Đức là đạo đức cách mạng , đó là cái gốc rất quan trọng”.Nhiệm vụ của nhà trường phải làm sao có biện pháp hiệu quả trong công tác GDĐĐ HS Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3Lời cảm ơn
Với tất cả tình cảm và lòng chân thành của mình, em xin bày tỏ lòng biết ơn quý Thầy Cô, Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng với quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy chúng em lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 11 của Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội Các thầy cô đã dành nhiều công sức giảng dạy, tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới TS Phạm Thị Thu Hoa, người đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, các cơ quan,
tổ chức, đơn vị, Bam giám hiệu, các đồng chí cán bộ giáo viên, các bác phụ huynh và các em học sinh trường THPT Tây Hồ đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình khảo nghiện thực tế
Xin được gửi lời đến người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm động viên giúp
đỡ để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định
Rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của các quý thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28/11/2013
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Tiến
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 5Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Đánh giá kết quả GDĐĐ HS của các nhà trường năm học 2012 - 2013 Trang
35 Bảng 2.2 Thống kê những biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinh
trong năm học 2012 -2013
36
Bảng 2.3 Những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng vi phạm đạo đức trong học sinh
37 Bảng 2.4: Qui mô phát triển học sinh trong những năm gần đây 39 Bảng 2.5 Chất lượng giáo dục văn hóa của trường qua các năm học 40 Bảng 2.6 Thống kê xếp loại hạnh kiểm học sinh trường THPT Tây Hồ qua một số
năm 41
Bảng 2.7 Thống kê về đội ngũ GV trường THPT Tây Hồ năm học 2012 -2013
43 Bảng 2.8 Ý kiến của các LLGD và HS về tính quan trọng GDĐĐ trong trường THPT Tây
Bảng 2.11 Ý kiến nhận thức về sự cần thiết của các hình thức giáo dục đạo đức học sinh ở
Bảng 2.12 Các yếu tố và điều kiện cần thiết để GDĐĐ HS
51
Bảng 2.13 Đánh giá thực trạng công tác chỉ đạo và xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh
Bảng 2.14 Đánh giá vai trò của các lực lượng tham gia GDĐĐ học sinh ở trường THPT
Bảng 2.15 Đánh giá sự phối hợp các lực lượng trong công tác GDĐĐ cho học sinh ở
Bảng 2.16 Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng GDĐĐ HS
58 Bảng 2.17 Đánh giá mức độ vi phạm đạo đức của học sinh đã xảy ở trường THPT Tây Hồ
Bảng 2.17 Đánh giá nguyên nhân dẫn đến hiện tượng vi phạm đạo đức trong học sinh
71 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và tính cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt
động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Tây Hồ 109
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang 7MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
Mục lục
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề QLGDĐĐ
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.3 Quản lý hoạt động GDĐĐ trong trường THPT 1.3.1 Đặc điểm chung của trường THPT
1.3.2 GDĐĐ trong trường THPT
1.3.3 Quản lý hoạt động GDĐĐ
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đạo đức của HS ở trường THPT
1.4.1 Về tâm sinh ly ́ ho ̣c sinh THPT
1.4.2 Vai trò của từng lực lượng trong quản lý GDĐĐ học sinh
Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội và giáo dục của Quận Tây Hồ - Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế- xã hội của quận Tây Hồ -Hà Nội
2.1.2.Tình hình giáo dục của huyện Quận Tây Hồ
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh THPT trên địa bàn Quận Tây Hồ
2.2.1.Đặc điểm chung ĐĐHS của các trường THPT trên địa bàn quận Tây Hồ
Trang
i
ii iii
iv
v
1
6
6
6
7
9
15
15
15
22
26
26
27
30
31
31
32
32
Trang 82.2.1.1 Tình hình chung
2.2.1.2.Tình hình GDĐĐ HS của các nhà trường THPT trên địa bàn quận Tây Hồ
2.2.1.3 Đặc điểm chung cu ̉ a trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
2.2.2 Kết quả một số hoạt động giáo dục những năm gần đây
2.2.3 Thực trạng công tác quản lý quá trình GDĐĐ HS ở trường THPT Tây Hồ - Hà Nội
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động GDĐĐ và biện pháp quản lý quá trình GDĐĐ ở trường THPT Tây Hồ - Hà Nội
2.3.1 Mặt tích cực 2.3.2 Những hạn chế yếu kém
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém trong công tác GDĐĐ ở trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3:CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂY HỒ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI- GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ HS ở trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ HS ở trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên, CMHS và các tổ chức xã hội về GDĐĐ cho HS
3.2.2 Xây dựng kế hoạch tự tu dưỡng đạo đức và ý thức tự quản của HS ở trường THPT Tây Hồ
3.2.3 Nâng cao năng lực hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp
3.2.4 Nâng cao vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên trong GDĐĐ HS 3.2.5 Nâng cao chất lượng hoạt động GDĐĐ dưới cờ của HS trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
3.2.6 Nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy môn Giáo dục công dân trong nhà trường
3.2.7 Tổ chức tốt việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường
3.2.8.Đổi mới công tác quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ HS, xây dựng chế độ
32
34
34
35
37
37
42
57
57
61
65
69
72
73
72
72
72
72
73
73
Trang 9khen thưởng, trách phạt hợp lý
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của một số biện pháp đã đề xuất KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận
2 Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
76
78
83
86
Trang 10lý của nhà nước Nền kinh tế - xã hội đang đổi thay nhanh chóng, đặc biệt là
sự hội nhập nền văn minh, văn hóa của các nước phát triển Với công cuộc đổi mới chúng ta đã thu được thành tựu to lớn và rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa - giáo dục
Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo; khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách về giáo dục, đào tạo giữa nước ta và các nước ngày càng mở rộng; hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinh những v ấn đề mới, nguy cơ xâm nhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn dần bản sắc văn hóa dân tộc, sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục, đào tạo kém chất lượng từ bên ngoài có thể gây rủi ro lớn đối với giáo dục và đào tạo nước ta
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong năm nhiệm vụ quan trọng của giáo dục toàn diện ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đạo đức con người như cái gốc của cây, như nguồn của sông Người luôn nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong đời sống Ngày 21 tháng 10 năm 1964 khi về thăm
trường Đại học sư phạm Hà Nội, Bác Hồ đã dạy “ Công tác giáo dục đạo đức
trong nhà trường là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường XHCN Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức
Trang 11lẫn tài Đức là đạo đức cách mạng , đó là cái gốc rất quan trọng”.Nhiệm vụ
của nhà trường phải làm sao có biện pháp hiệu quả trong công tác GDĐĐ HS
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam càng trở nên đặc biệt quan trọng như Đảng ta đã nhận
định trong Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII nhấn mạnh “ Đặc biệt đáng lo ngại
một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt
về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh…” [22]
Trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Giáo dục nỗ lự thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ của mình là “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
vệ tổ quốc”
1.2 Về mặt thực tiễn
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đang đi vào chiều sâu và được phát triển trên qui mô lớn, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cơ chế thị trường nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đang phát huy tác dụng tích cực tạo nên sự phát triển năng động và thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội ở nước ta Hiện nay, ở vào thời kì hội nhập nhiều HS, SV có ý chí vươn lên trong học tập, có nhiều hoài bão khát vọng lớn Tuy nhiên, cũng dưới tác động của cơ chế mở cửa và do nhiều nguyên nhân khác ngày càng bộc lộ những mặt trái gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần, thay đổi hành vi nhận thức của giới trẻ; Hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng, một số hành vi vi phạm pháp luật của HS, SV khiến gia đình và xã hội lo lắng như: Vi phạm giao thông, đua xe trái phép, bạo lực
Trang 12nhà trường, quay cóp bài, mua điểm, cờ bạc, nghiện rượu, trong gia đình trẻ
em thiếu kính trên nhường dưới, không vâng lời cha mẹ, người lớn….Một số hành vi lệch chuẩn khác về mặt đạo đức như; Sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, không kính trọng thầy cô, các em mê games bỏ học hoặc tự tử vì games; …Những ảnh hưởng tiêu cực đó tác động vào mọi quan hệ xã hội, làm suy thoái những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên
là do công tác quản lý hoạt động GDĐĐ HS còn nhiều yếu kém
Trường THPT Tây Hồ được thành lập cách đây 10 năm, vấn đề quản
lý hoạt động GDĐĐ HS còn gặp nhiều khó khăn, không tránh khỏi tình trạng trên GDĐĐ cho HS đã được chú trọng nhưng chưa đạt hiệu quả cao, công tác
Một số GV bộ môn chưa quan tâm giáo dục hành vi đạo đức cho HS trong giờ học của mình, còn e ngại, ỉ lại cho GVCN, ban quản lý HS, BGH nhà trường
Vấn đề GDĐĐ HS của GV phần lớn là dựa vào kinh nghiệm chưa được đào tạo sâu theo các chuyên ngành Đội ngũ cán bộ GV chủ nhiệm lớp còn một bộ phận không nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa thực sự tâm huyết với HS, chưa quan tâm đến công tác GDĐĐ HS
Việc quản lý hoạt động GDĐĐ HS còn thiếu đồng bộ chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và các cấp chính quyền địa phương
Trang 13Xuất phát từ thực trạng trên, là một giáo viên giảng dạy và làm công tác
chủ nhiệm lớp học ở trường THPT, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức học sinh ở Trường trung học phổ thông Tây Hồ ,Thành phố Hà Nội ” Với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn việc quản
lý hoạt động GDĐĐ HS của nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người tốt trong xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diê ̣n cho HS của nhà trường
3 Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông
4 Giả thuyết nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDĐĐHS trường THPT Tây Hồ hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cấp, hiệu quả thấp, ảnh hưởng đến công tác giáo dục toàn diện trong trường THPT
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý, khoa học, khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động GDĐĐ HS ở trường
THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận nghiên cứu quản lý hoạt động GDĐĐ HS và biện pháp quản lý GDĐĐ HS Trung học phổ thông
- Khảo sát , đánh giá , phân tích thực tra ̣ng viê ̣c quản lý hoạt động GDĐĐ HS ở trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ
Trang 14cho HS trườ ng Tây Hồ - TP Hà Nội trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được tập trung nghiên cứu về hoạt động quản lý GDĐĐ ở
trường THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
- Đề tài nghiên cứu trong các năm học 2012 -2013 và các số liệu thông
kê của các năm học trước, được tiến hành của cả 3 khối lớp; khối 10, khối 11, khối 12, Cán bộ quản lý, GV, nhân viên trong trường, cha mẹ học sinh trường
THPT Tây Hồ - TP Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứ u , phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu , văn bản
liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo
- Nghiên cứu tài liệu kinh điển
- Nghiên cứu giáo trình, sách báo, các công trình có liên quan
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát các hoạt động GDĐĐ của nhà trường
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề QLGDĐĐ
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN ); nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo Ông coi trọng vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý học Nội dung và mục tiêu chủ yếu của GD được ghi trong Tứ thư và Ngũ Kinh Nhưng cụ thể và tập trung nhất trong các tác
phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc ,Xuân, Thu” rất xem trọng việc giáo dục
đạo đức Ông xây dựng học thuyết “ Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là
lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người
Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, có chủ trương nổi tiếng truyền lại cho
đến nay “ Lễ trị”, lấy “ Lễ” để xử ở đời Muốn vậy mọi người phải biết tu
thân làm gốc.[28]
Nhà triết học phương Tây Socrates (470 - 399 - TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức Chủ trương đạo đức của Socrates là tri thức và đạo đức là một nghĩa, là muốn sống phải tri thức và chỉ cần có tri thức về nhận thức là sống nhân đức [ 35]
Rabơle ( 1494 – 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kỳ phục hưng Ông đòi hỏi
giáo dục phải bao hàm nội dung “ Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và
đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như việc học ở lớp và ở nhà ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghệ sỹ, đặc biệt mỗi tháng một lần thầy, cô và trò về sống ở nông thôn một ngày
Trang 16Komensky ( 1592 – 1670) nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc, ông luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em,
bởi trẻ em cũng như những cây no trong vườn ươm; “ Để cây có lớn một cách
lành mạnh, nhất thiết phải được quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót…”
Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai là nghề nuôi dạy
trẻ; “ Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để
trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…”[ 34]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Đạo đức là một phẩm chất cao đẹp của nhân cách con người, là truyền thồng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, nhà nước, các cấp chính quyền các nhà giáo dục và của toàn xã hội Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh
nghiệm về giáo dục: "Tiên học lễ, hậu học văn", “Lễ” ở đây chính là nền tảng
của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng Ngày nay, phương
châm "Dạy người, dạy chữ, dạy nghề" cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ, như Bác Hồ đã dạy:“ Dạy cũng như học, phải chú trọng
cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc
sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định ”
Trước cách mạng Tháng Tám 1945, ở nước ta có rất nhiều sách dạy về luân lý, dạy làm người, dạy giao tiếp Đó là những tác giả; Trần Trọng Kim, Trần Hữu Độ, Lê Văn Siêu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…
Phan Bội Châu, trong tác phẩm “ Khổng học đăng” với quan điểm tiến
bộ đã đúc kết những tinh hoa của Khổng học, chắt lọc tính nhân bản sâu sắc, phát huy những phẩm chất cao cả của con người nhằm phục vụ bản thân và xã
hội Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín - Dũng - Liêm là những đức tính cần phải
được mọi người trau dồi, học tập, nhất là thế hệ thanh niên.[ 9]
Trang 17Phan Chu Trinh, với “ Đạo đức và luân lý” đã được đề cao sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người Theo ông một dân tộc muốn đứng lên không bị người ta chèn ép thì phải có một nền đạo đức vững chặt, đó là cái tính của dân trong ngàn năm lịch sử [ 33]
GDĐĐ của con người được Chủ Tịch Hồ Chí Minh đánh giá “Có tài
mà không có đức thì là người vô dụng” Người coi trọng mục tiêu, nội dung
giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”,
“Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: Cần - Kiệm - Liêm - Chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu
về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, Võ hồng Ngọc và nhiều tác giả khác
Trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 – 2000 cho GV THPT; “ Đạo đức học” các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương
đã phân tích quá trình phát triển tâm lý HS THPT về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số HS hiếu học chăm ngoan, thông minh và chỉ có một bộ phận
HS hư mà người có lỗi lại chính là người lớn chúng ta Tác giả đề cập một số vấn đề quan tâm trong giảng dạy và GDĐĐ HS, trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập, tình yêu, trong giao tiếp Đặc biệt tác giả đề xuất một số phương pháp giảng dạy và GDĐĐ cho
HS trong nhà trường THPT bằng một số nhóm phương pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như mối quan hệ giữa các phương pháp đó
Trong tác phẩm “ Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” [12] của nhóm tác giả Phạm Minh Hạc làm chủ
biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đánh giá
Trang 18thực trạng đạo đức HS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận với mục tục giáo dục giá trị đạo đức trong thời kỳ mới
Trong bài viết " Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà
trường phổ thông, điều kiện cơ bản góp phần tạo lập nền tảng đạo đức của thanh niên TP hồ Chí Minh phát triển bền vững" của tác giả Võ Xuân Đàm
Ngày 29 tháng 8 năm 2007, được Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cho HS, sinh viên trong các, học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp với mục đích rèn luyện và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống văn minh, tiến bộ, góp phần giáo dục toàn diện cho HS - SV và trong mục 4
của điều 4 về nguyên tắc có nêu rõ: "Đảm bảo phát huy tính năng động, sáng
tạo và tích cực của HS, SV, biến quá trình giáo dục, rèn luyện thành tự giáo dục, tự rèn luyện" và định ra ba nội dung với tám vấn đề cơ bản
Quan điểm chỉ đạo phát triển GD&ĐT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp GD&ĐT là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục XHCN mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại Thực hiện giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học Chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành Thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng có thuộc tính lịch sử, đây cũng là hiện tượng
xã hội có từ rất sớm Quản lý ra đời chính là tạo hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm của từng cái nhân riêng lẻ, một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung với nhau
Trang 19Theo những định nghĩa kinh điển nhất, được các nhà nghiên cứu chuyên sâu về khoa học quản lý đề cập:
Frederick Winslow Taylor ( 1856 - 1915) là người sáng lập ra thuyết
quản lý theo khoa học Theo ông thì " Quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [ 11,tr 28]
Henri Fayol ( 1841 - 1925) là cha đẻ của thuyết quản lý hành chính,
Ông là người đầu tiên đã phân biệt quản lý thành 5 chức năng " Quản lý hành
chính là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra" [11 tr 31]
Theo C.Marx: " Quản lý lao động là điều khiển lao động" C.Marx đã
coi việc xuất hiện quản lý là một kết quả tất yếu của sự chuyển nhiều quá trình lao động khác biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội
được phối hợp lại C.Marx đã nhấn mạnh vai trò của quản lý;" Một nhạc sĩ
độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một giàn nhạc thì phải có nhạc trưởng" [ 31, tr 326]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì: "Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo ( lãnh đạo) và kiểm tra" [10, tr9]
Tác giả Trần Khánh Đức: " Quản lý là một hoạt động có ý thức của con
người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay của một cộng đồng người để đạt được mục tiêu
đề ra một cách có hiệu quả nhất " [12,tr 327]
Từ những quan điểm về quản lý giáo dục nói trên, có thể hiểu một cách
khái quát: "Quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thay đổi tích cực, để đạt được mục đích của chủ thể quản lý"
Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra từ nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia trong mọi thời đại, quản lý là một tất yếu lịch sử phát triển của loài người
Trang 20Trong quản lý, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, khi mục tiêu tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý
H1.1 Sơ đồ về quản lý
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chất của giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển
Quản lý giáo dục được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra một
số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa giáo dục vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế hệ và từng học sinh".[14,tr9]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:"Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội" Ngày nay sứ mệnh phát triển
giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà
là nhiệm vụ giáo dục cho toàn xã hội
Trang 21Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý phù hợp quy luật của chúng nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối của giáo dục, của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [ 26,tr 341]
Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau, diễn đạt khác nhau về quản lý
giáo dục, khái niệm quản lý giáo dục có thể hiểu: " Quản lý giáo dục là sự tác
động có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau tới toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của trẻ"
1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục, nhà trường chính là nơi tiến hành các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục mà xã hội đòi hỏi
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ đang lớn lên" [13,tr 9]
Theo Phạm Viết Vượng "Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường"[33,tr 205]
Theo Trần Thị Tuyết Oanh: " Quản lý trường học là hoạt động của các
cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường".[24,tr.135]
Trang 22Từ những quan điểm về quản lý giáo dục nói trên, có thể hiểu một cách
khái quát "Quản lý nhà trường phổ thông là sự tác động có định hướng, có kế
hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý giáo dục, nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục"
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục Mục đính cuối cùng của tổ chức giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và chiến đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội
1.2.4 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, là một hình thái ý thức đặc biệt phản ánh mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống Đạo đức bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận,
có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với xã hội
Bàn về vấn đề đạo đức có nhiều các định nghĩa và các quan điểm khác nhau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: "Giáo dục đạo đức là một
quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen đạo đức" [ 12, tr 156]
Theo nghĩa hẹp: "Đạo đức là luân lý, những qui định, những chuẩn
mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc, với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống"
Theo nghĩa rộng " Đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị,
pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh
bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hóa"
Trang 23Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng: "Đạo đức là một
hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội" [28,tr.51]
Ngày nay chúng ta đang tiến hành công cuộc xây dựng đổi mới đất nước, thời kỳ CNH - HĐH Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, văn hóa hội nhập, đạo đức cũng có sự thay đổi nhất định về tư duy nhận thức Các chuẩn mực đạo đức mới được xây dựng trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc , phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
Từ những phân tích thông qua các định nghĩa, từ những quan điểm
quản lý giáo dục trên, có thể hiểu: " Đạo đức là hệ thống các nguyên tắc, các
chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng của xã hội"
1.2.5 Khái niệm giáo dục đạo đức
GDĐĐ là một quá trình lâu dài, liên tục và phải được sự ủng hộ, phối hợp không những giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường mà còn giữa nhà trường với gia đình, các lực lượng xã hội cũng như sự tự giác rèn luyện của bản thân HS
Theo Makarenko:" Giáo dục đạo đức có nghĩa là rèn luyện những
phẩm chất tốt cho học sinh ( tính trung thực, thật thà, thái độ tận tâm, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, lòng yêu thích học tập, thái độ XHCN đối với người lao động, chủ nghĩa yêu nước) và trên cơ sở đó uốn nắn những sai sót của chúng" [ 24, tr 28]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã định nghĩa: "Giáo dục
đạo đức là quá trình biến đổi các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏbên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục".[25]
Trang 24Theo tác giả Hà Nhật Thăng: " Giáo dục đạo đức là hình thành ở mọi
công dân thái độ đúng đắn tình cảm niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh" [ 30, tr 209]
Có thể nói giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn bộ hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội Điều này được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp GD&ĐT là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục XHCN mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại Thực hiện giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học Chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành Thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam
1.2.6 Khái niệm quản lý hoạt động GDĐĐ
Theo Hà Nhật Thăng." Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác
động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm giúp hoạt động GDĐĐ đạt được kết quả mong muốn, làm cho tất cả mọi người trong xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác GDĐĐ trong xã hội"[ 27]
Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức của HS dưới tác động có mục đích, có kế hoạch được lựa chọn về nội dung và phương pháp, phương tiện phù hợp với đối tượng giáo dục và sự phát triển kinh tế xã hội nhất định
GDĐĐ trong nhà trường THPT là quá trình giáo dục bộ phận trong tổng thể các quá trình giáo dục có quan hệ biện chứng với các bộ phận giáo dục khác như; Giáo dục thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp
HS hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Quá trình GDĐĐ giống như
Trang 25các quá trình giáo dục khác là có sự tham gia của các chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục
Tác giả luận văn quan niệm quá trình GDĐĐ được hiểu: " Quản lý hoạt
động GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản
lý bằng các biện pháp hiệu quả nhất nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt tới kết quả mong muốn"
1.3 Quản lý hoạt động GDĐĐ trong trường THPT
1.3.1 Đặc điểm chung của trường THPT
Trường THPT là bậc học cuối cùng của ngành học phổ thông, là bậc học cần phải hoàn thiện kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện cho học sinh, có vai trò quan trọng trong việc GDĐĐ
Theo tác giả Võ Xuân Đàm: GDĐĐ trong hệ thống giáo dục phổ thông
có vai trò to lớn đối với sự phát triển về phương diện đạo đức của lớp thanh niên qua từng thế hệ Trong nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh ở nước ta các giá trị và phẩm giá đạo đức trong xã hội còn đan xen lẫn nhau thì GDĐĐ trong nhà trường càng trở nên cấp thiết và đòi hỏi sự đồng bộ, hệ thống, thích hợp với từng lứa tuổi Để làm tốt được điều này ta thường nói với nhau tìm kiếm những phương pháp nâng cao chất lượng GDĐĐ Có nhiều phương pháp để nâng cao chất lượng GDĐĐ nhưng cơ bản nhất vẫn là phương pháp truyền đạt kiến thức cơ bản và phương pháp nêu gương vì những tấm gương sáng trong quá khứ và hiện tại là hiện thân của các giá trị, các chuẩn mực về đạo đức Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức ở nhà trường phổ thông cần phải sử dụng sức mạnh tổng hợp từ ba nguồn lực cơ bản: nhà trường - gia đình - xã hội thì mới có thể nâng cao chất lượng GDĐĐ trong nhà trường phổ thông một cách bền vững tạo nền tảng vững chắc cho cơ
sở rèn luyện đạo đức cho lớp thanh niên giai đoạn tiếp của HS THPT ở các trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề và đội ngũ lao động đơn giản là thanh niên trong cộng đồng không có điều kiện tiếp tục học lên
1.3.2 GDĐĐ trong trường THPT
Trang 261.3.2.1 Mục tiêu GDĐĐ
GDĐĐ là một trong những mục tiêu của giáo dục phổ thông, điều này
đã được xác định rõ trong văn bản " Luật giáo dục" có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 2006 " Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo hình thành nhân cách con người Việt Nam, XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào đời sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc" [26]
- Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức
Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trước hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ đó có thái độ ứng xử đúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội
- Giáo dục hành vi thói quen đạo đức
Là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm tạo thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn,
trở thành phẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững
1.3.2.3 Nội dung GDĐĐ
Nội dung GDĐĐ là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của
dân tộc những giá trị đạo đức cần thiết của con người Việt Nam trong thời kỳ
Trang 27CNH - HĐH đất nước Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợp với lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung GDĐĐ bao gồm những vấn đề sau:
- Giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức: Giáo dục thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu nước, ý thức thực hiện đường lối chủ chương của Đảng, pháp luật của nhà nước Giáo dục lòng yêu thương nhân ái và hành vi ứng xử có văn hóa Giáo dục lòng tự hào dân tộc, niềm tin vào chế độ XHCN, hoài bão lập thân, lập nghiệp vì hạnh phúc của bản thân và đất nước
- Giáo dục pháp luật: Giáo dục ý thức sống và làm việc thực hiện nội qui qui định của nhà trường, giáo dục chấp hành nội các qui định của địa phương nơi cư trú
- GDĐĐ trong các mối quan hệ XH: Đó là các mối quan hệ của cá nhân với cộng đồng, quan hệ cá nhân với lao động giáo dục các phẩm chất cá nhân Tính thật thà, khiêm tốn, lòng tự trọng, đức tính kiên trì, dũng cảm, lạc quan
- GDĐĐ gia đình: Thái độ kính trọng lễ phép với ông bà, cha mẹ và người lớn tuổi Tình đoàn kết cảm thông, nhường nhịn vị tha, quan tâm giúp
đỡ mọi người Giáo dục ý thức trách nhiệm của bản thân với gia đình và người thân
- Giáo dục tình bạn: Tình bạn chân chính phải được xây dựng trên nền tảng của đạo đức chân chính Trong nhà trường phải giúp các em tránh ngộ nhận về tình bạn, biến thành bè phái, nhóm bạn xấu, bao che khuyết điểm cho nhau
- Giáo dục kỹ năng sống cho HS theo chuẩn mực đạo đức tiến bộ
Trọng tâm của GDĐĐ ở nhà trường là hướng đến học sinh tự giáo dục để rèn luyện kỹ năng:
+ Làm chủ được cuộc sống nhận biết để tự tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội, mất trật tự ATGT…
Trang 28+ Học sinh ý thức nhu cầu học tập phương pháp học tập để chủ động trong học tập
+ Học sinh được trao đổi để tự ý thức việc chọn nghề nghiệp định hướng tương lai cho mình
+ Học sinh có được những yêu cầu cơ bản về kỹ năng sống cộng đồng,
có được thông tin đúng và đầy đủ, tự mình nhận biết mình, hiểu biết về giới tính, hiểu biết tài chính, có được đức tính thực tế, có tinh thần trách nhiệm và tạo được những sức bật trong học tập và vốn sống
+ Học sinh được giáo dục kiến thức sức khỏe sinh sản vị thành niên + Quy tắc ứng xử văn hoá trong học đường: giữa trò với trò, giữa trò với thầy cô…
+Thực hiện nội quy của học sinh nghiêm chỉnh (Theo nội quy đã đưa
về các lớp)
1.3.2.4 Phương pháp GDĐĐ
Phương pháp GDĐĐ là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết
Về cơ bản phương pháp giáo dục được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm phương pháp thuyết phục: thuyết phục là nhóm các phương pháp tác động đến nhận thức, tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp với cuộc sống Nhóm phương pháp này gồm:
+ Phương pháp khuyên giải: Khuyên giải là phương pháp gặp gỡ, trò chuyện, tâm tình riêng của nhà giáo dục với đối tượng cần giáo dục để khuyên răn, giải thích những điều hay lẽ phải, làm rõ khái niệm đạo đức, những nội dung quy tắc, chuẩn mực xã hội mà mỗi người cần phải tuân theo
+ Phương pháp trao đổi, đối thoại: là phương pháp tác động của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục bằng tổ chức trao đổi, đối thoại Trao đổi, đối thoại là phương pháp cởi mở, các bên nêu ra quan điểm, những vướng mắc để cùng nhau phân tích, tìm cách giải quyết cùng đi đến lẽ phải
Trang 29+ Phương pháp nêu gương, làm gương: Là phương pháp dùng những tấm gương cụ thể người tốt, việc tốt, những lý tưởng cao đẹp tác động vào đời sống tình cảm, ý thức của HS
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: Là quá trình tổ chức đưa HS vào hoạt động để rèn luyện đạo đức tạo nên thói quen hành vi, nhóm này gồm hai phương pháp:
+ Phương pháp luyện tập: Là phương pháp đưa HS vào các hoạt động
có kế hoạch, có mục đích trong một thời gian dài để tạo cho họ thói quen hành vi Luyện tập càng sớm càng tốt, ngay từ lúc trẻ nhỏ trong gia đình, lớn lên trong nhà trường và thực hiện công việc phải tích cực và sáng tạo đó là con đường để hình thành nhân cách Luyện tập càng đa dạng phong phú thì giá trị đạo đức càng cao Do đó nhà trường cần tổ chức nhiều hoạt động để
HS được rèn luyện là điều kiện thuận lợi giúp các em hình thành phát triển nhân cách, xây dựng ý thức đạo đức
+ Phương pháp đưa con người vào cuộc sống xã hội: Là một phương pháp gằn liền với cuộc sống của trẻ em với cuộc sống xã hội Tổ chức cho các
em thâm nhập với các hoạt động đa dạng của xã hội, phù hợp với khả năng và hứng thú của tuổi trẻ, từ đó giúp các em trưởng thành theo những yêu cầu của
xã hội
- Phương pháp kích thích hành vi đạo đức: Là nhóm phương pháp tác động vào mặt tình cảm của các đối tượng giáo dục, nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tính tích cực hoạt động và đồng thời giúp người có khuyết điểm nhận ra khắc phục những sai lầm đã mắc Nhóm này gồm các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp khen thưởng: Khen thưởng là biểu thị sự hài lòng, sự đánh giá tích cực của nhà giáo dục đối với hành vi tốt của cá nhân hay tập thể
Khen thưởng gây trạng thái phấn khởi, tự hào, thỏa mãn với những thành công, từ đó phấn đấu nhiều hơn, giành lấy những thành tích cao hơn
Trang 30+ Phương pháp trách phạt: Trách phạt là phương pháp biểu lộ sự không đồng tình, sự lên án của nhà giáo dục hay tập thể đối với những hành vi sai lầm của đối tượng giáo dục, với mong muốn gây cho họ những hối hận về những việc làm, từ đó mà thành khẩn nhận lỗi và tự mình quyết tâm từ bỏ những ý nghĩ và hành vi sai lầm đó.
1.3.2.5 Hình thức GDĐĐ
- GDĐĐ dưới cờ: Việc chào cờ đầu tuần vô cùng thiêng liêng đối với
người dân mỗi nước Đối với HS, tiết chào cờ đầu tuần góp phần quan trọng trong việc giúp các em rèn luyện nhân cách, từ những việc nhỏ như: Ham học, ham làm, siêng năng, cần kiệm đến những việc lớn như hun đúc tinh thần dân tộc, lòng yêu nước ở mỗi người Nếu tiết chào cờ mỗi sáng thứ hai trở thành những tiết học thú vị thì chúng sẽ là động lực giúp HS hào hứng bước vào tuần học mới Vì vậy mà giờ chào cờ, hát Quốc ca vào sáng thứ hai hàng tuần đã trở thành nề nếp trong các trường học ở nước ta.Việc xây dựng và lồng ghép những bài học kỹ năng sống, lịch sử, đạo đức ngay trong tiết chào
cờ bằng các hình thức phong phú như hoạt cảnh, chương trình văn nghệ, cuộc thi vấn đáp, diễn đàn trao đổi thu hút đông đảo học sinh tham gia sẽ để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng mỗi HS GDĐĐ, nhân cách, kĩ năng sống thông qua hoạt động này sẽ giúp các em trưởng thành nhanh chóng so với những hình
thức khác
- Giáo dục lồng ghép GDĐĐ qua các môn học: Thông qua tất cả các môn học đặc biệt ở các môn : GDCD, Văn, Sử, Địa…Những kiến thức của bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức và liên quan đến thái độ và cách ứng xử hành vi, đạo đức trong xã hội
- GDĐĐ HS thông qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm: giờ sinh hoạt lớp có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho GVCN và HS đánh giá được kết quả thi đua và học tập của từng cá nhân của tập thể lớp Thông qua giờ sinh hoạt GVCN kịp thời khen thưởng những học sinh tiến bộ, chú trọng chấn chỉnh những học sinh có dấu hiệu sa sút, thường xuyên vi phạm ý thức kỷ luật và học tập
Trang 31Thông qua đó giúp HS nhận thức được những vi phạm, sai trái của mình để tự điều chỉnh cho bản thân Việc đẩy mạnh nội dung sinh hoạt phong phú, tạo điều kiện kích thích sự hứng thú trong học tập và bỏ đi những mặc cảm, những khuyết điểm, giúp cho HS tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- GDĐĐ học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ: Lao động tập thể, ngoại khóa của giáo viên về sức khỏe sinh sản, ATGT, phòng chống các tệ nạn Xã hội, Hội thảo, Hội nghị của lớp đầu năm để xây dựng kế hoạch học tập, hội nghị học tốt, tổ chức cho các học sinh tham gia vào các câu lạc bộ để điều chỉnh hành vi đạo đức, thực hiện các quy định như: Câu lạc bộ giúp bạn giữ trật tự ATGT, câu lạc bộ HS giúp đỡ bạn có khó khăn về kinh tế và học vấn…
- GDĐĐ HS thông qua kiểm tra đánh giá văn hóa: Tuyệt đối thực hiện phong trào “ Hai không” về việc ra đề, cách thức kiểm tra đánh giá, đặc biệt nhất là không có hiện tượng HS xảy ra tiêu cực quay cóp trong kiểm tra và thi
cử, không có HS sử dụng tài liệu.Tạo điều kiện cho HS tự nói với nhau thông qua tấm gương khắc phục khó khăn, chịu khó học tập của các HS thế hệ đi trước Tấm gương học tập thành đạt của các nhà khoa học Tấm gương đạo đức và nỗ lực học tập, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh…
1.3.3 Quản lý hoạt động GDĐĐ
1.3.3.1 Quản lý mục tiêu GDĐĐ
Theo điều 27 Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: "Mục tiêu của Giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản".[ 25]
Căn cứ vào mục tiêu GDĐĐ, thực trạng vấn đề đạo đức HS và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình GDĐĐ, công tác quản lý của nhà trường phải xác định rõ mục tiêu GDĐĐ là một điều rất quan trọng và cần thiết vì nó định hướng chiến lược đầu tư giáo dục, xây dựng nội dung chương trình, chọn
Trang 32lọc nội dung, xác định và chi phối toàn bộ công tác quản lý, điều hành các bậc học và toàn bộ phương pháp dạy và học
Quản lý mục tiêu GDĐĐ HS, người quản lý cần phải chú ý tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ HS của nhà trường trên cơ sở bám sát mục tiêu
- Phổ biến quán triệt cho các lực lượng tham gia quá trình giáo dục để thống nhất mục tiêu GDĐĐ cũng như quan điểm trong quá trình triển khai thực hiện
- Làm tốt công tác kiểm tra giám sát các hoạt động giáo dục hàng ngày
để kịp thời điều chỉnh những lệch chuẩn so với mục tiêu đề ra
+ Về nhận thức: Tổ chức cho mọi người nhất là giáo viên, HS, CMHS, các cấp, các ngành có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác GDĐĐ; nắm vững yêu cầu nội dung, phương pháp GDĐĐ cho HS
+ Về thái độ: Làm cho mọi người có thái độ đúng đắn trước hành vi của bản thân, ủng hộ, bảo vệ lẽ phải, những việc làm đúng, đấu tranh ngăn chặn với những việc làm trái với truyền thống đạo đức dân tộc, trái với pháp luật Việt Nam
+ Về hành vi: Từ nhận thức và thái độ phải đồng thuận, thu hút mọi lực lượng tham gia công tác GDĐĐ cho HS, tích cực hỗ trợ công tác quản lý GDĐĐ HS đạt kết quả cao nhất
1.3.3.2 Quản lý nội dung GDĐĐ
Quản lý nội dung GDĐĐ là quá trình thực hiện các các chức năng quản
lý giáo dục: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá Người quản lý cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây
- Quản lý lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch GDĐĐ: Là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý vì thiếu tính kế hoạch, giáo dục khó đạt hiểu quả cao
Trang 33- Quản lý việc chuẩn bị các giáo án giờ sinh hoạt trên lớp: là khâu quan trọng góp phần quyết định chất lượng giờ sinh hoạt gồm các khâu Chuẩn bị từng chương trình, từng học kỳ, chuẩn bị từng tiết dạy, bài soạn của giáo viên
- Quản lý giờ sinh hoạt trên lớp: Giáo viên là người trực tiếp điều khiển, hướng dẫn học sinh học tập Người quản lý cần tác động gián tiếp đến hiệu quả giờ lên lớp
- Quản lý nội dung GDĐĐ: Là những nội dung GDĐĐ cần được thể hiện trong từng bài giảng của GV bộ môn, qua hoạt động của GV chủ nhiệm, các hoạt động của Đoàn thanh niên, hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động xã hội và nề nếp sinh hoạt trong gia đình,
- Quản lý việc xây dựng môi trường GDĐĐ: Là nơi diễn ra quá trình học tập, có ý nghĩa quan trọng việc nâng cao chất lượng quá trình đào tạo
- Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập - rèn luyện đạo đức của học sinh: Là một khâu quan trọng trong quản lý quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường Nó cung cấp thông tin phản hồi chính xác tạo nên sự liên thông cần thiết trong nhà trường giữa hoạt động giảng dạy của GV, hoạt động học tập của HS với cán bộ quản lý cũng như tạo ra mối liên kết giữa nhà trường với các cấp quản lý giáo dục, cộng đồng
1.3.3.3 Quản lý về phương pháp GDĐĐ
Quản lý và hoạt động tốt các phương pháp GDĐĐ sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu giáo dục một cách hiệu quả nhất Để quản lý tốt các phương pháp, người quản lý phải thực hiện tốt những yêu cầu sau đây:
- Tăng cường công tác tuyên truyên vận động để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng tham gia vào quá trình GDĐĐ
- Sử dụng đồng bộ các phương pháp, các con đường GDĐĐ cho HS để các phương pháp này hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm nâng caohiệu quả giáo dục
- Nâng cao chất lượng các môn học văn hóa, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, những môn học này có lợi thế trong việc GDĐĐ
Trang 34-Thường xuyên đổi mới các hình thức GDĐĐ để chánh sự đơn điệu nhàm chán, đặc biệt là các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hình thức sinh hoạt tập thể, hoạt động của Đoàn thành niên
- Quản lý tốt các lực lượng giáo dục trên địa bàn, thường xuyên liên hệ với phụ huynh HS để tạo ra sự động bộ, nhất quán và phát huy hiệu quả của các môi trường giáo dục
1.3.3.4 Quản lý phương pháp hoạt động của GV và HS trong quá trình GDĐĐ
- Hoạt động dạy và học là những hoạt động chính trong nhà trường mà các đối tượng trực tiếp tham gia quá trình này là GV và HS Đây cũng là những lực lượng quyết định nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường vì vậy để nâng cao chất lượng GDĐĐ người quản lý cần chú ý các vấn
đề sau:
- Đối với hoạt động của GV cần chú trọng nâng cao chất lượng chính trị tư tưởng, tinh thần trách nhiệm cao, đồng thời quản lý chặt chẽ nề nếp, kỷ cương trong việc thực hiện quy chế chuyên môn, kỷ luật lao động trong các hoạt động giáo dục Đồng thời chúng ta phải chú trọng việc rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong của thầy trong các hoạt động giáo dục và trong sinh hoạt
- Đối với hoạt động của HS cần tập trung các vấn đề sau:
+ Các hoạt động giáo dục chính khóa
+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
+ Các hoạt động sinh hoạt đoàn thể
+ Các hoạt động xã hội và giáo dục trong gia đình Các em HS vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình giáo dục, kết quả GDĐĐ trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào quá trình tự rèn luyện, tự giáo dục của HS Quá trình GDĐĐ cho HS chỉ thực sự đạt hiệu quả cao khi được sự tham gia một cách tích cực, tự giác của các em vào quá trình này
1.3.3.5 Quản lý các điều kiện thực hiện hoạt động GDĐĐ
Trang 35Quản lý các điều kiện GDĐĐ là quá trình sử dụng và huy động các nguồn lực nhằm đạt hiệu quả cao trong giáo dục, người quản lý cần tập trung các vấn đề:
- Công tác quản lý
- Đội ngũ cán bộ giáo viên
- Cơ sở vật chất - thiết bị
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Để quản lý tốt các điều kiện giáo dục, trước hết chúng ta cần phải đổi mới công tác quản lý chỉ đạo, chú trọng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý, cán bộ GV sẽ tác động mạnh
mẽ đến chất lượng giáo dục, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền
kinh tế - xã hội
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDĐĐ HS ở trường THPT
Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành, thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể, trí lực và tình cảm
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, thông tin trên thế giới
và nhất là sự phức tạp của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; kéo theo đó là sự biển đổi về tâm lý, đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam mà chủ yếu
là HS Các em có những nét tâm lý, đạo đức nói chung của thế hệ mang truyền thống dân tộc, song có cả những nét mới mang dấu ấn của thời đại
Về tâm sinh lý HS THPT được bộc lộ một số đặc điểm nổi bật sau:
Lứa tuổi giàu hoài bão ước mơ: Sự phát triển thể chất đã bước đầu phát
triển bình thường, hài hòa, cân đối Ở tuổi đầu thanh niên, HS THPT vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự biểu hiện giống như lứa tuổi thiếu niên Hầu hết các em đều có hoài bão, ước mơ, có ý thức học hỏi, có khát vọng tìm đến cái
"Chân, thiện, mỹ", mong muốn tự khảng định bản thân và có ý thức của
Trang 36người lớn nên tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt là các hoạt động văn, thể, mỹ, hoạt động nhân đạo từ thiện Lứa tuổi này cũng nhận thức được những quy tắc, các chuẩn mực xã hội, có ý thức chính trị rõ nét, có lý tưởng và lẽ sống đúng đắn, có ý thức tự học và tu dưỡng phẩm chất đạo đức
Mặt khác các em có khả năng giao lưu phong phú, tự tôn, phóng khoáng, hào hiệp, nhiệt tình hăng hái, trước những khó khăn và thử thách của cuộc sống
những tình cảm lớn như tình cảm dân tộc, quốc gia, nhân loại; có lòng nhân
ái, biết sống có nghĩa tình, có ý thức làm việc thiện; tình bạn phát triển mạnh
mẽ, tình yêu nam nữ nảy nở
Tuy nhiên ở lứa tuổi thanh niên có tính dễ bị kích thích cao, không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như lứa tuổi thiếu niên, mà nó còn do cách sống của cá nhân ở lứa tuổi này, phần nhiều các em khác lại rơi vào tình trạng thiếu tự tin, sống ích kỷ, vô tâm và thiếu trách nhiệm Các em luôn muốn bứt phá khỏi sự kiểm soát của cha mẹ cộng thêm là áp lực học hành, thi cử càng
đè nặng lên tâm lý khiến các em có những hành vi không tích cực Khi có cơ hội được thể hiện mình trước đám đông các em luôn tỏ ra rụt rè, e ngại hoặc không thể xử lý những tình huống gặp phải trong cuộc sống dù là thật đơn giản Thêm nữa là tình trạng bạo lực, tệ nạn học đường ngày càng gia tăng và khi đó kỹ năng tự vệ mà các em sử dụng là lấy “cơ bắp” để giải quyết vấn đề
Nhiều học sinh lại có cuộc sống khép kín với thực tại, đắm chìm trong thế giới ảo của game, internet mà quên đi và đánh mất những cơ hội được kết bạn, được thể hiện khả năng tiềm ẩn của bản thân
Nhìn chung lứa tuổi THPT có sự thay đổi tâm lý và nhân cách cũng như ảnh hưởng lớn về sự lựa chọn, nhận thức trong cuộc sống Do đó, việc GDĐĐ cho HS ở lứa tuổi này phải căn cứ vào các đặc điểm tâm, sinh lý và đặc điểm đạo đức của họ để xác định phương châm giáo dục phù hợp Bên cạnh đó cần hiểu rằng mỗi cá nhân lại có những đặc điểm riêng về tâm lý và
có vốn sống riêng của mình, cho nên quá trình GDĐĐ cho HS, đặc biệt là ở
Trang 37lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm lý như HS THPT là hết sức phức tạp Vấn
đề là phải có định hướng những giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển của
xã hội để có hình thức phương pháp giáo dục đa dạng, biện chứng và thích ứng trong quá trình GDĐĐ cho HS
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDĐĐ học sinh
Sự phát triển của mỗi con người để trở thành một nhân cách là một diễn biến phức tạp và nó bị chi phối bởi các yếu tố sau đây:
1.4.2.1 Yếu tố gia đi ̀nh
Gia đình là một tế bào xã hội Đạo đức gia đình luôn gắn liền với đạo đức xã hội, gia đình là môi trường sống đầu tiên của đứa trẻ Gia đình là nơi sinh ra, cũng là nơi giáo dục đứa trẻ từ bé đến trưởng thành, cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên Mức sống, trình độ học vấn, đời sống văn hóa, thói quen, nếp sống của gia đình, mối quan hệ tình cảm của các thành viên, tính mẫu mực của người lớn và phương pháp giáo dục gia đình có ảnh hưởng hàng ngày, hàng giờ đến việc GDĐĐ cho HS
Để phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục con trẻ thì trước hết các bậc làm cha mẹ phải coi việc dạy dỗ con ở nhà là một trong những nhiệm vụ lớn Hãy là những người mẹ, người cha, người thầy, người cô và là những người bạn tốt nhất của con mình Nhiều cha mẹ do nhận thức lệch lạc, không có tri thức về giáo dục con cái; sự quan tâm, nuông chiều thái quá trong việc nuôi dạy; sử dụng quyền uy của cha mẹ một cách cực đoan; tấm gương phản diện của cha mẹ, người thân; có các hoàn cảnh éo le hoặc hay bị
sử dụng bằng vũ lực đã tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh
1.4.2.2 Yếu tố nha ̀ trường
Nhà trườngcó vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS Nhà trường không chỉ nhiệm vụ cung cấp kiến thức mà còn là môi trường GDĐĐ cho HS Văn hóa trường học, văn hóa học đường đó là những quan niệm, chuẩn mực quy định cách xử sự giao tiếp giữa người học
Trang 38với nhau, giữa trò với thầy và ngược lại, là cách học và tiếp thu kiến thức
Văn hoá còn được thể hiện qua triết lí giáo dục của nhà trường, qua hành vi giao tiếp, cách ăn mặc, cách ứng xử với cảnh quan môi trường
Nhà trường là môi trường rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp Một số cán bộ quản lý, giáo viên và bạn bè thường có những định kiến, thiếu thiện cảm; sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền lực của các thầy cô giáo, nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan
và không công bằng; sự phối hợp không đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
1.4.2.3.Yếu tố xa ̃ hội
Môi trường xã hội là điều kiện sống trong xã hội với các mối quan hệ giữa các cá nhân với tập thể, xã hội Xã hội có tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Trong xã hội hiện nay có những hạn chế, tác động xấu từ môi trường của thời kỳ mở cửa, hội nhập, những mặt trái của cơ chế thị trường …có cơ hội xâm nhập Các tệ nạn xã hội có nơi, có lúc đã xâm nhập vào trong trường học đã tác động xấu tới các giá trị đạo đức truyền thống, ảnh hưởng không nhỏ trực tiếp đến công tác GDĐĐ HS, đến an ninh trật tự xã hội
Xã hội có vai trò to lớn trong việc GDĐĐ HS, với những thể chế chính trị, luật pháp, hệ tư tưởng, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, đạo đức
góp phần quan trọng cho sự phát triển nhân cách HS Một môi trường trong sạch lành mạnh, một cộng đồng xã hội tốt đẹp văn minh là điều kiện thuận lợi nhất GDĐĐ và hình thành phát nhân cách cho HS
Sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội là ba lực lượng giáo dục to lớn, nếu được phối hợp chặt chẽ, cùng thống nhất một mục tiêu, một yêu cầu và cùng một phương pháp giáo dục sẽ đem lại hiệu quả giáo dục tốt đẹp
Trang 39Tiểu kết chương 1
Đạo đức là một trong những hình thái của ý thức – xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trong quan hệ giữa người với người, giữa con người với xã hội nhằm đạt tới chân - thiện - mĩ GDĐĐ là một bộ phận quan trọng
có tính chất nền tảng của giáo dục nói chung trong nhà trường Mục tiêu GDĐĐ trong nhà trường là hình thành nên những phẩm chất đạo đức cho HS trên cơ sở nhận thức tình cảm thái độ hành vi đúng đắn Nội dung GDĐĐ là góp phần hướng tới sự phát triển con người, phát triển nhân cách của từng
HS, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ CNH – HĐH Chất lượng của GDĐĐ có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường, nhất là đối với các trường THPT, để thực hiện mục tiêu nội dung GDĐĐ thì mỗi nhà trường cần xây dựng cho mình một hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ thích hợp có hiệu quả
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC
SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội và giáo dục của Quận Tây Hồ - Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế- xã hội của quận Tây Hồ -Hà Nội
Quận Tây Hồ nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội Diện tích 24,0 km2, gồm 8 phường: Bưởi, Yên Phụ, Thụy Khuê, Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Xuân La, Phú Thượng Phía đông giáp quận Long Biên; Phía tây giáp huyện
Từ Liêm và quận Cầu Giấy; Phía nam giáp quận Ba Đình; Phía bắc giáp huyện Đông Anh Quận Tây Hồ có địa hình tương đối bằng phẳng, có chiều hướng thấp dần từ bắc xuống nam Dân số của quận (đến năm 2005) là 109.163 người, mật độ dân số là 4.547 người/km2
, quận Tây Hồ có mật độ dân số thấp nhất trong các quận nội thành
Quận Tây Hồ được thành lập năm 1995 theo quyết định của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội Quận Tây Hồ với 2/3 kinh tế hộ gia đình thu nhập chủ yếu bằng nông nghiệp và nghề làm vườn, kinh tế còn nhiều khó khăn so với các quận nội thành Hà Nội Từ ngày thành lập đến nay, quận Tây
Hồ xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng "Dịch vụ - Công nghiệp
- Nông nghiệp” với giá trị sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 31,2% năm; giá trị dịch vụ - du lịch, thương mại trung bình 14,9% năm, giá trị sản xuất nông nghiệp và thủy sản giảm bình quân 3,8% năm
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể, hoạt động văn hóa thông tin được đẩy mạnh và thực hiện có kết quả Bên cạnh đó cũng phải đối mặt không ít những khó khăn thách thức cả từ tư duy, nếp nghĩ, nếp làm, đội ngũ lực lượng, nguồn nhân lực, phong tục tập quán bị xáo trộn và những tệ nạn xã hội gây sức ép không nhỏ đối với đời sống kinh