Những người có thể sử dụng tốt hai ngôn ngữ thường có xu hướng sự dụng chêm xen những từ và cụm từ của ngôn ngữ thứ hai khi đang giao tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình - đây được gọi là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN MÔN TIẾNG VIỆT CƠ SỞ
Chủ đề
Khảo sát và nghiên cứu hiện tượng trộn mã ngôn ngữ
trong giao tiếp Tiếng Việt
Lớp học phần: NNTV1114(221)_01
Thành viên nhóm: Nguyễn Thị Minh Thư
Phạm Thị Thanh Tâm Phạm Diệu Thùy
Võ Mai Trang Đinh Thị Thanh Thư Hoàng Xuân Thu
Trang 2MỤC LỤC
1.2 Tiếp xúc ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ 3
2.2.3 Mô hình từ vựng hóa tương đồng 9
Trang 3A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngôn ngữ là một công cụ quan trọng để con người có thể giao tiếp và trao đổi, truyền tải những thứ nằm ngoài nó Trong thời đại toàn cầu hóa, khi sự hội nhập, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng thì việc con người có thể biết hai hay nhiều ngôn ngữ ngày càng phổ biến hơn Những người có thể sử dụng tốt hai ngôn ngữ thường có xu hướng sự dụng chêm xen những từ và cụm từ của ngôn ngữ thứ hai khi đang giao tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình - đây được gọi là hiện tượng trộn mã ngôn ngữ trong ngôn ngữ học Trộn mã ngôn ngữ có thể xảy
ra trong cả giao tiếp nói như hội thoại, phỏng vấn, chương trình giải trí và khi viết như trong tiểu thuyết, tạp chí, báo chí và quảng cáo
Nhằm mục đích nghiên cứu về hiện tượng trộn mã ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, chúng tôi đã tiến hành thực hiện nghiên cứu với đề tài “Khảo sát hiện tượng trộn mã ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp Tiếng Việt (viết và nói)”
B/ NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận chung
1 Lý luận chung
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Lĩnh vực ngôn ngữ luôn nhận được nhiều sự chú ý từ các nhà nghiên cứu trên thế giới Tiên phong mở đầu trong việc nghiên cứu sâu về “tiếp xúc ngôn ngữ” là hai nhà ngôn ngữ học Uriel Weinreich và Einar Haugen, trong đó, tác phẩm ‘Language in contact: Findings and Problem (1953)’ của U.Weinreich đã đưa thuật ngữ “tiếp xúc ngôn ngữ” được biết đến rộng rãi Kể từ đó, khá nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này xuất hiện, chẳng hạn như: ‘Language contact and bilingualism (Appel, R., and Pieter Muysken.1987)’, ‘Language contact, creolization and genetic linguistics (Thomason, Sarah, and Terrence Kaufmann 1988)’, ‘Bilingualism’ (Romaine, Suzanne 1989), Chúng nói đến những khía cạnh và góc nhìn khác nhau của tác giả về “tiếp xúc ngôn ngữ”, từ khái niệm, phân loại cho tới đặc điểm, hệ quả Mặc dù đã nhiều năm trôi qua, chúng vẫn luôn là những tài liệu học thuật quý giá, thể hiện những quan điểm không hề lỗi thời Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi con người có điều kiện
Trang 4tiếp cận với nhiều điều mới mẻ, chẳng hạn như học một ngôn ngữ mới, hiện tượng “tiếp xúc ngôn ngữ” dần trở nên phổ biến, cụ thể hơn, một khía cạnh của
“tiếp xúc ngôn ngữ” đã trở thành trào lưu, gọi là hiện tượng “trộn mã ngôn ngữ”
1.2 Tiếp xúc ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ
Theo giáo sư Uriel Weinreich, “…hai hoặc nhiều ngôn ngữ được xem là
có tiếp xúc nếu chúng được sử dụng luân phiên bởi một số người” Từ lý luận này, ta có thể hiểu “tiếp xúc ngôn ngữ” thường xuất hiện ở cộng đồng những người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều ngôn ngữ, đặc biệt là qua hình thức lời nói Khi U Weinreich đưa ra ý kiến về “tiếp xúc ngôn ngữ”, ông cũng chỉ tập trung vào một khía cạnh là hiện tượng này xảy ra trong các cuộc đối thoại giữa người với người, có sự hiện diện của họ trong cùng một thời gian và địa điểm nhất định, chứ không đề cập tới các hình thức khác như thông qua sách vở hay các phương tiện truyền thông (phim ảnh, đài báo,…) Phải đến khi
‘Language Contact: An introduction’ của Sarah G Thomason ra đời, phạm vi của “tiếp xúc ngôn ngữ” mới được mở rộng có phần linh hoạt hơn Theo Thomason, việc “tiếp xúc ngôn ngữ” còn có thể được thực hiện mà không cần
có sự hiện diện của những người sử dụng các ngôn ngữ khác nhau ở cùng một thời gian hay địa điểm, thông qua các nền tảng khác như sách báo hay các bài viết Có thể thấy, lý luận về “tiếp xúc ngôn ngữ” đã bao quát được cả khía cạnh nói và viết
Chính vì “tiếp xúc ngôn ngữ” xuất hiện trong môi trường sử dụng nhiều ngôn ngữ đa dạng, nên “…giữa chúng có ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra các hệ quả
về ngôn ngữ” (Ngôn Ngữ Học Xã Hội 2012 – Nguyễn Văn Khang) “Tiếp xúc ngôn ngữ” mang đến xu hướng đan xen nhiều yếu tố về cấu trúc, vốn từ,…, từ
đó dẫn đến hiện tượng trộn mã và chuyển mã ngôn ngữ Hay nói cách khác,
“trộn mã ngôn ngữ” chính là sản phẩm của “tiếp xúc ngôn ngữ” Trên thế giới nói chung và đất nước Việt Nam nói riêng, có rất nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ ở mọi độ tuổi, đặc biệt là ngôn ngữ giới trẻ, tập trung vào vấn đề “trộn
mã ngôn ngữ”, cụ thể là việc chêm xen Tiếng Anh vào một ngôn ngữ bản địa như: Tiếng Anh và Tiếng Nga trong ‘The influence of the English language on the Russian youth slang’ của Derkach , Tiếng Anh và Tiếng Trung Quốc trong
‘The effects of the English language on the cultural identity of Chinese university students’ của Seppala, ‘Từ ngoại lai trong Tiếng Việt (2007)’,…
Trang 5Những tài liệu trên khẳng định một hiện thực rằng: sự ảnh hưởng của Tiếng Anh tới các ngôn ngữ khác trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt ở bộ phận thanh thiếu niên
Tình huống thực tế này đặt ra một câu hỏi, liệu những yếu tố như môi trường giao tiếp, phạm vi giao tiếp, chủ đề giao tiếp liên quan đến các khía cạnh văn hóa – xã hội đã góp phần hình thành nên thái độ và sự lựa chọn của giới trẻ với ngôn ngữ họ sử dụng trong lời nói và cách viết hàng ngày? Theo PGS.TS Trịnh Cẩm Lan của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội viết trong đề tài nghiên cứu “Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay”, bà đã khẳng định rằng,
có xuất hiện những hình thức ngôn ngữ phi chuẩn của giới trẻ trong tiếng Việt hiện nay cần được nghiên cứu, cũng như hệ thống hoá các tri thức ngôn ngữ học
xã hội về tiếp xúc ngôn ngữ, chuyển mã, trôn mã và thái độ ngôn ngữ Có thể thấy, ngoài những yếu tố trên có thể ảnh hưởng đến thái độ ngôn ngữ của các bạn trẻ, còn có thể kể đến nhiều nhân tố xã hội khác như tuổi tác, giới tính, trình
độ giáo dục, nghề nghiệp Ngược lại, rất nhiều những hành vi sử dụng ngôn từ lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của thái độ ngôn ngữ
2 Các vấn đề cụ thể
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Trộn mã ngôn ngữ
Theo các nhà ngôn ngữ học xã hội, mã là một tập hợp các quy ước để chuyển đổi một hệ thống tín hiệu này sang một hệ thống tín hiệu khác, là một dạng biến thể ngôn ngữ được một cộng đồng sử dụng nhằm mục đích giao tiếp với người khác Cụ thể hơn, trong giao tiếp, mã là một quy tắc để chuyển đổi một phần thông tin (một chữ cái, từ hoặc cụm từ) thành một dạng hoặc cách biểu diễn khác của ngôn ngữ
Mã trong giao tiếp có thể là một ngôn ngữ, nhiều loại ngôn ngữ hoặc phong cách của một ngôn ngữ Tùy vào hoàn cảnh cũng như nhu cầu giao tiếp, người giao tiếp sẽ lựa chọn mã ngôn ngữ cho phù hợp Hai hình thức mã ngôn ngữ thường gặp đó là: Chuyển mã (code-switching) và Trộn mã (code-mixing) Thuật ngữ trộn mã nhấn mạnh đến sự kết hợp của ngôn ngữ còn thuật ngữ chuyển đổi mã thì lại nhấn mạnh sự chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn
Trang 6ngữ khác
Chuyển mã là một thuật ngữ trong ngôn ngữ học đề cập đến việc người giao tiếp sử dụng nhiều hơn một ngôn ngữ và chuyển đổi một cách toàn bộ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác trong một cuộc trò chuyện Nói cách khác, thuật ngữ chuyển mã là một thuật ngữ phổ biến nhấn mạnh sự thay thế hai hoặc nhiều ngôn ngữ, các loại ngôn ngữ hoặc thậm chí cả phong cách nói
Trộn mã là sự trộn lẫn của hai hoặc nhiều loại ngôn ngữ trong lời nói/văn bản Nói cách khác, trộn mã là các yếu tố hành vi của việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, mệnh đề, v.v.) của một ngôn ngữ nào đó được tích hợp với các đơn vị ngôn ngữ khác trong một câu duy nhất Việc trộn mã diễn ra mà không cần thay đổi chủ đề và có thể liên quan đến nhiều cấp độ ngôn ngữ khác nhau như âm vị học, hình thái học, cấu trúc ngữ pháp hoặc các mục từ vựng Điều này dẫn tới việc ngôn ngữ thứ hai có xu hướng bị ngôn ngữ thứ nhất đồng hóa ở một mức độ nào đó
2.1.2 Thái độ ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ (language attitude) là những cảm giác, tình cảm của con người (ở đây là người bản ngữ) đối với ngôn ngữ của họ (tiếng mẹ đẻ) và/hoặc đối với các ngôn ngữ khác Thái độ ngôn ngữ được hiểu như là một cấu trúc tâm lý của cá nhân liên quan đến ngôn ngữ của họ và/hoặc ngôn ngữ của người khác Việc hình thành nên thái độ ngôn ngữ có thể chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xã hội như giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, nghề nghiệp,
Thái độ ngôn ngữ, theo góc nhìn tâm lý học xã hội, thường tập trung vào
lý giải việc các cá nhân tham gia giao tiếp nghĩ gì về ngôn ngữ và làm gì với ngôn ngữ Thái độ ngôn ngữ là biểu hiện thái độ xã hội của cá nhân, được phân biệt bởi tiêu điểm và tham chiếu cụ thể đến cả ngôn ngữ và việc sử dụng nó trong xã hội
Do sự liên kết chặt chẽ giữa ngôn ngữ và thành viên cộng đồng, khái niệm về thái độ ngôn ngữ thường được mở rộng để bao gồm thái độ đối với diễn giả Biểu hiện của sự tích cực hoặc cảm giác tiêu cực đối với một ngôn ngữ, phản ánh ấn tượng về ngôn ngữ: phức tạp hay đơn giản, dễ hay khó học, mức độ quan trọng, sự sang trọng, địa vị xã hội, v.v Thái độ đối với một ngôn ngữ cũng
có thể cho thấy những gì mọi người cảm nhận về những người nói ngôn ngữ đó
Thái độ ngôn ngữ thường được nghiên cứu theo hai khuynh hướng:
Trang 7khuynh hướng tinh thần luận (mentalism) và khuynh hướng hành vi luận (behaviorism)
2.1.3 Tiếp xúc ngôn ngữ
Quá trình tác động, thâm nhập, và thậm chí thay thế lẫn nhau giữa các ngôn ngữ, do trong các điều kiện lịch sử, xã hội, văn hoá nhất định, chủ nhân của những ngôn ngữ này bằng nhiều hình thức, trạng huống khác nhau đã tiến hành việc giao tiếp bằng lời nói, văn bản với nhau Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến đối với toàn bộ ngôn ngữ nhân loại và là một tác nhân khá quan trọng làm tạo nên sự biến đổi và phát triển cho từng ngôn ngữ Các hiện tượng ngôn ngữ thường gặp khi nảy sinh Tiếp xúc ngôn ngữ là: vay mượn, giao thoa, sao phỏng, lai tạp, hoà trộn hoặc thay thế hoàn toàn
O.S.Akhmanova (1966) đã định nghĩa Tiếp xúc ngôn ngữ là “Sự tiếp giao nhau giữa các ngôn ngữ do những hoàn cảnh cận kề nhau về mặt địa lí, tương liên về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” Ví dụ như Tiếng Việt đã tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt trong một giai đoan lịch sử rất dài: 1000 năm đô hộ đến thế kỉ thứ X khi nước ta giành độc lập tự chủ và cho đến ngày nay khi hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao thì sự tiếp xúc ngôn ngữ ấy lại càng sâu rộng và mạnh mẽ hơn thông qua rất nhiều con đường: khẩu ngữ, sách vở
Tiếp xúc ngôn ngữ đã để lại một hệ thống từ Hán Việt vay mượn trong hệ thống từ của Tiếng Việt, nhưng khi du nhập vào Việt nam lại tạo ra nhiều biến thể mà chữ Nôm là một đại diện tiêu biểu cho sự sáng tạo, thông minh tài trí của người Việt Nam
2.1.4 Vay mượn từ ngữ
Hiện tượng vay mượn từ ngữ là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ,
là một trong những phương thức quan trọng để bổ sung vốn từ vựng của một ngôn ngữ, là hiện tượng của ngôn ngữ học xã hội và hiện tượng ngôn ngữ văn hóa Hiện tượng vay mượn từ vựng như thế diễn ra khác nhau giữa các ngôn ngữ khác nhau và khác nhau giữa các thời kì trong bản thân một ngôn ngữ
Trước hết, vay mượn từ ngữ là một phương thức phổ biến để bổ sung vốn
từ trong các ngôn ngữ toàn cầu Bên cạnh việc áp dụng các phương thức cấu tạo
từ trong mỗi hệ thống ngôn ngữ để tạo từ mới thì việc vay mượn từ vựng là phương thức rất cần thiết và hữu ích trong việc biểu đạt, thể hiện các hiện tượng, khái niệm mới xuất hiện, đặc biệt trong thời đại giao lưu, hội nhâp, tiếp
Trang 8xúc văn hoá , “bùng nổ thông tin” như hiện nay
Các từ vay mượn được đưa vào ngôn ngữ vay mượn với tư cách là các yếu tố cấu tạo từ, từ, cụm từ, hoặc có thể là mô hình cấu tạo từ mới
Trong Tiếng Việt, hiện tượng vay mượn tiếng Hán là vô cùng phổ biến, đóng vai trò quan trọng Do đất nước Việt Nam có đường biên giới dài với Trung Quốc
và từng bị Bắc thuộc hơn 1000 năm dẫn đến hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn ngôn ngữ Ví dụ: ‘Khán giả’: được cấu tạo bởi hai chữ Hán, trong đó
‘khán’ là nhìn, ‘giả’ là nghe
Vay mượn từ ngữ Tiếng Anh cũng rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới mà ở Việt Nam, Tiếng Anh lại là môn học bắt buộc nên những từ ngữ Tiếng Anh được người Việt sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày Ví dụ: phông, phông chữ: được phiên âm từ “font", phiên âm /f nt/; In-tơ-net: có nguồn gốcɑ
từ “internet", có phiên âm / ntərnet/.ˈɪ
2.2 Phân loại trộn mã ngôn ngữ
Theo Suwito (1983:76), trộn mã được chia thành hai loại:
Trộn mã bên trong (inner code-mixing) xảy ra do sự chèn các yếu tố ngôn ngữ của ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ quốc gia với biến thể của nó (có nguồn gốc từ ngôn ngữ mẹ đẻ với tất cả các biến thể của nó) nó cũng có thể xảy ra giữa ngôn ngữ địa phương hoặc ngôn ngữ khu vực Ví dụ: một người nói có thể
sử dụng một số mã của tiếng Hán Việt trong cuộc nói chuyện bằng tiếng thuần Việt của mình, nhưng không phải toàn bộ cấu trúc của tiếng Hán “Đồ vật làm bằng gỗ tốt thì sử dụng được lâu dài Còn những đồ làm bằng gỗ xấu dù làm rất
cầu kì, mĩ lệ thì cũng chỉ dùng được trong một thời gian ngắn.”
Trong khi đó, trộn mã bên ngoài (outer code-mixing) xảy ra do sự chèn vào của yếu tố ngôn ngữ của một ngôn ngữ nước ngoài vớit tất cả biến thể của
nó Do đó, có sự pha trộn giữa ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ quốc gia với tiếng nước ngoài Ví dụ: Một người nói có thể chèn các yếu tố tiếng Anh vào cuộc nói chuyện tiếng Việt “Mày design theo brief khách hàng đưa sáng nay chưa?”
Sự trộn mã bên trong có thể xê dịch giữa sự xen kẽ các từ hoặc cụm từ đơn lẻ và các mệnh đề trong một câu đơn hoặc phát ngôn đơn, còn trộn mã ngoài câu thông thường xảy ra giữa các câu Bởi vì nó xảy ra ở ranh giới câu nên đòi hỏi tương tác về mặt cú pháp ít phức tạp hơn giữa hai ngôn ngữ liên quan đến việc trộn mã (Siregar, 1996)
Trang 9Dựa theo Muysken, trộn mã được chia thành 3 mô hình chính: chèn, xen
kẽ, và sự từ vựng hóa phù hợp Ông cho rằng 3 mô hình trên bị hạn chế bởi các cách cài đặt trong song ngữ cụ thể Điều này tạo ra nhiều sự thay đổi trong cách trộn các mô hình gặp phải
2.2.1 Mô hình chèn (Insertation)
Kiểu trộn mã đầu tiên được đề xuất bởi Muysken (2000) là mô hình chèn Ông cho rằng nó đang chèn vật chất (các mục từ vựng hoặc toàn bộ thành phần)
từ một ngôn ngữ này sang một cấu trúc từ ngôn ngữ khác Các khái niệm chèn cho thấy điểm hạn chế về mặt cấu trúc thuộc tính của một số cơ sở hoặc ma trận cấu trúc Quá trình trộn mã đây là sự chèn phạm trù từ vựng hoặc cụm từ nước ngoài vào một cấu trúc nhất định Các sự khác biệt chỉ đơn giản là kích thước và loại phần tử được chèn, ví dụ: danh từ so với cụm danh từ Điều này có nghĩa là trộn mã chỉ xảy ra trong các phần của một ngôn ngữ nhỏ hơn một mệnh đề và một câu, chẳng hạn như từ hoặc cụm từ
Ví dụ: “Đối với em là một người rất sentimental, partner của mình phải luôn ở cạnh mình Nếu như phải đi đến long distance relationship thì thật sự phải là mối quan hệ rất serious.”
2.2.2 Mô hình xen kẽ (Alternation)
Đây là mô hình xen kẽ thêmg các cấu trúc của ngôn ngữ khác Đây là sự ràng buộc khi pha trộn về tính tương thích hoặc tương đương giữa các ngôn ngữ liên quan tại điểm chuyển đổi Theo góc nhìn này, việc trộn mã cũng giống như chuyển mã giữa các lượt hoặc phát âm Sự khác nhau nằm ở độ dài và kiểu
Trang 10thành phần được dùng xen kẽ; ví dụ như mệnh đề và câu, cùng các đơn vị ngữ pháp khác như chủ ngữ, động từ, hoặc vị ngữ Ví dụ: “Mọi chuyện thì luôn đơn giản nhưng people always make it complicated”
Trong ví dụ này, trong nửa sau của câu, tiếng Việt đã được thay thế toàn
bộ bằng tiếng Anh chứ không chỉ được thay thế một phần Ta có nói rằng, mô hình xen kẽ là một trường hợp đặc biệt của hiện tượng trộn mã
2.2.3 Mô hình từ vựng hóa tương đồng (Congruent lexicalization)
Đây là mô hình khi hai ngôn ngữ được sử dụng có chung cấu trúc ngữ pháp, và có thể thay đổi từ vựng trong câu với các thành phần của cả hai ngôn ngữ Hình thức trộn mã có thể dưới dạng từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ thứ hai
mà được biết đến rộng rãi trong ngôn ngữ thứ nhất
Tiếng Việt không có ngôn ngữ nào thật sự tương đồng về cả mặt ngữ pháp hay từ vựng để có thể thật sự thay thế nên trong trường hợp này, sự trộn
mã giữa tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha sẽ rõ ràng hơn Sự trộn mã giữa tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha có thể giống như sự kết hợp giữa mô hình - và mô hình xen kẽ, nhưng có sự thay đổi liên tục giữa từ hay thành phần của hai ngôn ngữ trong một cấu trúc chung Ví dụ: “Bueno, in other words, el flight |que sale
de Chicago around three o'clock.” / “Good, in other words, the flight that leaves Chicago around three o'clock.”