác mức độ giãn thần kinh - cơ, để giảm
Trang 16thiểu khả năng quá liều và để đánh giá hồi phục sau khi thần kinh - cơ bị chẹn
ở người được gây mê và có dùng thuốc này Phải giảm liều rocuronium bromid khi gây mê loại enfluran, isofluran vì các thuốc này tăng tác dụng chẹn thần kinh - cơ Người lớn: Liều khởi đầu (để đặt nội khí quản) thông thường là 0,6 mg/kg, tiêm tĩnh mạch nhanh Sau khi tiêm, giãn cơ cần thiết để đặt nội khí quản đạt được trong vòng 1 phút (dao động từ 0,4 - 6 phút) và đa
số người bệnh đã được đặt nội khí quản xong trong vòng 2 phút, giãn cơ tối
đa thường có trong vòng 3 phút Khi dùng đồng thời với gây mê phối hợp nhiều thuốc, liều ban đầu này thường làm giãn cơ đủ cho lâm sàng khoảng 31 phút (dao động từ 15 - 85 phút) Nếu dùng liều ban đầu cao hơn (nhà sản xuất cho rằng có thể dùng liều ban đầu nếu cần tới 0,9 hoặc 1,2 mg/kg), như vậy làm giãn cơ đủ cho lâm sàng trong khoảng 58 phút (dao động từ 27 - 111 phút) hoặc 67 phút (dao động từ 38 - 160 phút), tương ứng với các liều trên Liều duy trì: Để đặt nội khí quản nhanh ở người đã được tiền mê và gây mê thỏa đáng, liều ban đầu rocuronium bromid 0,6 - 1,2 mg/kg đã tạo điều kiện tốt cho đặt nội khí quản trong khoảng dưới 2 phút Khi dùng đồng thời với gây mê phối hợp nhiều thuốc, liều duy trì thông thường ở người lớn là 0,1 - 0,15 mg/kg hoặc 0,2 mg/kg, làm giãn cơ đủ cho lâm sàng trong khoảng 12 phút (dao động từ 2 - 31 phút), 17 phút (dao động từ 6 - 50 phút) hoặc 24 phút (dao động từ 7 - 69 phút) tương ứng với các liều trên Một cách khác, có thể truyền tĩnh mạch liên tục liều duy trì, nhưng chỉ cho khi nào có biểu hiện hồi phục sớm rõ sau khi tiêm tĩnh mạch liều ban đầu Tốc độ truyền dao động từ 4
- 16 microgam/kg/phút [3]
Với người bệnh béo phì (có cân nặng vượt quá 30% trọng lượng cơ thể
lý tưởng của họ): Nhà sản xuất khuyến cáo liều phải được dựa theo trọng lượng khối cơ thể không mỡ [3]
Người cao tuổi hoặc người bệnh suy thận và suy gan: Liều duy trì giảm: 75 - 100 microgam/kg (0,075 - 0,10 mg/kg) [3]