CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Đầu tư quốc tế 1.1.1 Khái niệm Theo Giáo trình Đầu tư quốc tế Đại học Ngoại thương, “Đầu tư quốc tế là việc các nhà đầu tư của một nước pháp nhân hoặc cá nhân đưa vốn
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là quá trình các nhà đầu tư từ một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) mang vốn hoặc các hình thức giá trị khác sang nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động liên quan Mục tiêu của đầu tư quốc tế là thu lợi nhuận và đạt các hiệu quả xã hội, thông qua sự hiện diện của vốn nước ngoài và sự liên kết kinh tế giữa các quốc gia.
1.1.2 Phân loại đầu tư quốc tế
Trong đầu tư quốc tế, có nhiều tiêu chí để phân loại nhằm làm rõ tính chất và mức độ phù hợp của từng hình thức đầu tư Các tiêu chí phổ biến bao gồm: theo chủ đầu tư (phân loại dựa trên vai trò của nhà đầu tư nước ngoài hoặc nhà đầu tư trong nước), theo thời hạn đầu tư (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), và theo quan hệ giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư (liên doanh, hợp tác chiến lược hoặc các hình thức hợp tác khác).
Phân loại đầu tư quốc tế theo chủ đầu tư là cách phổ biến nhất để nhận diện bản chất và mục tiêu của dòng vốn ở nước ngoài Theo cách này, đầu tư quốc tế được chia làm hai hình thức chính: đầu tư tư nhân quốc tế và đầu tư phi tư nhân quốc tế Đầu tư tư nhân quốc tế gồm các nguồn vốn từ cá nhân, doanh nghiệp tư nhân hoặc quỹ đầu tư nước ngoài tham gia trực tiếp vào các dự án ở nước ngoài, mang lại động lực tăng trưởng và cơ hội lợi nhuận; còn đầu tư phi tư nhân quốc tế do các tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc các thực thể phi tư nhân khác không thuộc khu vực tư nhân dẫn dắt hoặc phối hợp thực hiện, phản ánh mục tiêu phát triển công và xã hội.
- Đầu tư tư nhân quốc tế bao gồm: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; Đầu tư chứng khoán nước ngoài và Tín dụng tư nhân.
- Đầu tư phi tư nhân quốc tế bao gồm: Hỗ trợ phát triển chính thức và Hỗ trợ chính thức.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đầu tư quốc tế
Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp bao gồm:
- Yếu tố chính phủ: Mở cửa thị trường, các hiệp định thương mại song phương và đa phương, cắt giảm thuế.
- Yếu tố thị trường: Sự phát triển của các phương tiện vận tải và phương tiện thông tin, qui mô cầu lớn hơn thị trường nội địa.
- Yếu tố chi phí: Khai thác lợi thế kinh tế theo qui mô, tiếp cận đến các nguồn yếu tố đầu vào rẻ.
- Yếu tố cạnh tranh: Cạnh tranh nội địa, quốc tế.
Công ty xuyên quốc gia (TNC)
Sự tăng trưởng liên tục về quy mô, cơ cấu tổ chức và phương thức sở hữu của các công ty xuyên quốc gia (TNC) trong thời gian qua đã nảy sinh nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về khái niệm TNC Cơ bản, có hai nhóm quan điểm cơ bản về yếu tố đặc trưng xác định một TNC: một nhóm nhấn mạnh phạm vi hoạt động toàn cầu và mạng lưới sản xuất, tài trợ và thị trường, còn nhóm kia tập trung vào mối quan hệ sở hữu và quyền kiểm soát giữa công ty mẹ và các công ty con ở nước ngoài Những quan điểm này phản ánh các cách nhìn nhận khác nhau về bản chất và vai trò của TNC trong nền kinh tế thế giới.
Nhóm quan điểm thứ nhất nhấn mạnh vai trò hợp tác của TNC, coi đây là công cụ hợp tác sản xuất từ trung tâm ra quyết định chiến lược và đưa một công ty vượt khỏi biên giới quốc gia; trong khuôn khổ này, TNC được hiểu là International Corporation (công ty quốc tế), Global Corporation (công ty toàn cầu), Multinational Corporation – MNC và Supra-national Corporation Những người theo quan điểm này chỉ quan tâm đến mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại – đầu tư quốc tế của TNC và không chú ý đến nguồn gốc tư bản sở hữu hay quốc tịch của công ty, cũng như bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty hay các chi nhánh Các khái niệm về TNC theo quan điểm này khá mở; tiêu biểu là định nghĩa của Cowling và Sugden (1987): “Một công ty xuyên quốc gia là công cụ hợp tác sản xuất từ một trung tâm ra quyết định chiến lược khi việc hợp tác này đem một công ty vượt khỏi các đường biên giới quốc gia” (Peter, 1994), hoặc khái niệm của Peter Dicken: “Một TNC là một công ty có quyền lực để phối hợp và quản lý hoạt động tại nhiều hơn một quốc gia, ngay cả khi công ty này không sở hữu các hoạt động đó” (Peter, 1998).
Quan điểm thứ hai cho rằng quyền sở hữu đối với vốn góp tham gia vào các hoạt động ở nước ngoài là đặc trưng xác định của một TNC Theo quan điểm này, TNC là một công ty có vốn thuộc sở hữu của chủ sở hữu ở một quốc gia nhất định Những người ủng hộ quan điểm này chú ý đến tính chất sở hữu và quốc tịch của vốn: vốn đầu tư và kinh doanh thuộc về ai và ở đâu Chủ tư bản ở một nước cụ thể có công ty mẹ đặt tại nước ấy và thực hiện sản xuất, kinh doanh cả ở trong nước và nước ngoài bằng cách thành lập các công ty con ở nước ngoài, đây là hình thức điển hình của loại hình TNC.
Với quan điểm này, đã có khá nhiều định nghĩa kỹ thuật về các TNC:
Trong thập kỷ 70, UNCTC định nghĩa công ty xuyên quốc gia là một tổ chức kinh doanh gồm nhiều thực thể nằm ở hai hay nhiều nước, không xét đến hình thức pháp lý và lĩnh vực hoạt động, miễn là các thực thể này vận hành theo một hệ thống ra quyết định, một chế độ chính sách và một chế độ chung Qua đó, các thực thể này là những mắt xích của một chế độ sở hữu, chúng ảnh hưởng đến hoạt động của nhau Đặc biệt chúng có chia sẻ một nguồn trí thức, nguồn lực và trách nhiệm trong việc thực hiện mục tiêu cuối cùng.
Trong thập kỷ 80, Liên hiệp quốc đã định nghĩa TNC là một công ty kiểm soát các tài sản như nhà máy, hầm mỏ và các văn phòng hoạt động tại hai hay nhiều quốc gia, một định nghĩa được UNCTAD công bố vào năm 1988.
Trong các báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD từ thập niên 1990, TNC được định nghĩa là các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, bao gồm công ty mẹ và các công ty con ở nước ngoài Công ty mẹ được xem là kiểm soát tài sản của các thực thể kinh tế khác ở nước ngoài, thường thông qua việc nắm giữ một tỷ lệ vốn góp hoặc quyền biểu quyết ở mức tối thiểu Tỷ lệ góp vốn 10% cổ phiếu phổ thông hoặc quyền biểu quyết trong một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, hoặc mức tương đương ở một doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân, thường được xem là ngưỡng để có thể kiểm soát tài sản Do đó, một công ty con được định nghĩa là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân mà một nhà đầu tư cư trú ở nước ngoài nắm giữ tỷ lệ góp vốn cho phép có được lợi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đó (10% đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc mức tương đương đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân) Theo UNCTAD, các công ty con nước ngoài hình thành từ việc công ty mẹ tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài; mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con nước ngoài chính là quan hệ FDI, hay nói cách khác, một doanh nghiệp trở thành TNC khi tiến hành FDI.
Trong tiểu luận này, để thống nhất cách tiếp cận, nhóm tác giả lựa chọn định nghĩa của UNCTAD được nêu trong các báo cáo đầu tư thế giới (WIR): TNC là một công ty tiến hành FDI, bao gồm một công ty mẹ mang quốc tịch nhất định và các công ty con thuộc sở hữu một phần hay toàn bộ hoạt động trong các dự án FDI tại nhiều quốc gia, trong đó công ty mẹ có quyền quản lý hoặc quyền kiểm soát đáng kể đối với các hoạt động của các công ty con.
1.2.2 Chiến lược hoạt động của các TNC
Phân loại theo mức độ hội nhập các chức năng của sản xuất quốc tế:
Chiến lược thành lập các công ty con tự chủ cho phép TNC thành lập các đơn vị độc lập hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế của nước chủ nhà Mối liên kết chủ đạo giữa công ty mẹ và các công ty con nước ngoài là sự kiểm soát thông qua quyền sở hữu; ngoài ra còn có các liên kết như chuyển giao công nghệ và cung cấp vốn dài hạn Các công ty con tự chủ chịu trách nhiệm cho phần lớn chuỗi giá trị của sản phẩm mà chúng quản lý, đồng thời có thể phát triển các mối quan hệ với nhà cung cấp và thầu phụ địa phương để tăng cường hiệu quả hoạt động.
Chiến lược hội nhập đơn giản của nhiều TNC là tham gia sản xuất toàn cầu thông qua outsourcing, với phần hoạt động gia tăng giá trị được thực hiện ở nước chủ nhà và liên kết với các hoạt động ở những nơi khác, chủ yếu ở nước chủ đầu tư Động cơ cơ bản của outsourcing là tận dụng lợi thế địa lý của nước chủ nhà đối với một phần chuỗi giá trị gia tăng, trong khi công ty mẹ kiểm soát hoạt động outsourcing bằng quyền sở hữu đối với công ty con hoặc thông qua các thỏa thuận không góp vốn với các nhà thầu nội địa, như hợp đồng thầu phụ, cho phép TNC tập trung vào một số phần của chuỗi giá trị trong khi nhà thầu phụ chuyên môn hóa ở các phần khác Mức độ và bản chất của các mối liên kết phụ thuộc vào vị trí và mức độ phù hợp của phần sản xuất bên ngoài với chuỗi giá trị của công ty mẹ, và các nhà thầu phụ thường không thể tự chủ mà phải hội nhập vào chuỗi giá trị của công ty mẹ thông qua các liên kết chức năng.
Chiến lược hội nhập phức hợp dựa trên khả năng của công ty trong việc di chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng tới những địa điểm sinh lời nhất; bất kỳ công ty con nào cũng có thể đảm nhận, một mình hoặc cùng với các công ty con khác của tập đoàn, các chức năng của toàn bộ doanh nghiệp Đây là mô hình yêu cầu sẵn sàng phân bổ các hoạt động chức năng ngoài sản xuất như nghiên cứu và triển khai (R&D), mua sắm, tài chính, kế toán và đào tạo tới bất kỳ địa điểm nào có thể thực hiện tốt nhất để thực hiện chiến lược tổng thể của công ty Trong hội nhập phức hợp, có sự hội nhập chức năng đáng kể giữa các quy trình và địa điểm khác nhau, dù không phải mọi yếu tố của chuỗi giá trị đều được tích hợp ở mức độ như nhau.
Phân loại theo phạm vi địa lý của chiến lược sản xuất quốc tế:
Chiến lược đa thị trường nội địa cho phép công ty con tập trung phục vụ thị trường nước chủ nhà, trong khi công ty mẹ nắm quyền kiểm soát nhiều công ty con tại các thị trường khác nhau nhằm đồng bộ hóa hoạt động, tối đa hóa hiệu quả nguồn lực và mở rộng phạm vi hiện diện thương hiệu trên phạm vi nội địa.
Chiến lược khu vực tập trung đặt các công ty con tại nhiều nước chủ nhà trong một khu vực duy nhất, cùng với nhiều công ty khác hoạt động như nhà cung cấp và nhà thầu phụ trong mạng lưới khu vực Việc lắp ráp cuối cùng có thể được thực hiện ở bất kỳ quốc gia nào trong khu vực, nhằm tối ưu hóa hiệu suất chuỗi cung ứng và chi phí sản xuất Thị trường chủ yếu cho sản phẩm nằm trong khu vực này, giúp tăng cường phân phối và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Chiến lược toàn cầu: Các hoạt động trong chuỗi giá trị của các công ty con có thể phối hợp, liên kết với nhau trên phạm vi toàn cầu.
THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA HONDA TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Giới thiệu chung về Honda
Honda là nhà sản xuất động cơ và ô tô hàng đầu của Nhật Bản, với sản lượng hơn 14 triệu chiếc mỗi năm Năm 2019, Honda đứng thứ hai về sản xuất xe tại thị trường Nhật Bản và đứng thứ tư trên thị trường xe ô tô toàn cầu.
Bảng 1: Doanh số các thương hiệu ôtô tại Nhật Bản năm 2019
Hình 1: Số tiền 19 tập đoàn ô tô lớn nhất thế giới kiếm được mỗi giây trong năm 2019
Nền tảng ban đầu của Honda là sản xuất xe máy Đến nay, hãng đã sản xuất được đa dạng các sản phẩm cơ khí như:
- Sản phẩm chính: xe máy, ô tô.
- Sản phẩm mới: thuyền máy, máy bay, robots, máy cắt cỏ, máy bơm nước, pin mặt trời…
Trong thời kỳ hậu chiến tranh thế giới thứ hai, cơ sở hạ tầng Nhật Bản bị tàn phá nặng nề và đất nước bị kiềm chế bởi các thỏa thuận của phe đồng minh Soichiro Honda nhận thấy nhu cầu cấp thiết của người dân là phương tiện di chuyển đơn giản và hiệu quả Năm 1946, ông thành lập Honda Technical Research Institute và đặt cơ sở ban đầu trong một căn nhà nhỏ Sau khi mua lại 500 động cơ dư thừa từ chiến tranh, ông nảy ra ý tưởng gắn động cơ vào xe đạp để biến chúng thành xe đạp máy, một phương tiện di chuyển vừa rẻ vừa hiệu quả Từ xe đạp máy, Honda tiếp tục nghiên cứu và chế tạo xe máy động cơ hai kỳ và sau đó là xe máy động cơ bốn kỳ.
Ngày 24 tháng 9 năm 1948, Soichiro Honda cùng với Takeo Fujisawa thành lập Honda Motor Co Ltd với tổng số vốn ban đầu là 1 triệu Yên, liên kết cả với Viện Nghiên cứu kỹ thuật Honda Từ đây một kỷ nguyên xe gắn máy của Honda bắt đầu Chỉ vài năm sau, động cơ của Honda đã chiếm được 60% thị phần tại Nhật Bản Năm 1949, Honda cho ra đời chiếc xe máy đầu tiên của hãng mang tên “Dream”, đây đồng thời cũng là chiếc xe máy được chế tạo và lắp ráp hoàn toàn tại Nhật Bản Đến năm 1955, Honda trở thành hãng dẫn đầu về sản xuất xe máy tại thị trường Nhật Bản Cuối thập niên 1960, Honda chiếm lĩnh thị trường xe máy thế giới Đến thập niên 1970 công ty trở thành nhà sản xuất xe máy lớn nhất thế giới và từ đó đến nay chưa bao giờ để mất danh hiệu này.
Năm 1963, Honda mở ra một thời kỳ mới khi chế tạo thành công chiếc ô tô đầu tiên và là chiếc ô tô đua thể thao S500 Từ đó Honda vượt qua biên giới Nhật Bản để vươn ra thế giới, khẳng định khả năng sản xuất những sản phẩm đòi hỏi trình độ cao về khoa học và công nghệ như máy bay và robot công nghiệp.
Vào năm 1958, Công ty Honda Mỹ được thành lập, dù thương hiệu Honda đã khẳng định tên tuổi ở Nhật Bản và gặt hái nhiều thành tích tại triển lãm và các cuộc đua Tuy nhiên, tại thị trường Mỹ ban đầu người tiêu dùng ưa chuộng xe hơi to, trong khi các mẫu Honda lúc ấy thiên về thiết kế nhỏ gọn và tiện lợi, nên sự chú ý đến Honda khá hạn chế cho đến năm 1972 khi hoạt động của Honda Mỹ bắt đầu khởi sắc Cuộc khủng hoảng dầu mỏ khiến người Mỹ chuyển hướng sang xe tiết kiệm nhiên liệu và Honda nhanh chóng tung ra mẫu Civic đáp ứng nhu cầu khó tính của thị trường Khi Mỹ ban hành luật yêu cầu lắp bộ chuyển đổi khí thải, giá xe tăng, nhưng Civic đời 1975 với động cơ CVCC (Compound Vortex Controlled Combustion) đã đáp ứng tiêu chuẩn khí thải mà không cần bộ xúc tác, tạo lợi thế cạnh tranh cho Honda Từ đó Honda có chỗ đứng ở một trong những thị trường ô tô hấp dẫn nhất thế giới, mở đường cho thành công tiếp theo và xây dựng nhà máy sản xuất xe hơi ngay tại Mỹ để củng cố vị thế thương hiệu.
Sau khi lấn sân sang thị trường Mỹ, Honda tiếp tục mở rộng ra các thị trường tiềm năng khác như Canada, Úc, Anh và Ấn Độ Với chiến lược cụ thể, rõ ràng và đầu tư bài bản, Honda đã trở thành hãng sản xuất ô tô có dây chuyền chế tạo nhanh nhất thế giới và tiết kiệm nhân công với chỉ 2,05 người sản xuất 1 ô tô Hiện nay, Honda vận hành 65 nhà máy tại 34 quốc gia trên toàn cầu (Lê Thị Hà Phương, Nguyễn Dương Tùng, Võ Thị Bích Ngọc & Triệu Quốc Huy, 2015).
Ngày 06/03/1996, Honda Việt Nam chính thức nhận giấy phép kinh doanh tại thị trường Việt Nam, bắt đầu sự hiện diện của hãng với mẫu xe máy đầu tiên là Super Dream, xuất xưởng ngày 06/12/1997 Sau hơn 20 năm hoạt động, Honda Việt Nam đã từng bước phát triển với 3 nhà máy sản xuất xe máy và 1 nhà máy sản xuất xe hơi, khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường Việt Nam.
Viễn cảnh: Honda trở thành tập đoàn sản xuất ô tô, xe máy và các sản phẩm công nghệ hàng đầu thế giới.
Honda xây dựng một quan điểm toàn cầu với sứ mệnh cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt nhất ở mức giá hợp lý, nhằm đem lại sự hài lòng cho khách hàng trên toàn thế giới.
Chính sách quản lý của Honda:
- Luôn vươn tới bằng tham vọng và sự tươi trẻ.
- Tôn trọng lý thuyết vững chắc, phát triển những ý tưởng mới, và sử dụng thời gian hiệu quả nhất.
- Hứng thú trong công việc và khuyến khích giao tiếp cởi mở.
- Không ngừng phấn đấu cho một qui trình làm việc hài hòa.
- Luôn quan tâm đến giá trị của nghiên cứu và nỗ lực.
Các sản phẩm xe máy của Honda hiện nay khá đa dạng bao gồm: Wave
Các mẫu xe như 110, Air Blade, Wave RS, Wave S, SH, Lead, Click và PCX sử dụng công nghệ phun xăng điện tử, giúp tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện với môi trường Cùng với quá trình phát triển sản phẩm, Honda liên tục mở rộng mạng lưới cửa hàng phân phối và dịch vụ trên hầu hết các thị trường Ở Việt Nam, hệ thống Head của Honda hiện có 437 cửa hàng phân phối và dịch vụ trên toàn quốc do Honda ủy nhiệm, tích hợp các hoạt động bán hàng, phụ tùng, dịch vụ và hướng dẫn lái xe an toàn với trang thiết bị hiện đại và đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề.
Các sản phẩm ôtô Honda trên toàn cầu rất đa dạng, với những mẫu xe nổi tiếng như Civic và CR-V; tại Việt Nam, nhà máy sản xuất ôtô có công suất 10.000 xe/năm đã cho ra đời mẫu xe đầu tiên vào năm 2006 Chỉ sau hơn 3 năm, Honda Việt Nam đã trở thành hãng sản xuất ôtô đứng đầu về mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng tại thị trường Việt Nam, theo kết quả khảo sát do J.D Power châu Á - Thái Bình Dương tiến hành năm 2009.
Ngoài ra, Honda còn cho ra mắt rất nhiều các sản phẩm công nghệ cao, tiêu biểu như Robot Asimo, máy bay Honda Jet…
Tôn trọng con người - Ba niềm vui
Honda coi tôn trọng con người là triết lý nền tảng và cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản, với quan niệm "con người là nguồn gốc của thành công" và cam kết phát triển sự tự do, tính độc đáo, khả năng tư duy, lý luận và sáng tạo, đồng thời mang lại phúc lợi tốt nhất cho nhân viên Bằng việc áp dụng mô hình quản lý tam giác ngược, Honda giúp nhân viên luôn toàn tâm toàn ý với công việc và làm việc vì lợi ích chung của công ty, chứ không chỉ cho lợi ích cá nhân, từ đó hình thành một nền tảng văn hóa làm việc hiệu quả và bền vững cho các công ty Nhật nói chung.
Triết lý '3 niềm vui' của Honda, gồm niềm vui mua hàng, niềm vui bán hàng và niềm vui sáng tạo, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của hãng Ba yếu tố này được xem như động lực cốt lõi, giúp Honda xây dựng và triển khai các kế hoạch, mục tiêu một cách nhất quán và hiệu quả, đồng thời lan tỏa giá trị tích cực đến khách hàng, đối tác và đội ngũ nhân viên.
Slogan: “The Power of Dream”
Ước mơ này tạo động lực cho chúng tôi sáng tạo ra những sản phẩm mang tính đột phá, thúc đẩy sự chuyển động và mang lại lợi ích cho xã hội Honda luôn phấn đấu trở thành công ty được xã hội mong đợi, cam kết mang lại giá trị cho cộng đồng và khách hàng thông qua các giải pháp tiên tiến và bền vững.
Một slogan thành công mang theo thông điệp ấn tượng và khơi gợi trí tưởng tượng của khách hàng về sản phẩm; với Honda, thay vì nói dài dòng về mục tiêu, hãng đã dùng slogan The Power of Dream để truyền đạt ý tưởng ấy Slogan này thể hiện triết lý cốt lõi: tiên phong sáng tạo là yếu tố đi sâu vào tâm trí của mọi nhân viên Honda, từ sản phẩm đến trải nghiệm khách hàng.
Môi trường kinh doanh nội địa tại Việt Nam
2.2.1 Môi trường văn hóa – xã hội
- Tổng dân số: ~ 96 triệu người (2019).
- Tỷ số giới tính: 99,2 nam trên 100 nữ.
- Tỷ lệ tăng dân số: 1,14% (giai đoạn 2009 - 2019).
- Số dân sống ở khu vực thành thị: 33.122.548 người (chiếm 34,4% dân số) Đáng chú ý là gần 88% dân số trong độ tuổi từ 25-59 tham gia lực lượng lao động.
- Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2019: 7,02% Đây là năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt trên 7% kể từ 2011.
- Thu nhập bình quân đầu người: trên 2.800 USD/năm (2019).
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,8%.
- Lạm phát đang được kiềm chế và được kiểm soát ở mức 2,7-2,8% (2019).
- Cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cao: đại lộ Thăng Long, hầm Kim Liên, đường vành đai 3…
- Luôn luôn gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.
- Phương tiện truyền thông được phủ sóng khắp vùng miền, kể cả vùng sâu vùng xa, giúp người dân tiếp cận được những kiến thức văn hóa mới nhất.
- Trình độ văn hóa của người dân đang ngày càng nâng cao.
- Nâng cao trình độ giáo dục, nâng cao tay nghề lao động.
2.2.2 Môi trường công nghệ Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Hệ thống nghiên cứu Công nghệ - Kĩ thuật đang được chú ý và ngày càng được cải tiến cho phù hợp với trình độ công nghệ kĩ thuật nước ngoài.
- Nhà nước đang ngày càng chú trọng vào việc đầu tư Khoa học - Kĩ thuật cao như công nghệ biển, công nghệ vũ trụ
- Công nghệ thông tin ngày càng chứng tỏ bước phát triển phi thường.
- Số người dùng mạng Internet đã vượt ngưỡng 22 triệu.
- Hơn 50% dân số đang dùng điện thoại di động.
Môi trường chính trị và luật pháp tạo nên một khung khác biệt trong môi trường và điều kiện kinh doanh ở mỗi quốc gia.
Môi trường chính trị - pháp lý bao gồm thể chế chính trị, sự ổn định của chính phủ và hệ thống văn bản pháp quy, chính sách, các đạo luật, bộ luật, quy định và hướng dẫn thi hành của từng quốc gia Khi doanh nghiệp tham gia kinh doanh vào một thị trường mới, họ thường tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng hệ thống pháp lý và các chính sách của quốc gia đó để xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp với điều kiện pháp lý và thị trường địa phương.
- Cơ chế điều hành của nước ta hiện nay là chủ trương đường lối theo Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Tình hình chính trị - an ninh ổn định.
- Hệ thống pháp luật ngày càng được sửa đổi phù hợp với nền kinh tế hiện nay.
Việt Nam mở cửa nền kinh tế sau khi gia nhập WTO với các chính sách kinh tế ngày càng phù hợp cho cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào nước ta Nền kinh tế mở và hội nhập thúc đẩy môi trường đầu tư thông thoáng, cải thiện cạnh tranh, thu hút vốn FDI, và đồng thời nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam để tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp – Yamaha:
Yamaha gia nhập thị trường xe máy Việt Nam sau Honda Việt Nam một năm, tận dụng lợi thế quy mô và vốn đầu tư lớn để cạnh tranh quyết liệt và giành thị phần Dù là người đến sau, Yamaha đã chiếm được vị thế tương đối vững chắc nhờ chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và tiếp cận đúng đối tượng khách hàng trẻ Các dòng xe ga của Yamaha được ưa chuộng với thiết kế trẻ trung, sang trọng và giá cả phải chăng từ 16–18 triệu đồng, phù hợp với phụ nữ Việt Nam, tiêu biểu là Mio Amore, Mio Maximo và Mio Classical; đồng thời Nouvo ghi nhận sức hút với nam giới nhờ thiết kế đầu và thân xe mạnh mẽ Bên cạnh xe ga, Yamaha còn cung cấp các mẫu xe số như Jupiter và Sirius, hiện đang được thị trường trẻ ưa chuộng.
Mặc dù Yamaha Việt Nam khó có thể cạnh tranh với Honda Việt Nam về chất lượng như độ bền và tiết kiệm nhiên liệu, hãng vẫn có lợi thế vượt trội ở sự phong phú và đa dạng của chủng loại mẫu mã, đáp ứng tốt các xu hướng thời trang và nhu cầu của người tiêu dùng.
Những sản phẩm xe máy của các hãng Nhật Bản thường được giới trẻ ưa chuộng bởi chất lượng và thiết kế đa dạng Để đáp ứng nhu cầu tăng lên và cạnh tranh khốc liệt trên thị trường châu Á và Việt Nam, Nhật Bản đã thành lập một trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Bangkok, Thái Lan, nhằm nghiên cứu, thiết kế và phát triển các loại xe máy để phân phối tại khu vực này Động thái này cho thấy cạnh tranh không chỉ về chất lượng và giá cả mà còn ở kiểu dáng xe.
Sau một thời gian hoạt động, Yamaha Motor Việt Nam đã nhận diện rõ thế mạnh của mình và đang từng bước khẳng định sức mạnh ấy trên thị trường xe máy Việt Nam Việc xác định đúng lĩnh vực ưu thế giúp hãng đẩy mạnh đầu tư về công nghệ, dịch vụ và mạng lưới phân phối, từ đó nâng cao trải nghiệm khách hàng và tăng thị phần Nhờ chiến lược đồng bộ và sự kiên trì của đội ngũ, Yamaha Motor Việt Nam đang tiếp tục ghi dấu ấn và củng cố vị thế trên thị trường xe máy tại Việt Nam.
Các đối thủ cạnh tranh theo sau – SYM, Suzuki, Piaggo
VMEP, viết tắt của Công ty hữu hạn chế tạo hàng công nghiệp và gia công chế biến hàng xuất khẩu Việt Nam, được thành lập năm 1992 bởi San Yang để đầu tư sản xuất xe máy tại Việt Nam Dự án gồm hai nhà máy đặt tại Hà Tây (miền Bắc) và Đồng Nai (miền Nam), với tổng vốn đầu tư 1,16 tỷ USD và công suất 540.000 xe máy mỗi năm Đây là dự án sản xuất xe máy đầu tiên ở Việt Nam và cũng là dự án lớn nhất ở Việt Nam thuộc loại này.
Ngay từ năm 1996, San Yang Motor Taiwan, thuộc Tập đoàn Chinfon, đã quyết định đột phá bằng một chiến dịch toàn cầu dành cho thương hiệu SYM Nhờ chiến lược mở rộng và chất lượng sản phẩm được công nhận, SYM hiện có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới.
Năm 2002, công ty mẹ San Yang đã đẩy mạnh đầu tư cho dự án sản xuất và lắp ráp động cơ với tổng vốn 15 triệu USD VMEP là đơn vị đầu tiên đưa thiết bị sản xuất động cơ vào Việt Nam, các phân xưởng đầu tiên đi vào hoạt động gồm sản xuất XY lanh, cốt cam, phụ tùng ô tô và khuôn mẫu chính xác Đến nay, VMEP là doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất trong các doanh nghiệp sản xuất xe máy tại Việt Nam, với mức độ nội địa hóa trên 90% ở một số loại xe Sản phẩm mang thương hiệu SYM có hai dòng chính là Cub và Scooter Dòng Cub có các nhãn hiệu Angel, Magic, Star, Amigo, Bonus, Husky và các mẫu khác; dòng Scooter bao gồm Attila, Excel và các mẫu khác.
Năm 2009, SYM chiếm 9% thị phần thị trường xe máy Việt Nam.
SYM phân phối qua hệ thống đại lý trên toàn quốc, tổ chức chương trình khuyến mãi tặng mũ bảo hiểm cho khách hàng và sự kiện kỷ niệm 10 năm thành lập Với chất lượng và uy tín, cùng sự tìm tòi, cải tiến không ngừng và các sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng cao, SYM đang trở thành một trong những nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng và tin tưởng trên thị trường Việt Nam.
Suzuki là một hãng xe lớn của Nhật Bản Năm 1996 công ty Việt NamSuzuki đi vào hoạt động Tháng 9/1996: Việt Nam Suzuki đã sản xuất xe
GN125 là loại xe Suzuki đầu tiên có mặt tại Việt Nam Tháng 10/1996, công ty cho ra đời Viva CD, mẫu Viva đầu tiên ra mắt tại Việt Nam và xây dựng nên hình ảnh thời trang cho xe máy.
Ngoài việc cải tiến các sản phẩm hiện có, Việt Nam Suzuki tiếp tục tung ra thị trường các mẫu xe mới như Shogun R125 (giá 23,5 triệu đồng/xe), Viva 110 phiên bản thường và phiên bản có phanh đĩa, Smash 110 (giá 15,7 triệu đồng/xe) và Revo 110cc, X-Bike, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng.
Với khẩu hiệu Ride the winds of change, Suzuki chấp nhận thách thức trong việc cải tiến công nghệ để mang đến những chiếc xe máy tinh tế và tạo cảm xúc mới cho người dùng Họ thổi luồng gió mới cho cuộc sống bằng những giải pháp công nghệ tối ưu và thiết kế chăm chút, để mỗi chiếc xe máy Suzuki trở thành trải nghiệm đáng nhớ Tại thị trường Việt Nam, những đổi mới này nhận được sự đón nhận của người tiêu dùng, củng cố vị thế của Suzuki như một thương hiệu xe máy tiên tiến và đáng tin cậy ở Việt Nam.
Suzuki vận hành hệ thống đại lý rộng khắp cả nước, với hơn 16 đại lý và trung tâm bảo hành tại Hà Nội nhằm phục vụ khách hàng một cách chu đáo và thuận tiện Hệ thống cửa hàng Suzuki 3S đảm nhiệm toàn bộ dịch vụ gồm bán hàng, dịch vụ hậu mãi và cung cấp phụ tùng chính hãng, tạo nên một hình ảnh thống nhất và đầy sáng tạo trên toàn quốc Các chiến dịch hậu mãi mang tên “Suzuki chăm sóc khách hàng” được tổ chức hàng năm để hỗ trợ dịch vụ bổ sung và thể hiện sự quan tâm đến khách hàng ngay cả sau khi đã mua xe Dịch vụ cũng như các điều lệ bảo hành được thông báo cho khách hàng ngay sau khi mua Suzuki còn tặng balo đựng laptop và áo gió cao cấp khi khách hàng mua các dòng xe như Revo 110c, Hayate… và là nhà tài trợ chính cho giải bóng đá vô địch Đông Nam Á 2008.
Thị trường Honda tại Việt Nam
2.3.1 Thị phần và kết quả kinh doanh
Theo thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), tổng lượng bán hàng của các thành viên VAMM trong năm 2019 đạt 3.254.964 xe, giảm 3,87% so với năm trước Trung bình mỗi ngày có gần 9.000 xe máy được bán ra trên thị trường Đây là tổng lượng bán hàng của năm dành cho nhóm năm thương hiệu chi phối thị trường xe máy Việt Nam gồm Honda, Piaggio, Suzuki, SYM và Yamaha Mặc dù VAMM không công bố lượng bán hàng cụ thể theo từng thương hiệu, các báo cáo kinh doanh cho thấy xu hướng thị trường ở mức tổng thể.
Honda Việt Nam tiếp tục cho thấy vị thế áp đảo trên thị trường xe máy Việt Nam, bỏ xa các đối thủ còn lại Theo báo cáo của Honda Việt Nam, trong năm vừa qua hãng đã tiêu thụ hơn 2,573 triệu xe máy các loại, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước Nhờ vậy, thị phần của Honda đạt 79%, trong khi bốn thương hiệu còn lại chỉ nắm giữ 21% thị phần.
Hình 2: Số lượng xe máy bán ra của Honda Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019
Cũng theo VAMM, doanh thu năm 2020 của Honda Việt Nam được tổng kết như sau:
Đối với lĩnh vực kinh doanh xe máy
Trong năm tài chính 2020, tổng dung lượng thị trường Việt Nam đạt khoảng hơn 3,2 triệu xe, giảm khoảng 3,1% so với kỳ trước Doanh số bán hàng của Honda Việt Nam đạt gần 2,6 triệu xe, tăng 0,5% so với năm tài chính trước.
2019 Thị phần đạt 79,7% Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, tổng giá trị đạt được là hơn 386,7 triệu USD Kết quả này minh chứng cho những nỗ lực không ngừng của toàn thể nhân viên cũng như sự tin tưởng lựa chọn của khách hàng dành cho thương hiệu Trong năm tài chính 2021, Honda Việt Nam dự đoán dung lượng thị trường xe máy sẽ bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 Honda Việt Nam sẽ cố gắng tối ưu doanh số bán hàng và giữ vững thị phần của mình trên thị trường.
Đối với lĩnh vực ô tô
Tổng dung lượng thị trường đạt gần 392.000 xe, trong đó mảng xe du lịch đạt hơn 303.000 xe, tăng 14% so với kỳ trước Tuy nhiên, mức tăng trưởng này chưa thực sự ấn tượng so với các kỳ trước do tác động của một số yếu tố khách quan, đặc biệt là Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tương đối lớn đến tình hình kinh doanh của ngành ô tô trong những tháng cuối cùng của kỳ tài chính Kết quả kinh doanh ô tô của Honda Việt Nam cũng không nằm ngoài tình hình chung của toàn thị trường Kết thúc năm tài chính 2020, doanh số bán hàng ô tô của Honda Việt Nam đạt hơn 29.700 xe, giảm gần 8% so với kỳ trước, tuy nhiên, vẫn nằm trong TOP 3 thương hiệu chiếm thị phần cao nhất trong mảng xe du lịch.
Năm 2019, trên thị trường xe máy Việt Nam có hơn 3,25 triệu xe được bán ra, Honda nắm tới 79% thị phần, bỏ xa các thương hiệu khác như Piaggio, Suzuki, SYM và Yamaha.
2.3.2 Thành tự của Honda Việt Nam
- Mở mới 11 HEAD (Cửa hàng Bán xe và Dịch vụ do Honda ủy nhiệm).
- Mở thêm 26 WSS (Trung tâm Bảo dưỡng và Dịch vụ).
Honda mở hai cửa hàng xe phân khối lớn tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và chính thức phân phối các dòng mô tô Honda nhập khẩu có dung tích động cơ lớn, mang đến cho người yêu xe Việt Nam cơ hội tiếp cận những mẫu xe phân khối lớn chất lượng cao được nhập khẩu trực tiếp từ hãng.
Vào tháng 6 năm 2019, HVN chính thức giới thiệu mẫu xe Brio hoàn toàn mới lần đầu xuất hiện tại thị trường Việt Nam, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong chiến lược ô tô cỡ nhỏ của hãng Mẫu Brio được kỳ vọng mang lại giá trị vượt mong đợi cho khách hàng với ngoại thất thể thao, cao cấp; nội thất tiện nghi, hài hòa; và vận hành vượt trội, êm ái, phù hợp với nhịp sống năng động và nhu cầu di chuyển hàng ngày ở Việt Nam.
Trong vòng một năm có mặt tại thị trường Việt Nam, mẫu ô tô Brio đã khẳng định vị thế khi lọt vào top 5 mẫu xe bán chạy nhất phân khúc A Tính từ tháng 6/2019 đến tháng 3/2020, doanh số tích lũy của Brio đạt trên 3.400 xe, cho thấy sức hút lớn của mẫu xe này trên thị trường Việt Nam.
- Mở thêm 6 đại lý mới, nâng tổng số Đại lý Ôtô Honda trên toàn quốc lên
2.3.3 Các sức ép từ thị trường
Honda Việt Nam khởi công nhà máy ô tô vào tháng 6/2005 và đi vào sản xuất từ tháng 8/2006, với vốn đầu tư 60 triệu USD và công suất thiết kế 10.000 xe mỗi năm Trong suốt 14 năm qua, các mẫu Civic, CR-V và City được sản xuất, lắp ráp tại đây Tuy nhiên, vừa qua hai mẫu Civic và CR-V đã chuyển sang nhập khẩu nguyên chiếc, hiện chỉ còn duy nhất mẫu City thuộc phân khúc sedan.
Xe lắp ráp trong nước ở Việt Nam đang đối mặt với chuỗi cung ứng linh kiện bị gián đoạn do dịch Covid-19 và doanh số bán thấp, khiến sản phẩm lắp ráp khó có lợi so với xe nhập khẩu nguyên chiếc được hưởng thuế 0% So với các đối thủ cùng phân khúc, Honda City đứng ở vị trí thứ 3 nhưng doanh số bán ra thấp hơn hẳn; Toyota Vios vẫn dẫn đầu với khoảng 27.000 xe tiêu thụ mỗi năm Hyundai Accent tăng mạnh từ hơn 12.000 xe năm 2018 lên trên 18.000 xe năm 2019, trong khi Honda City đang thụt lùi Doanh số thấp dẫn tới sản lượng thấp, khiến chi phí sản xuất cao và khó cạnh tranh Hiện xe sản xuất lắp ráp trong nước có chi phí cao hơn xe nhập khẩu nguyên chiếc từ Thái Lan và Indonesia khoảng 10-20% Vì vậy, Công ty Honda Việt Nam cho biết có khả năng sẽ chuyển đổi mô hình kinh doanh từ sản xuất sang nhập khẩu.
Trong những năm gần đây, thị trường xe máy Việt Nam chứng kiến sự gia tăng của nhiều nhà cung cấp với thế mạnh riêng, từng bước khẳng định uy tín và vị thế trên thị trường Sự hình thành của các công ty liên doanh xe máy cho thấy xu hướng đa dạng hóa sản phẩm, khi danh mục xe ngày càng phong phú và đáp ứng tốt nhu cầu người tiêu dùng Trên đấu trường cạnh tranh, Honda Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ chính như Yamaha, Suzuki, SYM và Piaggio, những thương hiệu đang mở rộng sự hiện diện và ảnh hưởng ngày càng lớn trên thị trường xe máy Việt Nam.
Theo thống kê từ Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAM), sau nhiều năm tăng trưởng liên tiếp ở mức khá cao, thị trường xe máy truyền thống tại Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, dù đối mặt với thách thức từ xu hướng chuyển đổi sang xe máy điện, biến động giá nguyên liệu và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các sản phẩm nhập khẩu.
2019 là năm đầu tiên ghi nhận sự giảm doanh số sau khi đạt đỉnh vào năm 2018 với gần 3,4 triệu chiếc được bán ra; sự sụt giảm này cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn điều chỉnh sau chu kỳ tăng trưởng mạnh mẽ, và thậm chí doanh số của năm vừa rồi còn thấp hơn so với năm trước Các con số này phản ánh xu hướng tiêu thụ đi xuống, đặt ra thách thức cho các nhà sản xuất và phân phối, đồng thời cho thấy cần có biện pháp kích thích tiêu dùng để thúc đẩy sự phục hồi và tăng trưởng bền vững của thị trường.
Thời kỳ phát triển hoàng kim của các dòng xe máy dùng động cơ đốt trong đã kết thúc, để lại một thị trường Việt Nam đang ở giai đoạn bão hòa Nguyên nhân là nhu cầu của người dùng ngày càng đa dạng hơn trong việc lựa chọn phương tiện di chuyển, dẫn đến sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng xe máy Trong bối cảnh này, doanh số bán xe máy tại Việt Nam tiếp tục giảm vào năm 2020 do tác động của dịch Covid-19.
Chiến lược đầu tư quốc tế của Honda tại Việt Nam
Bảng 2: Doanh số bán xe máy và ô tô của Honda Việt Nam từ tháng 6/2019 đến tháng 8/2019 Mảng kinh doanh xe máy Mảng kinh doanh ô tô
Tổng sản lượng xuất khẩu
Tổng sản lượng xuất khẩu
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo công bố kết quả kinh doanh của Honda Việt Nam từ tháng 6/2019 đến tháng 8/2019
Trong mảng kinh doanh xe máy, tổng sản lượng xuất khẩu của Honda Việt Nam đã tăng rõ rệt, từ 0 xe CBU vào tháng 6/2019 lên 15.446 xe CBU vào tháng 8/2019, nhưng so với doanh số bán hàng, lượng xe xuất khẩu chỉ chiếm một phần rất nhỏ và đạt đỉnh ở mức 7,25% vào tháng 8/2019 Đối với mảng kinh doanh ô tô, Honda Việt Nam không có hoạt động xuất khẩu ô tô; doanh số bán ô tô đến từ thị trường nội địa hoàn toàn.
Honda Việt Nam hướng tới mục tiêu cung cấp đầy đủ các sản phẩm xe máy và ô tô cho thị trường nội địa Việt Nam, cho thấy sự tập trung của công ty vào nhu cầu của người tiêu dùng trong nước Do đó, Honda Việt Nam đang áp dụng chiến lược đa thị trường nội địa nhằm tối ưu hóa danh mục sản phẩm và gia tăng hiện diện của thương hiệu trên thị trường Việt Nam.
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Honda tại Việt Nam
2.5.1 Chiến lược chi phí thấp
Honda xác định mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh thông qua chi phí sản xuất thấp nhất cho xe máy, bằng cách áp dụng chiến lược đa quốc gia cho sản phẩm Tại Việt Nam, hãng tập trung xây dựng và vận hành nhà máy sản xuất để tận dụng kinh tế theo địa điểm và tối ưu chi phí, từ đó tăng cạnh tranh về giá trên thị trường nội địa và xuất khẩu Đồng thời Honda chú trọng phát triển danh mục sản phẩm đa dạng nhằm phục vụ nhiều khách hàng mục tiêu khác nhau, từ dòng xe phân khúc giá rẻ đến các mẫu xe thuộc phân khúc cao cấp.
Honda Việt Nam đã ghi dấu thành công với các mẫu xe máy giá rẻ nhưng chất lượng khá tốt, điển hình là Super Dream và Wave Alpha Những dòng xe này mang lại sự thỏa mãn cao cho người tiêu dùng.
Chiến lược chi phí thấp mang lại thành công lớn cho Honda Việt Nam, tuy nhiên quá trình thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế Mức giá ở một số sản phẩm vẫn còn cao, vì vậy công ty có thể tiếp tục giảm giá bằng cách nâng cao hiệu quả quản lý chi phí nguồn nhân lực và thu hẹp sự chênh lệch giữa giá đề xuất của hãng và giá thị trường.
2.5.2 Chiến lược sản phẩm khác biệt hóa
Sản phẩm của Honda được biết đến với độ bền bỉ, thiết kế đẹp mắt và động cơ mạnh mẽ, đồng thời tối ưu khả năng tiết kiệm nhiên liệu Với bất kỳ dòng xe nào, Honda luôn đổi mới về kiểu dáng và kỹ thuật để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
Honda Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường với dòng xe máy chất lượng cao như SH và CPX mới nhất, đánh dấu sự đầu tư vào các mẫu xe cao cấp Những sản phẩm này được trang bị nhiều tính năng riêng biệt và nổi trội, nhằm phục vụ nhóm khách hàng có thu nhập cao cũng như giới trẻ đam mê sự thời thượng và đẳng cấp.
Honda Việt Nam xác lập tiêu chí cạnh tranh rất thuyết phục: tiết kiệm nhiên liệu, được hiện thực hóa qua công nghệ phun xăng điện tử FI Việc ra mắt FI giúp tối ưu hiệu suất động cơ và giảm tiêu thụ nhiên liệu, đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng trước tình trạng giá xăng tăng liên tục Nhờ đó, Honda Việt Nam nắm bắt tâm lý khách hàng và góp phần tăng nhanh thị phần trên thị trường xe máy.
Điểm khác biệt công nghệ của Honda đến từ các cải tiến trên nền tảng hiện có chứ không có đột phá đột biến nào Do đó, những cải tiến của Honda nhanh chóng bị các đối thủ sao chép và cho ra mắt các sản phẩm tương tự, khiến lợi thế cạnh tranh dựa trên công nghệ trở nên ngắn ngủi và buộc Honda liên tục đổi mới để duy trì vị thế trên thị trường.
Honda mang tới một dòng xe tay ga phù hợp với phụ nữ, kết hợp tính tiện dụng và thời trang ở mức giá trung bình Các mẫu xe này dễ vận hành vì không yêu cầu côn hay số, có cốp đựng đồ lớn và khả năng chứa đồ quan trọng, đồng thời được thiết kế đa dạng, sang trọng, phù hợp với cá tính của giới trẻ, đặc biệt là nữ giới Vì vậy, xe tay ga Honda ngày càng được nhiều người ưa chuộng Tại Việt Nam, Honda đã giới thiệu lần lượt các mẫu xe tay ga mới như Click, Air Blade (ra mắt 4/2007), Click Play (9/2008) và Lead (12/2008).
Nhận thấy sự gia tăng nhanh chóng của nhu cầu xe tay ga ở phân khúc cao cấp với nhiều yêu cầu khắt khe, công ty đã nhanh chóng giới thiệu các mẫu xe tay ga cao cấp như SH, Spacy và @ Dòng xe này được Honda liên tục cải tiến để đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng về thiết kế, công nghệ và hiệu suất Ngay lập tức, nhu cầu xe tay ga cao cấp tăng vọt, thị trường trở nên nóng sốt, nguồn cung không đủ cầu và giá xe tăng lên nhanh chóng.
Chính sách định giá ở mức cao cho các mẫu xe như SH, Spacy, @, PS khiến doanh số bán hàng thấp và tồn kho tăng lên, gây khó khăn cho việc triển khai và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh.
Ngay từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam, Honda đã chú trọng xây dựng mạng lưới phân phối và hệ thống bán hàng tại các trung tâm thành phố lớn, sau đó dần len lỏi tới các cơ sở ở cấp huyện và thị trấn Honda Việt Nam triển khai hai loại kênh phân phối chính nhằm đảm bảo sự hiện diện và tiếp cận khách hàng ở mọi vùng miền, từ thành phố lớn đến khu vực nông thôn Việc phát triển các kênh phân phối này giúp Honda nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu hóa chu trình phân phối và duy trì sự đồng bộ trên toàn quốc.
Phân phối đặc quyền là phương thức phân phối sản phẩm dành cho các dòng xe máy cao cấp như SH, được cấp cho các cơ sở lớn của Honda ở các thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh Những mẫu xe này không được phân phối cho các đại lý bán lẻ của hãng, giúp Honda quản lý mạng lưới bán hàng tập trung và hiệu quả mà không tốn quá nhiều chi phí kiểm soát địa điểm bán hàng.
Honda thực hiện phân phối rộng rãi bằng cách tìm kiếm nhiều địa điểm bán hàng nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng dễ dàng tiếp cận các sản phẩm do Honda sản xuất Tuy nhiên, khả năng kiểm soát hệ thống bán hàng này trở nên khó khăn khi mạng lưới đại lý ở xa đại lý chính Đối với các đại lý kiểu như vậy, Honda có những ràng buộc và cam kết khi phân phối hàng nhằm đảm bảo sản phẩm được bán đúng với giá do Honda quy định.
Với tiềm lực và kinh nghiệm trên thị trường nội địa Việt Nam, Honda nhanh chóng xây dựng mạng lưới phân phối rộng khắp Với hệ thống HEAD (đại lý phân phối đặc quyền) và những quy định khắt khe, Honda đảm bảo mang lại sản phẩm cùng dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng đạt chuẩn, tạo niềm tin vững chắc cho khách hàng Nhờ mạng lới đại lý rộng khắp, Honda tận dụng lợi thế của một thương hiệu xe máy với nhiều mẫu mã và mức giá khác nhau, từ đó phủ sóng toàn quốc và củng cố vị thế trên thị trường.
Honda Việt Nam là một trong những doanh nghiệp đi đầu tại Việt Nam trong chiến lược này Tuy nhiên, hãng gặp nhiều khó khăn, nổi bật là tình trạng làm giả các đại lý HEAD (đại lý được ủy quyền), khiến Honda phải tốn nhiều tiền bạc và công sức cho các cuộc chiến pháp lý nhằm dẹp bỏ những cửa hàng như vậy.
2.5.5 Chiến lược yểm trợ, đẩy mạnh kích thích tiêu thụ
Đánh giá tác động của chiến lược kinh doanh quốc tế của Honda
Nhìn chung, trong hơn 20 năm có mặt tại Việt Nam, Honda Việt Nam đã điều chỉnh chiến lược kinh doanh cấp công ty theo từng giai đoạn phát triển và loại hình sản phẩm Tổng vốn đầu tư vào Việt Nam đạt khoảng 530 triệu USD, minh chứng cho sự thịnh vượng và cam kết đầu tư dài hạn của hãng Hiện tại, Honda Việt Nam có 6 nhà máy sản xuất, lắp ráp và phụ tùng xe máy cùng 1 nhà máy sản xuất ô tô; mỗi năm sản xuất khoảng 3 triệu xe máy và 10.000 ô tô Năm 2019, doanh số bán hàng ở mảng xe máy đạt 2,56 triệu xe, tăng 7,6% so với năm tài chính 2018 (2,38 triệu xe), với 34 mẫu xe và phiên bản mới được ra mắt, đồng thời mở thêm 21 HEAD (cửa hàng bán xe và dịch vụ do Honda ủy nhiệm), 10 WSS mới (trung tâm bảo dưỡng và dịch vụ) và 1 cửa hàng Honda Moto tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Honda hoạt động tại Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng sản phẩm chủ lực vẫn là ô tô và xe máy Để kinh doanh hiệu quả trên thị trường Việt Nam, Honda cần triển khai và phối hợp đồng bộ nhiều chiến lược từ marketing, phân phối đến dịch vụ hậu mãi, đồng thời mở rộng mạng lưới đại lý và tối ưu hóa chuỗi cung ứng Việc kết hợp giữa đổi mới sản phẩm, trải nghiệm khách hàng tốt và tận dụng các xu hướng công nghệ xanh sẽ giúp Honda nâng cao nhận diện thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường Việt Nam.
2.6.1 Chiến lược chi phí thấp
Giai đoạn 1998-2000 là giai đoạn khó khăn nhất với Honda tại Việt Nam khi hàng loạt thương hiệu xe máy Trung Quốc tràn vào thị trường và chiếm lĩnh phân khúc nông thôn cùng khách hàng thu nhập thấp Loncin và Lifan nổi lên như hai thương hiệu mở đường, thâm nhập mạnh nhờ mức giá cạnh tranh và mạng lưới phân phối rộng khắp Sự xuất hiện của Loncin và Lifan đã thay đổi cán cân cạnh tranh, buộc Honda phải điều chỉnh chiến lược giá, mẫu mã và dịch vụ sau bán hàng để duy trì thị phần Những năm ấy cho thấy tác động của các thương hiệu xe máy Trung Quốc tại thị trường Việt Nam và sự cần thiết của Honda trong việc thích nghi để vượt khó.
Vào thời điểm ấy, giá bán các mẫu xe Honda, Suzuki và Yamaha dao động từ 20–30 triệu đồng, có mẫu còn ở mức cao hơn, khiến thị trường xe máy Việt Nam chứng kiến một cú sốc thực sự trước sự xuất hiện của xe “Tàu” Đến nay, nhiều người từng mua và dùng xe Trung Quốc vẫn thừa nhận rằng chất lượng xe Trung Quốc thời ấy không thua kém các xe Honda chính hiệu; thiết kế của các mẫu xe Trung Quốc có sự tương đồng với Honda Wave hay Dream nhưng với giá chỉ khoảng 5–8 triệu đồng Tiếp theo sau đó là các mẫu của Lifan, thậm chí có giá thấp hơn, chỉ nhỉnh trên mức 10 triệu đồng.
Với vị thế là nhà sản xuất dẫn đầu thị phần và lợi thế về nguồn lực cùng công nghệ, liên doanh Nhật Bản đã gia nhập thị trường xe máy giá rẻ bằng dòng sản phẩm đầu tiên Wave Alpha, với mức giá khởi điểm rất cạnh tranh Wave Alpha mang tới lựa chọn xe máy giá rẻ cho người tiêu dùng Việt Nam và đánh dấu tham vọng mở rộng quy mô sản xuất cũng như áp dụng công nghệ tiên tiến của liên doanh này.
Với mức giá từ 14 đến 17 triệu đồng một chiếc xe, Honda đã dần lấy lại thị phần nhờ giảm chi phí sản xuất Tuy nhiên, mức giá này vẫn còn cao so với người lao động có thu nhập thấp Năm 2000, khi mức thu nhập tối thiểu của người dân chỉ 180.000 đồng/tháng và không chi tiêu bất cứ khoản nào, họ phải mất 7 năm để có thể mua được một chiếc xe Honda Hiện nay, với mức lương tối thiểu khoảng 3-4 triệu đồng/tháng tùy vào từng vùng, với mức giá hiện tại khoảng 17-18 triệu thì người dân chỉ mất khoảng 6 tháng là có thể mua được một chiếc xe.
Nhờ sự tham gia của Honda, thị trường xe máy Việt Nam đã hình thành một phân khúc giá rẻ thực sự và kéo theo sự xuất hiện của nhiều hãng xe giá rẻ khác như SYM, CPI và Yamaha, giúp người dân Việt Nam có thể tiếp cận những chiếc xe có giá thấp hơn Nhiều mẫu xe của Honda Việt Nam đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 90%, và với thị trường tiêu thụ khoảng 3 triệu xe mỗi năm, mức nội địa hóa cao như vậy đồng nghĩa với giá xe máy ngày càng rẻ.
2.6.2 Chiến lược khác biệt hóa
Trước sự cạnh tranh từ các sản phẩm Trung Quốc, khi mà mẫu mã dễ bắt chước, Honda cần tập trung vào công nghệ để khác biệt hóa Các công nghệ nổi bật như công nghệ phun xăng điện tử PGI và hệ thống PCX với tính năng "xe dừng, động cơ ngừng theo" có thể được áp dụng rộng rãi trên các dòng xe nhằm nâng cao hiệu suất, tiết kiệm nhiên liệu và cải thiện trải nghiệm người dùng Việc triển khai những khác biệt công nghệ này không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn giúp Honda tăng doanh thu thông qua tăng doanh số bán xe được cải thiện.
Việc ra mắt phân khúc xe dành cho khách hàng nữ với thiết kế tiện lợi đáp ứng nhu cầu sử dụng đa dạng, từ thiết kế nhỏ gọn cho di chuyển hàng ngày đến cốp xe lớn có thể chứa nhiều đồ dùng Tháng 9/2020, Vision đã trở thành mẫu xe ga bán chạy nhất của Honda với doanh số 43.014 chiếc, chiếm 25% thị phần xe máy.
Bên cạnh phân khúc xe tầm trung, Honda còn ra mắt các dòng xe cao cấp như SH, Spacy và các mẫu tương tự, cạnh tranh trực tiếp với Piaggio Với thương hiệu mạnh và độ tin cậy cao, Honda có mức tiêu thụ nhiên liệu ở mức hợp lý, nhưng thiết kế chưa thực sự đột phá Trong khi Piaggio gặp phải các vấn đề như tiêu thụ nhiên liệu cao hơn và độ tin cậy chưa tốt, thì bù lại là thiết kế thời trang, hiện đại và cá tính, khiến người tiêu dùng có thể đánh đổi một số yếu tố để có một mẫu xe dáng đẹp Do đó, ở phân khúc xe cao cấp, Honda cần đổi mới thiết kế để tạo sự khác biệt và nổi bật hơn.
Ngoài hai phân khúc chủ lực, Honda có thể mở rộng chiến lược trọng tâm vào một số phân khúc khác tiềm năng như xe phân khối lớn và xe thể thao Những phân khúc này đang cho thấy tiềm năng tăng trưởng, đồng thời các hãng như Suzuki và SYM vẫn chưa có sản phẩm tương ứng, mở cơ hội cho Honda chiếm lĩnh thị phần và tối ưu hóa danh mục sản phẩm.
Honda phân phối qua hệ thống HEAD, tuy nhiên các cửa hàng này chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn khiến người dân ở vùng nông thôn gặp khó khăn trong việc tiếp cận sản phẩm và dịch vụ chính hãng Để nâng cao trải nghiệm người dùng và mở rộng thị phần, Honda cần nỗ lực mở rộng mạng lưới, tối ưu hóa kênh phân phối tới nông thôn và cải thiện việc tìm kiếm sản phẩm, đồng thời đẩy mạnh chăm sóc khách hàng và cung cấp dịch vụ sửa chữa, bảo hành thuận tiện hơn ở những khu vực này.
Xây dựng hình ảnh thương hiệu Honda trong tâm trí khách hàng giúp định vị thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ Việc tiếp cận gần gũi với khách hàng ở từng khu vực cho phép Honda hiểu sâu nhu cầu và thị hiếu địa phương, từ đó đưa ra những cải tiến sản phẩm và dịch vụ phù hợp hơn nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tăng doanh số.
2.6.5 Chiến lược yểm trợ, đẩy mạnh kích thích tiêu thụ
Honda là một thương hiệu có chiến lược truyền thông quảng cáo mạnh mẽ với nhiều chiến dịch đa kênh Trên các tuyến đường giao thông, quảng cáo Honda xuất hiện rầm rộ cho các dòng sản phẩm mới và cả các tuyên truyền về an toàn giao thông, cho thấy sự đầu tư lớn vào hình ảnh thương hiệu Quảng cáo truyền hình (TVC) được xem là thế mạnh của Honda tại Việt Nam, với chuỗi TVC dày đặc và được hãng chăm chút nhằm đánh vào sức sống trẻ của người Việt Nam.
Honda hợp tác với đài truyền hình Việt Nam cho ra mắt serie chương trình “Tôi yêu Việt Nam” nhằm mục đích nâng cao nhận thức an toàn giao thông cho người Việt Chương trình được truyền thông mạnh mẽ trên cả truyền hình và Internet với phạm vi phủ sóng toàn quốc, giúp tăng nhận diện thương hiệu và xây dựng hình ảnh một thương hiệu sạch Đây là một phần chiến lược marketing của Honda nhằm tạo thiện cảm và tăng độ tin cậy từ khách hàng, in sâu vào tiềm thức người tiêu dùng Kết quả thể hiện rõ qua doanh số và thị phần xe máy đạt hơn 60% mỗi năm, cho thấy chiến lược này có tác động tích cực tới vị thế của Honda tại thị trường Việt Nam.
2.6.6 Chiến lược chuyển đổi mô hình từ sản xuất sang nhập khẩu