(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin(Luận văn thạc sĩ) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học máy tính tại trường đại học Công nghệ thông tin
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT để đáp ứng nhu cầu xã hội được xây dựng trên cơ sở đánh giá chất lượng hiện nay của chương trình tại Trường ĐH CNTT Các hành động trọng tâm gồm cải tiến chương trình đào tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ với thực tiễn và nghiên cứu, cập nhật nội dung giảng dạy phù hợp với xu hướng công nghệ và yêu cầu của thị trường lao động Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông qua đào tạo lại, tăng cường hợp tác với các giảng viên nước ngoài và khuyến khích tham gia nghiên cứu cùng hướng dẫn luận văn Mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cộng đồng học thuật để cung cấp dự án thực tế, chương trình thực tập và cơ hội học tập xuyên ngành Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng liên tục dựa trên chuẩn đầu ra rõ ràng và phản hồi 360 độ từ người học, nhà tuyển dụng và giảng viên nhằm điều chỉnh chương trình kịp thời Phát triển chương trình KHMT gắn với các trọng điểm nghiên cứu và ứng dụng, thúc đẩy nghiên cứu trọng yếu, đổi mới phương pháp giảng dạy và sử dụng công nghệ giảng dạy số Đảm bảo cơ sở vật chất, tài liệu và nguồn lực hỗ trợ học tập hiện đại, đồng thời triển khai các mô hình học tập linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học và xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lý luận về chất lượng đào tạo
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT tại Trường ĐH CNTT
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT tại Trường ĐH CNTT.
Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, nhằm thực hiện đổi mới chất lượng giáo dục và căn cứ vào khảo sát thực trạng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT tại các trường đại học khác, có thể thấy chất lượng đào tạo thạc sĩ KHMT tại Trường ĐH CNTT trong những năm qua vẫn chưa tốt.
Việc áp dụng hiệu quả các giải pháp đề tài đề xuất sẽ trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT tại Trường ĐH CNTT Khi các đề tài được triển khai và áp dụng thành công, chương trình đào tạo sẽ tăng cường nội dung nghiên cứu và liên hệ ứng dụng thực tiễn với giảng dạy, từ đó nâng cao năng lực và trình độ cho sinh viên Điều này không những cải thiện chất lượng đầu ra mà còn củng cố uy tín và vị thế của Trường ĐH CNTT trong lĩnh vực khoa học máy tính.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các nguồn tài liệu để vận dụng vào đề tài
- Tham khảo các tạp chí, các bài báo khoa học, tài liệu trên web về giáo dục
- Tham khảo các văn kiện, các nghị quyết liên quan đến chất lượng đào tạo thạc sĩ
- Nghiên cứu trên tài liệu hoạt động đào tạo của nhà Trường để đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điều tra- khảo sát
Phương pháp này sử dụng hệ thống các câu hỏi được thiết kế theo các nội dung xác định nhằm thu thập thông tin khách quan về nhận thức và thái độ của người được điều tra, gồm giảng viên, học viên và cựu học viên Việc các câu hỏi được bố trí có cấu trúc rõ ràng giúp ghi nhận quan điểm, mức độ đồng thuận và sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng, từ đó cung cấp cái nhìn tổng thể về thực trạng nghiên cứu Kết quả thu được có giá trị cho phân tích so sánh, diễn giải dữ liệu và đề xuất các hành động hay can thiệp phù hợp dựa trên nhận thức và thái độ thực tế của từng nhóm.
- Phương pháp này có hai hình thức cơ bản:
7.2.1 Phương pháp phỏng vấn xx
Phương pháp phỏng vấn bằng hệ thống câu hỏi miệng là kỹ thuật thu thập dữ liệu định tính, trong đó người được phỏng vấn trả lời bằng lời nhằm làm rõ nhận thức và thái độ của họ về một vấn đề cụ thể Việc sử dụng chuỗi câu hỏi có cấu trúc giúp khai thác sâu các quan điểm, động cơ và cách họ đánh giá sự việc, từ đó thu được thông tin phong phú và có bối cảnh Thiết kế cuộc phỏng vấn được tối ưu hóa để đảm bảo sự nhất quán giữa các câu hỏi và cho phép người tham gia diễn đạt suy nghĩ một cách tự nhiên, từ đó làm sáng tỏ các khía cạnh quan trọng của chủ đề Ứng dụng của phương pháp này rất rộng trong nghiên cứu xã hội, thị trường và đánh giá nguồn nhân lực, vì nó cho phép nắm bắt nhận thức và thái độ ở mức độ chi tiết và sâu sắc hơn so với các phương pháp thu thập dữ liệu khác Khi tối ưu hóa cho SEO, có thể nhấn mạnh các từ khóa như phỏng vấn bằng câu hỏi miệng, phỏng vấn định tính, nhận thức và thái độ, thu thập thông tin bằng lời.
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi là hệ thống các câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy với nội dung xác định trước; người được hỏi sẽ trả lời bằng cách viết trong một khoảng thời gian nhất định Phương pháp này cho phép khảo sát và thăm dò ý kiến của nhiều người một cách đồng loạt, nên thường được sử dụng trong các cuộc điều tra xã hội học và các nghiên cứu khoa học giáo dục.
Phiếu điều tra là công cụ quan trọng của phương pháp điều tra khảo sát, đóng vai trò then chốt trong việc thu thập dữ liệu từ đối tượng điều tra Nó được biết đến như phiếu xin ý kiến, phiếu thăm dò hoặc phiếu khảo sát, và được thiết kế với một hệ thống các câu hỏi nhằm khai thác thông tin về các khía cạnh cần khảo sát Việc soạn thảo câu hỏi một cách logic, rõ ràng và phù hợp mục tiêu giúp tăng độ tin cậy và tính đầy đủ của dữ liệu thu được Do đó, phiếu điều tra không chỉ là công cụ thu thập ý kiến mà còn là yếu tố quyết định cho chất lượng phân tích và kết quả nghiên cứu.
Phương pháp quan sát
Phương pháp nghiên cứu dựa trên tri giác và các công cụ chuyên môn, kết hợp với quan sát và thu thập thông tin, nhằm cảm nhận và ghi lại hoạt động dạy và học cũng như các hoạt động sinh hoạt học thuật dành cho học viên cao học tại Trường Phương pháp này cho phép khái quát quá trình giảng dạy, nhận diện tương tác giữa người dạy và người học, và ghi nhận các diễn biến trong lớp học để phân tích và đánh giá hiệu quả giáo dục Việc kết hợp quan sát trực tiếp với thu thập dữ liệu từ nguồn liên quan giúp tạo dữ liệu đáng tin cậy cho các phân tích về chất lượng đào tạo, quản lý lớp và sự tham gia của học viên cao học Đây là phương pháp nghiên cứu mang tính mô tả và khám phá, hỗ trợ cải tiến chương trình đào tạo và hoạt động học thuật tại Trường.
Phương pháp phân tích- tổng hợp
Phân tích và tổng hợp là quá trình phân chia các sự vật, hiện tượng thành từng phần để nghiên cứu đặc trưng riêng của từng vấn đề, sau đó tổng hợp lại các đặc trưng ấy nhằm tìm ra bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu.
Để đánh giá chất lượng đào tạo thạc sĩ của một trường đại học, cần thực hiện phân tích toàn diện quá trình đào tạo thành các yếu tố cấu thành như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và hoạt động nghiên cứu khoa học Quá trình này tập trung phân tích, đánh giá, xem xét và làm rõ đặc trưng, bản chất của từng mặt để từ đó nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và các cơ hội cải tiến Sau khi làm rõ từng yếu tố, cần tổng hợp dữ liệu để có một đánh giá tổng thể về chất lượng đào tạo thạc sĩ của trường và xác định mức độ đáp ứng chuẩn mực cũng như nhu cầu phát triển trong thời gian tới.
Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo thạc sĩ dựa trên việc thu thập ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan nhằm kiểm chứng và khẳng định sự khác biệt khi áp dụng các giải pháp do người nghiên cứu đề xuất Kết quả đánh giá cho phép xác định mức độ tác động của những giải pháp này và từ đó rút ra kết luận về việc có nên áp dụng chúng để nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ tại trường hiện nay.
Chuyên gia được hiểu là những người có trình độ cao về mặt lý thuyết lẫn thực hành, có thể là những nhà quản lý dày dặn kinh nghiệm, các nhà khoa học sư phạm có chuyên môn sâu hoặc những giảng viên giỏi Họ đóng vai trò chủ chốt trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và áp dụng các kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề thực tế, từ đó định hướng chiến lược giáo dục và nâng cao chất lượng giảng dạy cho tổ chức và cộng đồng.
Việc tổ chức lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá chất lượng đào tạo thạc sĩ có thể thực hiện theo các hình thức sau:
Việc tổ chức hội thảo khoa học nhằm xác định và đánh giá các vấn đề cần nghiên cứu là nội dung trọng tâm, điển hình với các chủ đề như hội thảo về giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT và hội thảo về đổi mới phương pháp giảng dạy Các bản tham luận, ý kiến trao đổi của các chuyên gia và các tư liệu thu thập được tạo thành cơ sở để thực hiện kết luận về các vấn đề cần nghiên cứu và từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu, ứng dụng và chính sách phù hợp.
Phỏng vấn chuyên gia là một phương pháp nghiên cứu quan trọng, được tiến hành bằng cách xây dựng và trình bày một hệ thống câu hỏi được thiết kế kỹ lưỡng Hiệu quả của hình thức này phụ thuộc rất lớn vào sự chuẩn bị chu đáo và nghệ thuật đặt câu hỏi của người phỏng vấn.
Thu thập ý kiến chuyên gia thông qua phiếu xin ý kiến các vấn đề cần nghiên cứu với hệ thống các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn trên giấy.
Tiến độ thực hiện đề tài nghiên cứu
10 11 12 01 02 3 4 5 6 7 8 9 Xây dựng đề cương chuyên đề
Xây dựng cở sở lý thuyết
Khảo sát thực trạng Đề xuất giải pháp
Kiểm nghiệm và đánh giá giải pháp
Hoàn chỉnh luận văn nộp về Trường
Tổng quan về hoạt động liên quan đến chất lượng đào tạo
Hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo đang diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau trên toàn cầu, dẫn tới nhu cầu thiết lập các Cơ quan đảm bảo chất lượng - Quality Assurance Agencies (QAAs) Một số nước đã xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng từ lâu, như Mỹ, Australia, Hàn Quốc, New Zealand, Hồng Kông và Ấn Độ; sau đó lan sang Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Malaysia Hiện nay có 15 tổ chức đảm bảo chất lượng cấp quốc gia đang hoạt động, trong đó tổ chức được thành lập đầu tiên từ năm 1991 Những QAAs này có nhiệm vụ và chức năng khác nhau, nhưng điểm chung là các tổ chức hợp pháp được công nhận để thực hiện kiểm định chất lượng chương trình đào tạo hoặc kiểm định chất lượng các trường đại học và cao đẳng trong quốc gia của họ.
Những nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo luôn gắn liền với công tác bảo đảm chất lượng và được triển khai một cách mạnh mẽ Ở các nước phát triển, đã hình thành các lý thuyết về chuẩn, quản lý dựa trên chuẩn và các mô hình kiểm định chất lượng đào tạo cùng với nhiều kỹ thuật và công cụ phong phú, tất cả đều thuộc hệ thống quản lý chất lượng giáo dục Ở Mỹ, để phân biệt chất lượng của các trường cao đẳng, đại học có uy tín, người ta dựa vào các hệ thống kiểm định do các cơ quan chủ trì hệ thống kiểm định quản lý, cho thấy chất lượng và độ tin cậy được công nhận chính thức từ tổ chức kiểm định Mỗi tổ chức, ủy ban kiểm định có mức đánh giá chất lượng chương trình khác nhau, và các trường đại học và cao đẳng tại Mỹ được phân loại thành 3 loại.
2 kiểm định: kiểm định vùng (regional accreditation), kiểm định quốc gia (national accreditation) và kiểm định chuyên ngành (specialized accreditation)
Ngoại trừ kiểm định chuyên ngành chỉ tập trung vào một số chương trình chuyên biệt, 2 loại còn lại được xem là 2 loại kiểm định phổ biến nhất Loại kiểm định của trường sẽ phản ánh các đặc điểm về xu hướng đào tạo, giá trị được công nhận cũng như chất lượng của tấm bằng do trường cấp
Mỹ hiện có 6 tổ chức kiểm định vùng và một số tổ chức kiểm định quốc gia được công nhận Đây đều là các tổ chức tư nhân độc lập, được Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE) và Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học (CHEA) công nhận [31] Và để được các tổ chức kiểm định này công nhận, các trường phải trải qua sự đánh giá thường xuyên về nhiều mặt như giáo trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ sinh viên… Ở Úc, năm 1992 Uỷ ban Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học (The Committee For Quality Assurance in Higher Education) được thành lập với nhiệm vụ tư vấn cho chính phủ về các vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo Ở Hong Kong: có Hội đồng Kiểm định chất lượng học thuật Hong Kong (Hong Kong Council on Academic Accreditation); viết tắt là HKCAA Ở Ấn Độ: có Hội đồng Đánh giá và Kiểm định chất lượng Ấn Độ (National Assessment and Accreditation Council); viết tắt là NAAC Ở Indonesia: Uỷ Ban Quốc gia Kiểm định chất lượng giáo dục đại học Indonesia (The National Accreditation Board for Higher Education) Ở Nhật Bản (Japan): có Viện Văn bằng Học thuật Quốc gia (National Institution for Academic Degrees (Governmental); viết tắt là NIAD - Hiệp hội Kiểm định chất lượng các trường đại học Nhật Bản (Japan University Accredit-ation Association (Non-governmental); viết tắt là JUAA Ở Hàn Quốc, đã có Uỷ ban Kiểm định Chất lượng Giáo dục Đại học Hàn Quốc (The Committee For University Accreditation) chịu sự giám sát của hội đồng giáo dục Đại học Hàn Quốc (Korean Council For University Education_KCUE)
Examples of national quality assurance bodies for higher education include Mongolia's National Council on Higher Education Accreditation (NCHEA); New Zealand's Academic Audit Unit (AAU); China's mixed system of centralized and decentralized quality assurance bodies established by the government; in the Philippines, the government-founded Accrediting Agency of Chartered Colleges and Universities in the Philippines (AACCUP) and the non-governmental Philippine Accrediting Association of Schools, Colleges and Universities (PAASCU); Thailand's Office of National Educational Standards and Quality Assessment (ONESQA); and Malaysia's National Accreditation Board (LAN).
Với chủ trương xây dựng Malaysia thành trung tâm giáo dục hàng đầu khu vực, thành một nước công nghiệp đầy đủ vào năm 2020, ngay từ năm
Vào năm 1995, Malaysia bắt đầu một biến đổi mang tính cách mạng cho hệ thống giáo dục bằng việc ban hành sáu đạo luật vào các năm 1996–1997: Đạo luật Giáo dục 1996, Đạo luật Hội đồng Quốc gia về trường đại học 1996, Đạo luật về các trường đại học tư 1996, Đạo luật về các trường đại học và cao đẳng 1996, Đạo luật về Hội đồng chứng nhận quốc gia 1996 và Đạo luật về Hội đồng Quốc gia gây quỹ giáo dục đại học 1997 Những đạo luật này nhằm phục vụ cho cuộc cải cách giáo dục theo hướng tập trung vào thị trường và đón nhận những thách thức của toàn cầu hóa bằng cách thay đổi nội dung chương trình và phương pháp giáo dục Một trong những nội dung của cuộc cải cách là tăng tính tự chủ cho các trường đại học, thiết lập chuẩn đánh giá chất lượng và cơ chế cấp phép, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác giữa các cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học Malaysia.
4 cách này nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và quốc tế hóa các chương trình giảng dạy Ở khu vực Đông Nam Á, một biện pháp cơ bản để thúc đẩy giáo dục đại học là xây dựng mạng lưới các trường đại học ASEAN (ASEAN University Network - AUN), đặc biệt là hệ thống đảm bảo chất lượng của mạng lưới (AUN-QA) Việc khởi xướng hệ thống đảm bảo chất lượng của AUN bắt đầu từ năm 1998 do Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng quản trị AUN (AUN-BOT), giáo sư, tiến sĩ Vanchai Sirichana thực hiện.
Mỗi trường thành viên sẽ bổ nhiệm một cán bộ cốt lõi về chất lượng (Chief Quality Officer - CQO) để điều phối các hoạt động đảm bảo chất lượng nhằm hướng tới các mục tiêu chung của AUN CQO tham dự các hội thảo về đảm bảo chất lượng do AUN tổ chức nhằm xây dựng các tiêu chí chất lượng chung và các quy trình định chuẩn (benchmarking) thông qua các đoàn đánh giá nội bộ và ngoài các đại học thành viên Hội thảo lần thứ III diễn ra từ ngày 28 đến 30/3/2002 tại Yangon, Myanmar với chủ đề “Thực hành ĐBCL: dạy cái tốt nhất, học cái tốt nhất”, do các cán bộ nòng cốt về chất lượng của AUN tham dự Hội thảo đã thành công khi các trường thành viên tích cực chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức về dạy và học.
Trong nhiều năm qua, giáo dục nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung vẫn tồn tại nhiều nghịch lý, chưa theo kịp trình độ phát triển của giáo dục thế giới và thậm chí còn nảy sinh nhiều tiêu cực trong hệ thống giáo dục Có câu nói “Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc” phản ánh rõ thực trạng đào tạo để có nghề và ra nghề còn nhiều bất cập Nhận định này cho thấy công tác đào tạo nghề vẫn tồn tại nhiều điểm yếu, và dù đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, những vấn đề này vẫn chưa được khắc phục triệt để Vì vậy mỗi năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên đối mặt với thách thức nghề nghiệp sau khi ra trường.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, có 5 trường tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập; tuy nhiên, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ thất nghiệp sau khi tốt nghiệp là 63%.
Những bài học từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm thế giới cho thấy việc coi trọng và kiên quyết thực thi các chính sách giáo dục - đào tạo phù hợp là yếu tố quyết định để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhanh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta Đây là mục tiêu chiến lược và là yêu cầu cấp thiết hiện nay, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự chuyển đổi toàn diện của nền giáo dục nước nhà.
Trong bài “Đồng hành trên con đường đổi mới giáo dục đại học” đăng trên báo Giáo dục và Thời đại ngày 12/3/2010, GS Phạm Vũ Luận, khi đó là thứ trưởng thường trực Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết kiên quyết chấm dứt tình trạng không kiểm soát được chất lượng đào tạo Đó là quyết tâm của Bộ và cũng là lời kêu gọi trước thực trạng đáng buồn hiện nay Tuy nhiên, nếu các cơ sở không đổi mới và thiếu sự quan tâm đến kiểm soát chất lượng, giáo dục của nước ta sẽ gặp khó khăn trong quá trình đổi mới.
Đã có khá nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo, nhưng phần lớn các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục và các luận văn thạc sĩ tập trung vào quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo ở các Trung tâm, trường Cao đẳng và Đại học.
Đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo được phê duyệt theo quyết định 4138, nhằm nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục cho giáo dục Đại học và Trung cấp Chuyên nghiệp trong giai đoạn 2011–2020 Dự án đã củng cố và hoàn thiện khung văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng GDĐH - TCCN, tạo môi trường và hành lang pháp lý thúc đẩy sự phát triển ổn định của hệ thống kiểm định; xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục để triển khai đánh giá các cơ sở giáo dục và chương trình GDĐH, đảm bảo các trường TCCN đạt tiêu chuẩn chất lượng và góp phần nâng cao chất lượng GDĐH – TCCN Đồng thời, dự án xây dựng chính sách nhằm phát triển đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài có đủ trình độ và số lượng để thực hiện các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục cấp Đại học và Trung cấp Chuyên nghiệp.
6 hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN được nêu rõ nhằm nâng cao chuẩn mực và tính minh bạch của chất lượng giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục Việc triển khai các hoạt động này giúp xây dựng hệ thống đánh giá khách quan, nâng cao năng lực quản trị chất lượng và mở rộng mạng lưới trao đổi học thuật, kinh nghiệm giữa các quốc gia Qua đó, GDĐH – TCCN được nâng cao uy tín và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học và xã hội.
Một số khái niệm cơ bản
Chất lượng là yếu tố sống còn và là phạm trù phức tạp mà con người luôn hướng tới trong mọi hoạt động, từ sản phẩm đến quy trình và dịch vụ; vì thế nó trở thành chủ đề tranh luận gay gắt và mang tính thời sự ở mọi lĩnh vực.
Vậy chất lượng là gì?
Harvey và Green (1993) đưa ra năm quan niệm về chất lượng, cho thấy chất lượng có nhiều cách tiếp cận khác nhau: chất lượng là sự xuất sắc, chất lượng là sự hoàn hảo, chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, chất lượng là sự đáng giá đồng tiền, và chất lượng là giá trị.
9 chuyển đổi [31] Trong số những quan nhiệm về chất lượng thì khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu được chấp nhận rộng rãi nhất
Theo Từ điển tiếng Việt 2002, Nhà xuất bản Đà Nẵng “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [13]
Chất lượng là yếu tố quyết định phẩm chất và giá trị của sự vật, theo từ điển tiếng Việt phổ thông Nó đồng thời là cái tạo nên bản chất của sự vật và làm cho sự vật này khác biệt so với sự vật kia.
Hiện nay ISO có mặt tại hơn 150 quốc gia trên thế giới và được thành lập từ năm 1947; Việt Nam gia nhập ISO vào năm 1977 và là thành viên thứ 77 của tổ chức này Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã đưa ra định nghĩa về chất lượng là: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”.
Từ các định nghĩa trên có thể thấy chất lượng là sự đáp ứng các yêu cầu
Sự đáp ứng này thể hiện trên các đặc trưng sau:
Như vậy, chất lượng luôn ở trạng thái động, chỉ mang tính tương đối và phù hợp với từng thời kỳ cụ thể
Ngày nay, khái niệm chất lượng không chỉ gói gọn ở chất lượng sản phẩm mà còn mở rộng thành chất lượng của mỗi công việc, chất lượng của các quy trình và chất lượng của cả hệ thống trong suốt vòng đời sản phẩm Chất lượng được xem xét ở mọi khâu từ thiết kế, sản xuất đến vận hành và bảo trì, với mục tiêu đảm bảo sự nhất quán, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu người dùng Việc quản lý chất lượng toàn diện đòi hỏi đánh giá và cải tiến liên tục ở từng cấp độ công việc và quy trình, đồng thời tích hợp hệ thống quản lý để tối ưu hóa hiệu suất và giảm thiểu rủi ro Qua đó, chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh dài hạn và giúp doanh nghiệp duy trì sự bền vững trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng được xác định bởi người tiêu dùng thông qua nhu cầu và mong đợi của họ, từ đó chuyển thành yêu cầu đối với sản phẩm Vì thế, chất lượng liên tục biến động theo sự thay đổi của nhu cầu và mong đợi Ngoài ra, chất lượng còn phải đáp ứng lợi ích của các bên liên quan, bao gồm xã hội và các tổ chức hoặc cá nhân.
Chất lượng dịch vụ sản phẩm
Yêu cầu của thị trường và xã hội
Chất lượng là yếu tố cạnh tranh lớn nhất của mọi sản phẩm và dịch vụ, quyết định sự thịnh vượng và phát triển bền vững của các tổ chức nói chung và ngành giáo dục nói riêng Đầu tư cho chất lượng giúp nâng cao trải nghiệm người học, tăng hiệu quả giảng dạy và củng cố uy tín của các cơ sở giáo dục trên thị trường Vì vậy, quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn và quá trình cải tiến liên tục là nền tảng để đạt được sự bền vững và đáp ứng mọi kỳ vọng của xã hội.
Dù các quan điểm về chất lượng có cách tiếp cận khác nhau, chúng vẫn chia sẻ một ý tưởng chung là chất lượng là sự thỏa mãn các yêu cầu và kỳ vọng Trong giáo dục, chất lượng được đánh giá dựa trên mức độ đạt được các mục tiêu của chương trình đào tạo, qua các kết quả học tập và hiệu quả của quá trình giảng dạy.
1.2.2 Khái niệm đào tạo Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong Nhà trường gắn với giáo dục đạo đức nhân cách (Theo Wikipedia)
Đào tạo là một hoạt động có mục đích rõ ràng và được tổ chức có hệ thống nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ cho người học Quá trình này đồng thời góp phần hoàn thiện nhân cách, giúp mỗi cá nhân trở nên tự tin và sẵn sàng bước vào đời hành nghề với năng suất và hiệu quả cao Nhờ định hướng và nền tảng kiến thức vững chắc, người được đào tạo có thể bắt nhịp nhanh với yêu cầu công việc, thích nghi với thay đổi và đóng góp tích cực cho sự phát triển của bản thân và xã hội.
Khái niệm đào tạo thường được hiểu hẹp hơn khái niệm giáo dục, vì nó chủ yếu nhấn mạnh giai đoạn sau của quá trình học tập Đào tạo thường liên quan đến việc trang bị kỹ năng và kiến thức cụ thể cho một độ tuổi và một trình độ nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và mục tiêu nghề nghiệp Trong khi giáo dục có phạm vi bao quát rộng hơn, bao gồm phát triển nhận thức, tư duy và các giá trị suốt đời, đào tạo tập trung vào ứng dụng thực tế và phát triển kỹ năng để làm việc hoặc tham gia vào các hoạt động chuyên môn.
Có nhiều dạng đào tạo phục vụ nhu cầu học tập khác nhau, bao gồm đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại cho người đã đi làm, cùng với các hình thức linh hoạt như đào tạo từ xa và tự đào tạo, nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của người học.
Đào tạo là quá trình truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho người khác nhằm giúp họ nâng cao trình độ và hiểu biết ở một cấp độ cao hơn Hoạt động này diễn ra tại các cơ sở đào tạo như trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề và trung học phổ thông, được thực hiện theo kế hoạch, nội dung, chương trình và thời gian quy định cho từng ngành nghề Thông qua đào tạo, người học có thể chuyển đổi lên cấp bậc cao hơn và tích lũy những kiến thức, kỹ năng thiết yếu để đáp ứng yêu cầu công việc và cuộc sống.
Trong đào tạo, tính chuyên môn được thể hiện rõ qua việc trang bị cho người học một trình độ nhất định nhằm chuẩn bị cho hoạt động lao động nghề nghiệp sau này Trình độ chuyên môn này cho thấy khả năng thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp một cách hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động Vì vậy, mục tiêu của giáo dục và đào tạo là phát triển hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ chuyên môn để người học có thể tham gia một cách tự tin vào các hoạt động lao động, nâng cao năng suất và chất lượng công việc trong tương lai.
1.2.3 Khái niệm chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là sự phù hợp của chương trình với mục tiêu đã đề ra, được xác nhận thông qua đánh giá từ người học, người dạy, người quản lý và người dùng sản phẩm đào tạo Việc đánh giá đa chiều này giúp đo lường hiệu quả giáo dục và chất lượng đầu ra, từ đó cải thiện quá trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của các bên liên quan.
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
Các quan niệm về đánh giá chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là vấn đề hàng đầu đối với mọi trường đại học, và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo được xem là nhiệm vụ trọng tâm của bất cứ cơ sở giáo dục nào Dù quan trọng, chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định và khó đo lường, đồng thời cách hiểu của mỗi người thường khác nhau Có vô số định nghĩa trái ngược và rất nhiều cuộc tranh luận về chất lượng đã diễn ra ở các diễn đàn và môi trường khác nhau, phần lớn bắt nguồn từ thiếu một sự đồng thuận về bản chất của vấn đề.
Dưới đây là 6 quan điểm về đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học.[36]
1.3.1 Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào
Ở một số nước phương Tây, có quan điểm cho rằng chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng các yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo đó Quan điểm này được gọi là quan điểm nguồn lực, có nghĩa nguồn lực là chất lượng.
Quan điểm này cho rằng chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao khi Trường tuyển sinh học viên giỏi, đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có hệ thống phòng thí nghiệm để thực hành và được trang bị đầy đủ trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ tốt nhất cho công tác giảng dạy và học tập.
Quan điểm đánh giá chất lượng dựa vào đầu vào đã bỏ qua tác động của quá trình đào tạo, vốn diễn ra rất đa dạng và xuyên suốt quá trình học tập tại trường Đánh giá chất lượng hiệu quả cần phản ánh đầy đủ các yếu tố của quá trình giảng dạy, phương pháp giáo dục và sự tham gia cũng như trải nghiệm học tập của người học Do đó, nên áp dụng đánh giá đa chiều và liên tục, kết hợp nguồn dữ liệu từ giảng dạy, thực hành và phản hồi để đo lường chất lượng đào tạo một cách toàn diện và bền vững.
Chất lượng đầu ra của một trường học khó được khẳng định chỉ dựa trên chất lượng đầu vào, vì mặc dù nguồn lực đầu vào có thể ở mức cao, nhưng hoạt động đào tạo và quản lý chất lượng lại quyết định kết quả thực tế Một trường có điều kiện vật chất và nguồn lực tốt có thể tạo điều kiện thuận lợi, nhưng nếu phương pháp giảng dạy, đánh giá học tập và chương trình đào tạo thiếu hiệu quả thì đầu ra vẫn có thể không đạt chuẩn Do đó, để đánh giá chất lượng giáo dục một cách toàn diện, cần xem xét cả quá trình đào tạo, chất lượng giảng viên, cấu trúc chương trình, phương pháp đánh giá và kết quả học tập của sinh viên Việc chỉ dựa vào đầu vào sẽ dẫn đến nhận định lệch lạc và không phản ánh được hiệu quả đào tạo thực tế.
Ngay cả khi nguồn lực đầu vào hạn chế, một trường có thể cung cấp cho học viên một chương trình đào tạo hiệu quả Đầu vào chỉ là một yếu tố để đánh giá chất lượng, chứ không phải thước đo duy nhất Quan trọng là quá trình đào tạo diễn ra như thế nào và chất lượng đầu ra của học viên sau khóa học.
1.3.2 Chất lượng được đánh giá bằng đầu ra
Đầu ra của giáo dục là kết quả cụ thể, là sản phẩm của quá trình học tập được thể hiện qua năng lực, trình độ và chuyên môn của người học, những yếu tố này cho phép họ ứng dụng vào công việc một cách hiệu quả và đóng góp vào hiệu suất làm việc của tổ chức.
Có thể hiểu kết quả đào tạo là tập hợp các phẩm chất, giá trị, nhân cách và năng lực làm việc của người tốt nghiệp, phản ánh sự phù hợp giữa mục tiêu đào tạo của ngành với nhu cầu của xã hội Kết quả này không chỉ phụ thuộc vào đầu vào mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như quá trình giảng dạy của giảng viên, sự tham gia và nỗ lực học tập của học viên, chất lượng giáo trình và phương pháp truyền đạt kiến thức, cũng như điều kiện học tập, cơ sở vật chất và hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ cho việc dạy và học Vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng mục tiêu xã hội, cần sự đồng bộ giữa chương trình đào tạo, năng lực giảng dạy của đội ngũ giáo viên và chất lượng tài liệu cũng như cơ sở vật chất.
Một quan điểm khác về chất lượng giáo dục đại học cho rằng đầu ra của quá trình giáo dục có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với đầu vào của quá trình đào tạo Quan điểm này cho rằng thành quả đầu ra phản ánh kỹ năng, kiến thức và khả năng thích ứng của người học, từ đó quyết định cơ hội nghề nghiệp và sự đóng góp cho xã hội, làm nổi bật tầm quan trọng của việc tối ưu hóa chất lượng đầu ra thay vì chỉ tập trung vào đầu vào của quá trình đào tạo.
Đầu ra của giáo dục đại học là sản phẩm được tạo ra từ quá trình đào tạo, thể hiện qua mức độ hoàn thành công việc của học viên sau khi tốt nghiệp và qua khả năng trường cung cấp các hoạt động đào tạo chất lượng Đánh giá đầu ra giúp đo lường hiệu quả của chương trình giáo dục, phản ánh năng lực làm việc của người tốt nghiệp và chất lượng hệ thống giảng dạy của trường.
Có 2 vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận chất lượng giáo dục đại học này:
Một là, mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra vẫn chưa được xem xét đúng mức Trong thực tế, mối liên hệ này là có thật, dù không phải là quan hệ nhân quả Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, nhưng điều đó không có nghĩa là sinh viên của trường sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc.
Hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau
1.3.3 Chất lượng được đánh giá bằng “ giá trị gia tăng”
Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới học viên khi nó tạo ra sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và tay nghề cá nhân của học viên Sự khác biệt này giúp mỗi học sinh khai phá tiềm năng, nâng cao năng lực học tập và kỹ năng thực hành Môi trường giáo dục được thiết kế để kích thích tư duy, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề sẽ thúc đẩy tiến bộ cá nhân và sự tự tin của học viên theo thời gian.
“ Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra”, trừ đi giá trị của
Khái niệm về 'đầu vào' được hiểu như kết quả là 'giá trị gia tăng' mà trường mang lại cho học viên và được xem là thước đo chất lượng đào tạo của trường Tuy nhiên, quan điểm này chỉ tồn tại ở mức lý thuyết vì trên thực tế rất khó thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng 'đầu vào' và 'đầu ra', từ đó tìm ra hiệu số và đánh giá chất lượng của từng trường Hơn nữa, các trường trong hệ thống giáo dục đại học rất đa dạng nên không thể dùng một bộ công cụ đo lường duy nhất cho tất cả các trường Vả lại, cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho sự cải tiến quá trình đào tạo ở từng trường đại học.
1.3.4 Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật” Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên giỏi, số lượng giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học cao thì được xem là rường có chất lượng đào tạo cao Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường bị chính trị hoá Vấn đề là liệu có đánh giá được năng lực chất xám và tay nghề của đội ngũ giáo viên khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng rộng
1.3.5 Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải xây dựng một văn hoá tổ chức riêng biệt, tạo nền tảng cho quá trình cải tiến chất lượng Vì vậy một trường được xem là có chất lượng khi văn hoá tổ chức của trường thể hiện nét đặc trưng riêng và đề cao cách làm để liên tục nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học được hình thành từ toàn bộ các khâu của quá trình đào tạo và chịu tác động bởi cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan, bao gồm cả các yếu tố thuộc môi trường nội bộ lẫn môi trường bên ngoài; những yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động tổng hợp lên chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học.
1.4.1 Các yếu tố môi trường bên ngoài
1.4.1.1 Thị trường lao động Đây là yếu tố quan trọng nhất, xuất phát điểm, tạo lực hút định hướng cho sự phát triển chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Sản phẩm của đào tạo sau đại học chỉ có thể được tồn tại khi nó đáp ứng được nhu cầu của thị trường Xu hướng phát triển và hoàn thiện chất lượng đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu thị trường lao động Do vậy, sản phẩm của đào tạo sau đại học phải là những người với đầy đủ những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở cấp độ cao hơn về một ngành nghề cụ thể so với các lao động có trình độ đại học Nhưng nếu người học sau khi học xong không tìm được việc làm (đối với sinh viên tiếp tục học lên bậc cao học) hoặc mức thu nhập cũng như cơ hội trong công việc không đượccải thiện thì đó chính là dấu hiệu cho thấy sản phẩm của cơ sở giáo dục đại học không phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động Nói cách khác, chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học nàychưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Những yêu cầu của thị trường lao động là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học xác định mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo Nhu cầu này ngày càng khắt khe khi các doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động đặt ra yêu cầu ở mọi mặt: kiến thức chuyên môn và xã hội, kỹ năng thực hành, thái độ làm việc và khả năng nghiên cứu Do đó, các cơ sở giáo dục đại học cần nhận diện và nắm bắt đúng các đòi hỏi này để điều chỉnh mục tiêu chương trình đào tạo, nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và bảo đảm sản phẩm đào tạo đáp ứng nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường lao động.
Nguồn cung lao động ngày càng tăng về số lượng và chất lượng đang làm cho cuộc cạnh tranh giữa các trường đại học trở nên gay gắt hơn Nếu các cơ sở giáo dục đại học không nhận thức đầy đủ về chất lượng đào tạo, họ có nguy cơ bị đào thải khỏi thị trường Vì thế, xác định đúng nhu cầu, cấu trúc, đặc điểm và xu hướng vận động của thị trường lao động là căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất để định hướng phát triển chất lượng đào tạo và nâng cao chuẩn đầu ra Nhu cầu thị trường và xu hướng nghề nghiệp sẽ định hình cách thiết kế chương trình, nội dung giảng dạy và phương pháp đánh giá, từ đó cải thiện cơ hội việc làm cho sinh viên và tăng tính cạnh tranh của từng trường.
1.4.1.2 Tình hình phát triển của nền kinh tế
Tiến triển của nền kinh tế có tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đào tạo và hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học Nền kinh tế phát triển làm tăng sự quan tâm của Nhà nước tới giáo dục và thúc đẩy đầu tư cho đào tạo Đồng thời nhận thức của người học ngày càng cao và họ có nhiều lựa chọn trường học để đáp ứng nhu cầu xã hội Yêu cầu đối với chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học ngày càng khắt khe không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng nguồn nhân lực do các đơn vị sử dụng lao động đặt ra Sự cạnh tranh gay gắt và sự bão hòa của thị trường giáo dục tạo áp lực buộc các cơ sở đại học phải nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Toàn cầu hoá và hội nhập giáo dục đại học đang mở ra nhiều cơ hội cho các cơ sở giáo dục đại học tham gia vào nền kinh tế thế giới, giúp họ mở rộng quan hệ hợp tác với các trường có chất lượng trên toàn cầu và giao lưu, học hỏi kinh nghiệm quản lý đào tạo cũng như chương trình đào tạo Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã làm thay đổi cách tư duy truyền thống và đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải thích ứng nhanh chóng để nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của giáo dục.
Xu hướng hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện cho các trường cử giảng viên, cán bộ đi học tập nâng cao trình độ Qua đó góp phần ngày một nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học Tuy vậy, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng là nguyên nhân làm nảy sinh những mặt trái trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo Đó là nảy sinh nhiều tiêu cực trong giáo dục như thương mại hoá giáo dục Nếu không nhận thức và giải quyết tốt các vấn đề này thì chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
1.4.1.3 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ chính là phương tiện giúp cơ sở giáo dục đại học thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn việc điều tra, nghiên cứu nhu cầu của thị trường lao động, nhờ các trang thiết bị đo lường, dự báo, thí nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn Qua đó, chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học cũng dần được cải thiện
Khoa học quản lý đang phát triển và hình thành các phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại, giúp nắm bắt nhanh chóng và chính xác nhu cầu của khách hàng Nhờ đó, chất lượng sản phẩm đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học được nâng cao và mức thỏa mãn của khách hàng với chương trình đào tạo ngày càng tăng.
1.4.1.4 Các cơ chế, chính sách, chế độ của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học
Trong mọi cơ sở giáo dục đại học, hoạt động diễn ra trong một môi trường nhất định, và môi trường pháp lý cùng với các cơ chế, chính sách của Nhà nước đóng vai trò trực tiếp và to lớn trong việc hình thành và nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục Việc hiểu và tận dụng hiệu quả các yếu tố này giúp các trường tối ưu hóa chất lượng đào tạo, nghiên cứu và dịch vụ, đồng thời đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu phát triển của hệ thống giáo dục quốc gia và người học.
Cơ chế, chính sách và chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là đào tạo đại học và sau đại học, có sự tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo Trong thời gian vừa qua, lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của toàn ngành nói chung cũng như của các cơ sở giáo dục đại học nói riêng Điều này được thể hiện qua việc ưu tiên nguồn lực, đổi mới quản lý và nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội và thị trường lao động, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu khoa học và liên kết giữa đào tạo với doanh nghiệp.
Các cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học hoạt động
Các cơ chế và chính sách của Nhà nước tạo áp lực buộc các cơ sở giáo dục đại học—bao gồm cả công lập và ngoài công lập—phải nâng cao chất lượng đào tạo Với chủ trương xã hội hóa giáo dục trong thời gian qua, nhiều trường đại học đã mở đào tạo sau đại học Để tồn tại và phát triển, trước tiên và quan trọng nhất các cơ sở này phải đảm bảo chất lượng đào tạo, vì chất lượng là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh, duy trì nguồn tuyển sinh và đáp ứng yêu cầu của xã hội cũng như thị trường lao động.
Nhà nước ban hành và thực thi các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học trong nước tham gia trao đổi, hợp tác và học hỏi kinh nghiệm với các trường ở khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực đào tạo sau đại học Các hoạt động chủ yếu tập trung vào trao đổi chương trình đào tạo, trao đổi giảng viên và trao đổi trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường khả năng hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam.
1.4.2 Các yếu tố bên trong các trường đại học
1.4.2.1 Chất lượng đầu vào (chất lượng tuyển sinh)
Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng người học Rõ ràng, các cơ sở đào tạo tuyển được người học có nền tảng lực học ở các cấp trước đó cao hoặc đã tích lũy kiến thức từ nhiều môn học liên quan đến ngành nghề sẽ có nhiều thuận lợi trong quá trình đào tạo.
1.4.2.2 Lực lượng lao động trong các trường đại học
Con người là yếu tố trực tiếp tạo ra và quyết định chất lượng sản phẩm, đặc biệt là chất lượng dịch vụ giáo dục Tại các cơ sở giáo dục đại học, đội ngũ giảng viên và cán bộ công nhân viên đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng đào tạo Chất lượng đào tạo được hình thành từ tất cả các khâu của quá trình đào tạo và được đảm bảo ở mọi mặt của quá trình này, với sự tham gia của giảng viên và cán bộ nhà trường ở từng bước Vì vậy, chất lượng đào tạo phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm và tinh thần hợp tác của toàn thể giảng viên cũng như cán bộ trong cơ sở giáo dục đại học Năng lực và tinh thần làm việc của đội ngũ giảng viên và cán bộ là yếu tố quyết định mức độ đạt chuẩn của chất lượng đào tạo.
Phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo thạc sĩ
Dựa trên quan điểm về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đã được phân tích và lựa chọn ở trên, đề tài xác định rõ các tiêu chí cơ bản của các yếu tố nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo trình độ thạc sĩ, gồm các tiêu chí về sự phù hợp của chương trình đào tạo với mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của xã hội, chất lượng đội ngũ giảng viên và đội ngũ nghiên cứu, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu, tính nhất quán giữa nội dung giảng dạy với chuẩn đầu ra, hiệu quả của hệ thống đánh giá và quản lý chất lượng, và sự phối hợp giữa nhà trường, giảng viên và người học trong quá trình đào tạo và đánh giá kết quả học tập.
1.5.1 Chất lượng học viên (đầu vào)
- Học viên có hiểu biết, đam mê về ngành học trước khi vào học
- Học viên có định hướng về nghề nghiệp rõ ràng sau khi học xong
- Kết quả học tập ở bậc đại học, mức độ tiếp thu kiến thức và thái độ học tập
- Học viên được tuyển chọn công bằng, khách quan
1.5.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên
- Đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu về số lượng, có trình độ chuyên môn, học hàm học vị, nghiệp vụ phù hợp với chuyên ngành giảng dạy
Về chất lượng giảng dạy
- Định kỳ họp chuyên môn với Khoa và lãnh đạo Nhà trường
- Chú trọng đánh giá phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy, thực hiện quy định giảng dạy và thái độ giảng dạy của giảng viên
- Đánh giá về đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự học của người học
Về môi trường làm việc
- Được giảng dạy theo đúng chuyên ngành được đào tạo
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
- Được tham gia các hội đồng đánh giá đề tài
- Được tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học
- Được thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục khác sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tiết giảng đối với Trường
- Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự
- Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
1.5.3 Chất lượng đội ngũ quản lý
- Trình độ, số lượng đội ngũ quản lý đáp ứng tiêu chuẩn theo điều lệ của trường đại học
- Được phân công nhiệm vụ và quy định quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng
- Xác định được mục tiêu, sứ mạng, tầm nhìn chiến lược cho Nhà trường
- Xây dựng được kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn cho từng hoạt động
- Có giải pháp, biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo đảm bảo chất lượng
- Định kỳ tổng kết, đánh giá để nâng cao hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý
1.5.4 Chất lượng đội ngũ chuyên viên phục vụ đào tạo
- Đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu theo quy định
- Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong mảng được phân công phụ trách
- Có khả năng làm việc độc lập, giải quyết tốt các vấn đề liên quan trong công tác phục vụ đào tạo
- Chủ động thực hiện công việc chuyên nghiệp như: lập kế hoạch, xây dựng quy trình, tổ chức hoạt động…
- Có phẩm chất đạo đức
1.5.5 Chất lượng chương trình đào tạo
Theo Khoản 4, Điều 39, Mục 4 của Luật Giáo dục năm 2005 về giáo dục đại học, mục tiêu đào tạo thạc sĩ là đào tạo những người nắm vững lý thuyết, có trình độ thực hành cao, có khả năng làm việc độc lập và sáng tạo, đồng thời có năng lực nhận diện và giải quyết các vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.
Đồng thời, học viên được trang bị kiến thức chuyên sâu trong một lĩnh vực khoa học nhất định của ngành CNTT và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức để nghiên cứu, qua đó ứng dụng vào các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp Việc nắm vững kiến thức chuyên sâu và khả năng vận dụng thực tiễn giúp sinh viên CNTT triển khai các dự án công nghệ, thực hiện nghiên cứu có giá trị và đóng góp vào sự phát triển của ngành.
Mục tiêu chương trình đào tạo cần được định kỳ rà soát và điều chỉnh theo hướng cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội
Thể hiện tổng thể nội dung giáo dục trong chương trình đào tạo và phân bổ thời lượng hợp lý cho từng nội dung nhằm đáp ứng đúng yêu cầu và mục tiêu khóa học Việc này giúp xác định rõ khung kiến thức, đảm bảo tính logic và đồng bộ giữa các phần, đồng thời tối ưu hóa trải nghiệm học tập và nâng cao hiệu quả của quá trình đào tạo.
Chương trình đào tạo (CTĐT) phải phù hợp với mục tiêu đào tạo, đảm bảo tính hiện đại và hội nhập quốc tế, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành và xã hội CTĐT cần kế thừa kiến thức, kinh nghiệm của người đi trước và bảo đảm khả năng liên thông với chương trình đào tạo ở bậc đại học Với đặc thù của ngành KHMT thuộc khối kỹ thuật, CTĐT nên tăng cường thời lượng thực hành để nâng cao năng lực thực tiễn cho người học.
- Xác định được danh mục các học phần, thời lượng cho từng học phần Mô tả được nội dung và chuẩn đầu ra của học phần
Chương trình đào tạo (CTĐT) thể hiện đầy đủ các yêu cầu tối thiểu về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và nguồn lực tài chính khi triển khai, nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo được duy trì và nâng cao Việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về cơ sở vật chất hiện đại, giảng viên có trình độ chuyên môn cao và nguồn lực tài chính ổn định là nền tảng cho quá trình giảng dạy hiệu quả, an toàn và phù hợp với chuẩn đào tạo CTĐT được thiết kế để cân bằng giữa đầu tư cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ và quản trị nguồn lực, từ đó nâng cao uy tín và hiệu quả của chương trình.
- Thể hiện được phương pháp đánh giá kết quả học tập
Việc xây dựng và đánh giá CTĐT nên được thực hiện bởi đội ngũ gồm các chuyên gia phát triển CTĐT, cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên và đại diện từ các cơ quan, đơn vị sử dụng nguồn nhân lực có kinh nghiệm trong cùng lĩnh vực, nhằm đảm bảo tính nhất quán, phù hợp thực tế và nâng cao chất lượng chương trình.
- Được cập nhật và điều chỉnh trên cơ sở nghiên cứu đánh giá việc thực hiện CTĐT trong thực tế
1.5.6 Chất lượng phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy phù hợp đáp ứng các yêu cầu hiện đại, gồm thích nghi với nội dung đào tạo và tập trung vào phát triển năng lực tư duy, tự học và tự nghiên cứu, đồng thời nâng cao khả năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp của người học Những phương pháp này giúp củng cố tư duy phản biện, kỹ năng phân tích và sáng tạo, kết nối chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, và tạo điều kiện cho người học tự chủ trong quá trình học tập để thích nghi với sự biến đổi của môi trường làm việc.
Tiêu chí để đánh giá chất lượng phương pháp giảng dạy gồm:
- Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực người học
- Sử dụng đa dạng nhiều phương pháp giảng dạy nhằm đem lại hứng thú cho người học
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
- Định kỳ tổ chức họp chuyên môn tại Khoa nhằm đánh giá và phổ biến kinh nghiệm đổi mới phương pháp giảng dạy
1.5.7 Chất lượng quản lý đào tạo
Về kế hoạch đào tạo
Việc quản lý chất lượng kế hoạch đào tạo được đánh giá theo các tiêu chí:
- Có thực hiện đầy đủ kế hoạch đào tạo
- Có thực hiện đầy đủ đề cương chi tiết từng môn học
- Giám sát chặt tiến độ học tập của học viên nhằm đôn đốc, nhắc nhở học viên hoàn thành kế hoạch học tập đúng tiến độ
- Thông báo định kỳ các mốc thời gian đăng ký bảo vệ luận văn trong năm để học viên chủ động sắp xếp đăng ký bảo vệ
- Định kỳ rà soát, liên tục cải tiến chất lượng kế hoạch đào tạo
- Thực hiện đánh giá tiến độ đào tạo, điều chỉnh và có giải pháp thực hiện kế hoạch đào tạo có hiệu quả
Về quản lý lớp học
Việc quản lý lớp học được đánh giá theo các tiêu chí sau:
- Công tác tư vấn hỗ trợ các vấn đề liên quan đến quá trình học tập qua giảng viên phụ trách cố vấn học tập
- Học viên được phổ biến đầy đủ các quy định của Nhà trường liên quan đến đào tạo trình độ thạc sĩ
- Học viên được tạo điều kiện học tập và nghiên cứu khoa học liên quan đến ngành học
Học viên được đảm bảo hưởng đầy đủ các quyền lợi trong suốt quá trình học tập, bao gồm quyền tiếp cận và nhận tài liệu điện tử đầy đủ và được cập nhật liên tục Đồng thời, mọi yêu cầu và đơn từ liên quan đến quá trình học tập được giải quyết nhanh chóng và minh bạch, và học viên được truy cập mạng Internet ổn định để phục vụ cho học tập và nghiên cứu.
1.5.8 Chất lượng cơ sở vật chất
- Đảm bảo đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ và vật tư, máy móc phục vụ cho đào tạo
- Đảm bảo phòng học đủ rộng và thoáng mát đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập
- Hệ thống các phòng chức năng có đủ số lượng, diện tích và sử dụng có hiệu quả
- Cung cấp đầy đủ, giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu giảng dạy và học tập
- Đảm bảo môi trường sư phạm văn minh, an toàn
- Có biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng CSVC đảm bảo chất lượng đào tạo
1.5.9 Chất lượng nghiên cứu khoa học Được thể hiện qua những tiêu chí sau:
- Đăng ký tham gia tuyển chọn và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao
- Sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học công nghệ
- Bồi dưỡng nhân tài về khoa học công nghệ
- Kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ KHCN theo quy định của Luật KHCN, Luật Giáo dục
- Tăng cường các hoạt động sinh hoạt học thuật nhằm phát triển KHCN
- Có nhiều đề tài được công bố và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn
Chất lượng đầu ra của học viên sau khi tốt nghiệp được xác định bởi ba yếu tố chính là kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động, đảm bảo họ có thể đáp ứng nhu cầu thực tiễn của ngành nghề đã chọn Chất lượng đầu ra được đánh giá thông qua các tiêu chí chuẩn hóa theo mục tiêu đào tạo và yêu cầu của ngành, tập trung vào mức độ áp dụng kiến thức, khả năng làm việc hiệu quả và sự chuyên nghiệp của người học trong môi trường làm việc thực tế.
- Bằng cấp có uy tín trong thị trường sử dụng nguồn nhân lực
- Số lượng học viên đăng ký mới chủ yếu do sự giới thiệu từ học viên cũ
- Tiếp tục học tập và nghiên cứu ở bậc cao hơn ở trình độ tiến sĩ tại Trường sau khi tốt nghiệp
Chương này làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo, chia thành hai nhóm chính: yếu tố môi trường bên ngoài và yếu tố bên trong Yếu tố môi trường bên ngoài gồm tình hình thị trường lao động, sự phát triển của nền kinh tế, tiến bộ khoa học – kỹ thuật – công nghệ, các cơ chế và chính sách của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đại học Yếu tố bên trong gồm chất lượng đầu vào, lực lượng lao động bên trong trường, trình độ và thực thi quản lý, phương pháp giảng dạy của giảng viên, hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, cùng hoạt động nghiên cứu khoa học Nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố môi trường và nguồn lực nội tại, chất lượng đào tạo được nâng lên nhờ cải thiện cả chất lượng đầu vào và chất lượng quá trình dạy – học, đồng thời đòi hỏi sự đồng bộ giữa chính sách, quản trị và thực thi trong giáo dục và đào tạo đại học.
Với cơ sở lý luận được xây dựng từ chương 1, nghiên cứu dựa trên nền tảng khoa học để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo, tập trung phân tích các yếu tố nội tại của Trường Đại học Công nghệ Thông tin ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thạc sĩ ngành KHMT Các yếu tố được xem xét gồm chất lượng đầu vào, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy, công tác tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài liệu phục vụ dạy và học, cùng với hoạt động nghiên cứu khoa học Từ phân tích này, nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ KHMT tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin.