LÝ THUYẾT Câu 1 Cấu trúc của thị trường tài chính Các loại hàng hoá của thị trường tài chính Tài chính cấu trúc của thị trường tài chính 1 Tài chính hoạt động tài chính Tài chính là quỹ tiền tệ tậ. b. Hàng hóa của thị trường chứng khoán Thị trường giao dịch mua bán các công cụ tài chính gọi là thị trường chứng khoán nói chung (TTCK) TTCK trong nền kinh hiện đại là được hiểu là thị trường giao dịch mua bán các công cụ tài chính trung, dài hạn. Ở thị trường chứng khoán, hàng hóa của thị trường là các loại chứng khoán. Nhìn chung ngta phân chia: • Tín dụng cầm cố (các khoản cho vay mua bất động sản dùng tài sản mua đó thế chấp) . Ví dụ BMS • Trái phiếu (văn tự nợ của chính phủ, của công ty) • Cổ phiếu (giấy chứng nhận quyền sở hữu vốn cổ phần) • Chứng chỉ quỹ đầu tư (giấy xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư do công ty quản lý quỹ phát hành)
Trang 1LÝ THUYẾT
Câu 1: Cấu trúc của thị trường tài chính Các loại hàng hoá của thị trường tài chính
Tài chính & cấu trúc của thị trường tài chính
1 Tài chính & hoạt động tài chính
- Tài chính là quỹ tiền tệ tập trung, hoạt động tài chính là hoạt động tiền tệ nói chung
Gồm hoạt động của: Các ngân hàng thương mại, Các tổ chức tài chính, Các hợp tác xã tíndụng, Các công ty bảo hiểm Đây là các hoạt động hình thành phân phối quỹ tiền tệ
- Đường hướng & giải pháp chung của chính sách tài chính quốc gia là ổn định giá cả,kiểm soát lạm phát, tạo vốn cho nền kinh tế, giải quyết quan hệ giữa tích luỹ & tiêu dùng
- Giải pháp:
o Giải quyết tốt thu - chi ngân sách (chính sách tài khóa)
o Thiết lập & hoàn thiện thị trường tài chính - (đặc biệt là thiết lập và hoàn thiện thị trường chứng khoán)
2 Thị trường tài chính & các hàng hoá của nó
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ & thị trường vốn
2.1 Thị trường tiền tệ
* Thị trường tiền tệ gồm: Thị trường tin dụng ngắn hạn và thị trường Mua - Bán các cụ
tài chính ngắn hạn
Thị trường tín dụng ngắn hạn gồm:
Thị trường tín dụng (vay & cho vay) ngắn hạn
Thị trường liên ngân hàng (tín dụng giữa các ngân hàng)
Thị trường ngoại hối (mua, bán, vay & cho vay ngoại tệ)
Thị trường mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn gồm:
Tín phiếu kho bạc (văn tự nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc phát hành) với
các đặc điểm:
Phát hành theo kỳ (3, 6, 9 tháng)
Trang 2 Z<Z’ thuộc các văn tự nợ khác
An toàn, tính thanh khoản (lỏng) cao!
Thương phiếu (giấy nhận nợ & cam kết trả nợ) gồm:
Lệnh phiếu (giấy nhận nợ của bên mua)
Hối phiếu (giấy yêu cầu trả nợ của bên bản)
Chứng chỉ lưu kho (giấy cam kết giao hàng)
Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (Chứng chỉ vay nợ của ngân hàng
có thể mua, bản khi chưa đảo hạn)
Chấp phiếu ngân hàng (giấy do chủ thể có tài khoản ở ngân hàng phát hành mà
người nắm giữ ca thể thanh toán, chiết khấu khi cần)
* Đặc điểm thị trường tiền tệ:
Thời gian đảo hạn < 1 năm
Tính thanh khoản cao (lỏng)
Rủi ro thấp
Tương đối ổn định
2.2 Thị trường vốn
TT vốn gồm:
Thị trường tín dụng trung, dài hạn
TT mua bán các công cụ tài chính trung, dài hạn
(Thời hạn >1 năm, thanh khoản thấp, rủi ro cao, z’ cao)
Các công cụ tài chính trung & dài hạn:
Các khoản tín dụng thương mại trung, dài hạn
Tín dụng cầm cố (các khoản cho vay mua bất động sản & dùng tài sản mua đó thếchấp) Ví dụ BMS
Trái phiếu (văn tự nợ của chính phủ, của công ty)
Cổ phiếu (giấy chứng nhận quyền sở hữu vốn cổ phần)
Chứng chỉ quỹ đầu tư (giấy xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư do công tyquản lý quỹ phát hành)
Thị trường giao dịch mua bán các công cụ tài chính gọi là thị trường chứng khoánnói chung (TTCK)
TTCK trong nền kinh hiện đại là được hiểu là thị trường giao dịch mua bán cáccông cụ tài chính trung, dài hạn
Trang 3Câu 2: Thị trường chứng khoán và hàng hóa của thị trường chứng khoán
a Thị trường chứng khoán
- Hình thành và phát triển:
Tiền thân của TTCK là các chợ & Hội chợ, là nơi gặp gỡ trao đổi thông tin giữa cácthương nhân Nơi giao dịch&kí kết hợp đồng mua, bán các hàng hóa không mang ra chợvẫn xác định được lượng, chất của hàng hóa Nơi kí kết hợp đồng giữa những người môigiới, các hãng thương mại thâu tóm được cung cầu
VD: XV ở Bruges (Bỉ); XVI & XVII ở Balilon (Ai Cập), Hà Lan,
Phiên chợ đầu tiên họp tại lữ điểm của gia đình lãnh chúa Vanber (1453) ở Bruges, vớibiển hiệu “Bourse” (Mậu dịch thị trường) hình ba túi da
Và Bourse thành tên chung chỉ mọi nơi gặp gỡ của các thương gia để trao đổi thông tin,giao dịch ký kết các hợp đồng mua bán (= Sở chứng khoán)
Lúc đầu chỉ là các hợp đồng M, B hàng hóa, sau chuyển sang hợp đồng M,B các giấy tờ
có giá gọi là sở giao dịch chứng khoán tài sản (SGDCK)
SGDCK đầu tiên ở Anh ( giữa XVI); Đức, Mỹ (cuối XVIII); Thụy Sỹ (giữa XIX); Nhật(cuối XIX)
Thời kỳ hưng thịnh của SGDCK là 1875-1913
Trang 4Ăng ghen cho biết, “vào năm 1865 SCK vẫn là yếu tố bậc 2 của CNTB khối lượng cácgiấy tờ có giá chưa lớn lắm chỉ sau khủng hoảng 1864 với sự xuất hiện các tập đoàn tưbản thì khối lượng các giấy tờ có giá và việc mua bán các giấy tờ đó mới phát triển thựcsự” !!
=>SGDCK chỉ trở thành thị trường thực sự khi xuất hiện các trái phiếu & Cổ phiếu củacác công ty!
=>Về hình thức, TTCK là nơi giao dịch (SGD) ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán cácgiấy tờ có giá (chứng khoán) giữa những người môi giới
- Khái niệm:
Hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán và thị trường vốn là một, đều làthị trường tư bản, cung cấp vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp Tuy nhiên việc đồngnhất hai thị trường này đã bỏ qua tính thanh khoản của các công cụ huy động vốn (cổphiếu, trái phiếu, vay, thuê mua, )
+ Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: “Thị trường chứng khoán đượcđặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một” Thị trường chứng khoán
và thị trường vốn là khác nhau, trong đô thị trường chứng khoán chỉ giao dịch mua báncác công cụ tài chính trung và dài hạn như Trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếucông ty
+ Quan điểm thứ ba lại cho rằng: “Thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu", hay lànơi mua bán các cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn Quan điểm nàyxuất phát từ việc xem xét mức độ tác động của thị trường tới nền kinh tế khi có biến độngthì cổ phiếu ảnh hưởng mạnh hơn
Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong từng điều
kiện lịch sử nhất định Tuy nhiên, thị trường chứng khoản được hiểu đơn giản là nơi trao đổi, mua bán các chúng khoản hay các giấy tờ có giả Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ổn định trước.
- Vai trò:
Vai trò quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và hiệu quả Các quy định trên thị trườngbuộc các doanh nghiệp khi tham gia phải công bố thông tin, báo cáo tài chính, Nhờ đócác nhà đầu tư có thể phân tích, định giá chứng khoán
Thứ ba, thị trường chứng khoán góp phần thúc đẩy tái phân phối công bằng thông quaviệc buộc các tập đoàn gia đình phát hành chứng khoán ra công chúng, giải tỏa sự tập
Trang 5trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn kinh tế song vẫn tập trung vốn cho phát triểnkinh tế
Thứ tư, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý.Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhucầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo
Thứ năm, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinhdoanh trong tương lai Sự hình thành giá chứng khoán của một doanh nghiệp trên thịtrường chứng khoán cũng đồng nghĩa với việc đánh giá thực trạng hoạt động của doanhnghiệp đó trong hiện tại và dự đoán tương lai
b Hàng hóa của thị trường chứng khoán
Thị trường giao dịch mua bán các công cụ tài chính gọi là thị trường chứng khoán nóichung (TTCK)
TTCK trong nền kinh hiện đại là được hiểu là thị trường giao dịch mua bán các công cụtài chính trung, dài hạn
Ở thị trường chứng khoán, hàng hóa của thị trường là các loại chứng khoán Nhìn chungngta phân chia:
• Tín dụng cầm cố (các khoản cho vay mua bất động sản & dùng tài sản mua đóthế chấp) Ví dụ BMS
• Trái phiếu (văn tự nợ của chính phủ, của công ty)
• Cổ phiếu (giấy chứng nhận quyền sở hữu vốn cổ phần)
• Chứng chỉ quỹ đầu tư (giấy xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư do công
ty quản lý quỹ phát hành)
Câu 3: Bản chất, hình thức, nội dung và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán?
Về bản chất: TTCK là thị trường Mua-Bán quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn (mua
bán quyền sử dụng và quyền sở hữu tư bản)
Về hình thức: TTCK là nơi giao dịch (SGD) ký kết thực hiện hợp đồng mua bán các
giấy tờ có giá (Mua-Bán chứng khoán) giữa những người môi giới…
Về nội dung: lúc đầu thuần tuý là thị trường về vốn (Mua-Bán các văn tự nợ), về sau
phát triển thành thị trường đầu tư (Mua-Bán cổ phiếu là chủ yếu)
Trang 6 Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc công khai : các hoạt động trên thị trường chứng khoán luôn đảm bảo
tính công khai Đồng thời, Sở giao dịch chứng khoán sẽ công bố những thông tin
về tình hình giao dịch chứng khoán một cách công khai trên các sàn Các tổ chứcniêm yết theo quy định cũng công bố một cách khách quan về thông tin tài chínhđịnh kỳ hàng năm của công ty, các rủi ro xảy ra bất thường đối với các công tychứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu của giác đốc và các cổ đông Thông tin về chứngkhoán phải chính xác, kịp thời, dễ tiếp cận; phải công bố trên các phương tiệnthông tin đại chúng
Do chứng khoán là hàng hoá trừu tượng…
Nhận biết dựa vào thông tin
Hoạt động của TTCK thuộc thông tin
Nguyên tắc trung gian : Mua, bán chứng khoán phải qua trung gian, qua bảo lãnh
phát hành và qua nghiệp vụ môi giới Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứngkhoán trên TTCK đều được thực hiện thông qua các trung gian hay còn được gọi
la các nhà môi giới, đó là các công ty chứng khoán Các nhà môi giới thực hiệngiao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng Ngoài ra nhà môi giới còn
có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàngtrong việc đầu tư Theo nguyên tắc trung gian trên thị trường sơ cấp, các NĐTkhông trực tiếp thoả thuận với nhau để mua bán chứng khoán Các NĐT thườngkhông mua trực tiếp của người phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành.Trên thị trường thứ cấp, họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặtlệnh Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh
Vì giao dịch chứng khoán mang tính nghiệp vụ
Do tầm quan trọng của hàng hoá chứng khoán
Trang 7 Nguyên tắc đấu giá : giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa
các lệnh mua và các lệnh bán Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều khôngthể can thiệp vào việc xác định giá này
Đảm bảo nguyên tắc giá cạnh tranh…
Đảm bảo giá đúng quan hệ cung cầu thực tế…
Theo thứ tự ưu tiên về giá, về thời gian, về lượng
Trên TTCK thường tồn tại các hình thức đấu giá sau:
Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và
trực tiếp đấu giá thông qua người trung gian tại quầy giao dịch để thươnglượng giá
Đấu giá gián tiếp là hình thức đấu giá mà các nhà môi giới chứng khoán
không trực tiếp gặp nhau mà việc thương lượng giá được thực hiện gián tiếpthông qua hệ thống điện thoại và mạng lưới máy tính
Đấu giá tự động là hình thức đấu giá qua hệ thống mạng máy tính nối giữa
máy chủ của Sở giao dịch với hệ thống máy tính của các công ty chứngkhoán thành viên Các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào hệthống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xácđịnh mức giá sao cho tại mức giá nay chứng khoán giao dịch với khối lượngcao nhất
Đấu giá định kỳ là hình thức đấu giá trong đó các giao dịch chứng khoán tại
một mức giá duy nhất bằng cách tập hợp tất cả các đơn đặt hàng mua và bántrong một khoảng thời gian nhất định Đấu giá định kỳ là phương thức xácđịnh mức giá cân bằng cung và cầu
Trang 8 Đấu giá liên tục là hình thức đấu giá trong đó việc mua bán chứng khoán
được tiến hành liên tục bằng cách phối hợp các đơn đặt hàng của khách hàngngay khi có các đơn đặt hàng có thể phối hợp được
Câu 4: Chứng khoán, bản chất của chứng khoán
1 CK và các loại CK:
Khởi đầu, CK là những giấy tờ có giá (giấy tờ có giá là những giấy tờ liên quanđến quyền sở hữu, mà nếu không có giấy tờ đó thì quyền sở hữu không được thựchiện) VD: CK tài sản
Ngày nay, quyền sở hữu còn được xác nhận bằng ghi sổ, bằng dữ liệu điện tử Chủ yếu
là bút toán ghi sổ
VN: “CK là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đốivới tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành CK được thể hiện dưới hình thứcchứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử”
Lúc đầu CK chỉ là các văn tự nợ (trái khoán): Trái phiếu chính phủ, Tin phiếu, các
chứng chỉ tiền gửi, chứng chỉ tiền vay có thể chuyển đổi, trái phiếu công ty (nguồn gốc từ tín dụng)
Khi tín dụng phát triển đến một trình độ nhất định thì xuất hiện chứng khoán
Ví dụ:
Khi A vay B 50.000đ thì không cần giấy tờ
Khi A vay B 500.000 thì phải cần giấy tờ vì thế nên CK xuất hiện
Sự xuất hiện của công ty cổ phần đưa đến sự ra đời loại CK cơ bản, và chủ yếu đó
-là cổ phiếu của các công ty (chứng chỉ đầu tư ) (nguồn gốc từ công ty - cổ phần)
Đây là dấu hiệu của độc quyền, xuất hiện cuối TK XIX
Các CK phải sinh (nguồn gốc từ mua bán chứng khoán cơ bản)
2 Bản chất của CK
Là bằng chứng về quyền sở hữu vốn và tài sản, CK chỉ là tước hiệu (ký hiệu) của
vốn, cửa tài sản; không phải là vốn thật, không phải là tài sản thật (CK là vốn giả, tài sản giả; nó không có giá trị)
CK xuất hiện là do sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn.Người sở hữu vốn giữ quyền sở hữu bằng giữ CK (giữ vốn giả), người sử dụng vốngiữ vốn thật
Câu 4 chỉ đến phía trên nhưng tui viết thêm đoạn bản chất giá CK mn đọc qua lỡ lại vào nha ~.~
* Vậy tại sao người ta lại mua, bán CK? Tại sao CK lại có giá?
Trang 9- Giá trị hàng hóa là hao phí lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa, được đo bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết để làm ra hàng hóa T-H-T’
- Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Nên hàng hóa muốn có giá cả phải có giá trị.
Mua bán CK (trừ mua bán CK phát hành lần đầu) là mua bản quyền sử hữu vốn, người tamua bản quyền sở hữu vốn là vì quyền sở hữu vốn mang thu nhập
CK không có giá trị (vốn giả) nhưng lại có giả cả là vì CK mang lại thu nhập, giá CKkhoán về bản chất chỉ là vốn hóa (tư bản hóa) khoản thu nhập mà CK mang lại và phụthuộc vào khoản thu nhập đó
CK (vốn giả hay giá trị giả) lại mang lại thu nhập, hay chứng khoán là loại tư bảngiả - Đó là bản chất của CK
Vì CK được mua bán; nên CK trở thành hàng hóa Và (cũng giống như đất đai) CK làhàng hóa không có giá trị nhưng lại có giá cả
Câu 5: Các loại chứng khoán cơ bản
Để có thị trường, điều đầu tiên là phải có hàng hóa và sự buôn bán hàng hóa Tuy nhiên,mỗi loại thị trường có những loại hàng hóa giao dịch riêng Ở thị trường chứng khoán,hàng hóa của thị trường là các loại chứng khoán Nhìn chung, người ta phân biệt chứngkhoán thành bốn nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư vào chứngkhoán phái sinh
1 Cổ phiếu
Cổ phiếu chính là sản phẩm riêng có của công ty cổ phần Khi một công ty được thànhlập, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Một người mua cổphần gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy xác nhận sở hữu cổ phần gọi là cổphiếu Cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổphần Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty tương ứng với số lượng cổ phiếu mà cổđông nắm giữ Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn
Thông thường ở các nước khi xem xét cổ phiếu của một công ty cổ phần phải người ta có
sự phân biệt cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổphiếu đang lưu hành
- Cổ phiếu được phép phát hành là khi một công ty cổ phần được thành lập thì được phépphát hành cổ phiếu để huy động vốn Nhưng luật pháp của các nước quy định công typhải đăng ký tổng số cổ phiếu của công ty và phải ghi trong điều lệ công ty và được gọi
là cổ phiếu được phép phát hành hay cổ phiếu đăng ký Như vậy, cổ phiếu được phépphát hành là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty có thể phát hành từ lúc bắt đầuthành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động Trường hợp cần có sự thay đổi sốlượng cổ phiếu được phép phát hành thì phải được đa số cổ đông bỏ phiếu tán thành vàphải sửa đổi điều lệ công ty
Trang 10- Cổ phiếu phát hành là số cổ phiếu của công ty đã phát hành ra người đầu tư, nó nhỏ hơnhoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành
- Cổ phiếu quỹ là loại cổ phiếu của công ty đã phát hành ra nhưng với những lý do nhấtđịnh công ty bỏ tiền ra mua lại một số cổ phiếu của chính công ty mình Số cổ phiếu này
có thể được công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra, nhưng cũng có nước,luật pháp quy định số cổ phiếu mà công ty đã mua lại không được bán ra mà phải hủy bỏ.Việc công ty mua lại cổ phiếu của chính công ty mình phải tuân thủ theo những quy địnhcủa pháp luật Cổ phiếu quỹ không được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không
có quyền bỏ phiếu
- Cổ phiếu đang lưu hành là cổ phiếu đã phát hành và đang được các cổ đông nắm giữ Số
cổ phiếu đang lưu hành được xác định như sau:
số cổ phiếu đang lưu hành = số cổ phiếu đã phát hành - số cổ phiếu quỹ
Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta sẽxác định cụ thể cho từng loại một Số cổ phiếu thường đang lưu hành là căn cứ quantrọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty Dựa vào hình thức cổ phiếu, người ta cóthể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vô danh
- Cổ phiếu ghi danh là cổ phiếu có ghi tên người sử hữu trên tờ cổ phiếu Cổ phiếu ghidanh có nhược điểm là việc chuyển nhượng rất phức tạp, khi muốn chuyển nhượng chongười khác thông thường phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được hội đồng quảntrị của công ty cho phép
- Cổ phiếu vô danh là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu Cổ phiếu vô danh được tự domua bán chuyển nhượng mà không cần phải có thủ tục pháp lý
Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt cổ phiếuthường và cổ phiếu ưu đãi Đây là cách phân loại phổ biến nhất Khi nói đến cổ phiếu củamột công ty, người ta thường nói đến cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữucủa cổ đông đối với công ty và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợithông thường trong công ty
- Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sử hữu trong một công ty, đồng thời chophép người nắm giữ lại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổđông thường Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi của công ty.Loại cổ phiếu ưu đãi mà các công ty cổ phần ở các nước thường phát hành là cổ phiếu ưuđãi cổ tức Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi cổ tức được hưởng các quyền ưu tiên nhưsau: quyền được nhận cổ tức trước các cổ đông thường, quyền được ưu tiên thanh toántrước
Trang 112 Trái Phiếu
Trái phiếu là chính chỉ vay nợ của chính phủ hoặc của công ty thể hiện nghĩa vụ củangười phát hành phải trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu một số tiền nhất định, Vàonhững khoảng thời gian nhất định và phải trả lại khoản tiền khúc khi khoản tiền vay đếnhạn
Khác với cổ phiếu là một chứng khoán vốn, trái phiếu là một chứng khoán hứa nợ trung
và dài hạn của chủ thể phát hành, người phát hành trái phiếu phải có nghĩa vụ trả lãi tráiphiếu và hoàn trả vốn gốc của trái phiếu cho chủ sở hữu trái phiếu khi đáo hạn Vì vậy,trái phiếu còn được gọi là chứng khoán nợ trung và dài hạn Người phát hành trái phiếuvới tư cách là người đi vay, người mua trái phiếu là người cho vay và được gọi là trái chủ.Đặc trưng của một trái phiếu: có nhiều loại trái phiếu khác nhau, nhưng tất cả các tráiphiếu đều có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Mệnh giá trái phiếu: mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu
là giá trị được ghi trên trái phiếu Giá trị này được coi là số phone góc Mệnh giá tráiphiếu là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả Mệnh giácũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn
- Lãi suất danh nghĩa: lãi suất được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bốđược gọi là lãi suất danh nghĩa Lãi suất này được xác định theo 1.000.000.000 lệ phầntrăm so với mệnh giá của trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.Trong nền kinh tế bình thường, thời hạn trái phiếu càng dài thì lãi suất càng cao Loại tráiphiếu có độ tín nhiệm càng cao thì lại suất lại càng thấp hơn so với các loại trái phiếu có
độ tín nhiệm thấp
- Thời hạn của trái phiếu là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hànhhoàn trả tiền vốn lần cuối Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuốiđược gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếutrung hạn có thời gian từ 1 năm đến 5 năm Trái phiếu dài hạn có thời gian từ 5 năm trởlên
- Kỳ trả lãi: là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu Ởnhiều nước, lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi tráiphiếu thường được thực hiện mỗi năm 2 hoặc 1 lần
- Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành Thông thường giáphát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá Tùy theo tình hình của thịtrường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp Có thểphân biệt ba trường hợp như sau: giá phát hành bằng mệnh giá, giá phát hành dưới mệnhgiá, giá phát hành trên mệnh giá
Trang 12* Phân loại trái phiếu:
- trái phiếu của chính phủ và các chính quyền địa phương: để đáp ứng nhu cầu chi tiêungân sách, chính phủ các nước thường phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗitrong các tầng lớp dân cư và các tổ chức kinh tế, xã hội Chính phủ một nước luôn luônđược coi là nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường Vì vậy, trái phiếu chính phủ đượccoi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất Trái phiếu chính quyền địa phương ở nước ta làcấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có thể phát hành trái phiếu để huy động vốnđắp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương
- Trái phiếu doanh nghiệp là những trái phiếu do các doanh nghiệp: doanh nghiệp nhànước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, phát hành để tăng thêm vốn hoạtđộng kinh doanh Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng phong phú
- Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chức này có thể phát hành tráiphiếu để tăng thêm vốn hoạt động
3 Chứng chỉ quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư chứng khoán là quý hình thành từ vốn góp của người đầu tư để đầu tư vào cácchứng khoán Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán huy động vốn bằng cách lấy tổnglượng vốn dự kiến huy động chia thành các phần nhỏ bằng nhau, mỗi phần tương ứng vớimỗi chứng chỉ quỹ và công ty sẽ bán các chứng chỉ ra công chúng như là những đơn vịđầu tư Công ty quản lý Quỹ sẽ đảm nhận các khu huy động vốn và đầu tư vốn vào cácchứng khoán
Chứng chỉ quỹ đầu tư là chứng chỉ xác nhận quyền hưởng lợi của người đầu tư đối vớiquỹ, người đầu tư sẽ được hưởng lợi từ kết quả đầu tư của quỹ, cho số lượng chứng chỉ
mà mình nắm giữ
4 chứng khoán phái sinh
Trên các thị trường chứng khoán phát triển, ngoài hoạt động giao dịch các chứng khoánthông thường như các cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, còn xuất hiện một loạichứng khoán phái sinh khác như quyền mua cổ phần, chứng quyền, hợp đồng tương lai,hợp đồng lựa chọn
- Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợtphát hành cổ phiếu thường bổ sung và được phát hành cho cổ đông hiện hành, sau đóchúng có thể được đem ra giao dịch Các công ty thường xác định số lượng Quyên cần đểmua một cổ phiếu mới như sau: Số lượng quyền cần để mua một cổ phiếu mới = số lượng
cổ phiếu cũ đang lưu hành chia cho số lượng cổ phiếu mới phát hành
Trang 13- Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếuhoặc cổ phiếu ưu đãi, trong đó xác nhận quyền được mua một số cổ phiếu thường theonhững điều kiện nhất định.
- Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó người mua và người bán chấp nhận nhậnthực hiện một giao dịch hàng hóa cuối cuối lượng xác định, tại một thời điểm xác địnhtrong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay
- Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoánhoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xácđịnh trong tương lai
- Quyền lựa chọn là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyềnmua có quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời giannhất định với một mức giá đã được xác định trước
Câu 6: Nguyên tắc và các bước thực hiện giao dịch cổ phiếu trên sàn giao dịch.
Mỗi SGD đều quy định đơn vị giao dịch
Việc quy định đơn vị giao dịch lớn sẽ hạn chế các nhà đầu tư cá nhân tham gia vàothị trường, ngược lại nếu đơn vị giao dịch nhỏ có thể dẫn đến việc lãng phí thờigian và làm tăng chi phí giao dịch
Cần phải căn cứ vào đặc điểm và tình hình giao dịch của thị trường để quyđịnh đơn vị giao dịch thích hợp
Một đơn vị giao dịch chứng khoán thường được gọi là “lô chẵn”, số chứng khoángiao dịch ít hơn một đơn vị giao dịch thông thường được gọi là “lô lẻ” Thôngthường, “lô lẻ” không được giao dịch ở SGD, nếu nhà đầu tư muốn bán “lô lẻ”phải giao dịch trực tiếp với công ty chứng khoán
Ví dụ, SGD chứng khoán Hàn Quốc quy định đơn vị giao dịch cổ phiếu là 10 cổphiếu Do vậy, SGD chứng khoán chỉ chấp nhận lệnh giao dịch cổ phiếu có khối
Trang 14lượng giao dịch cổ phiếu là bội số của 10, những lệnh giao dịch khác quy định đókhông được chấp nhận
Ở SGD chứng khoán New York, đơn vị giao dịch cổ phiếu là 100 cổ phiếu và nhưvậy, một "Lô chẵn" ở đây là 100 cổ phiếu và số lượng cổ phiếu được giao dịch từ 1đến 99 cổ phiếu là "Lô lẻ" Ở Sở giao dịch New York, các giao dịch "Lô lẻ" cũng
có thể được thực hiện dưới sự hỗ trợ của nhà môi giới chuyên môn hay chuyên giachứng khoán, nhưng nhà đầu tư phải trả phí cao hơn so với "Lô chẵn"
Số lượng cổ phiếu min của 1 lệnh (1 lô) (VN: 1 lô =100CP~1.000.000VND)
Thường 1 lô = 100CP hoặc 1000CP
Lô lớn hạn chế giao dịch người đầu tư cá nhân
Lô nhỏ, lệnh nhiều dẫn đến lãng phí thời gian và làm tăng chi phí giao dịch
Lô tác động, điều chỉnh cung – cầu
+ Bước giá min:
Bước giá nhỏ, lệnh giao dịch bị dàn trải
Bước giá lớn, tập trung mức giá (VN: Bước giá min =100đ~ trên bảng điện
tử là 0.1)
Tác động đến hiệu quả đầu tư
+ Biên độ dao động giá:
Nhằm hạn chế sự biến động giá cả quá mức của chứng khoán và duy trì một thịtrường ổn định, trật tự, nhiều Sở giao dịch chứng khoán trên thế giới áp dụng biệnpháp quy định biên độ dao động giá hàng ngày
Biên độ dao động giá là khoảng dao động giá chứng khoán cho phép được quyđịnh trong ngày giao dịch Thông thường, biên độ dao động giá được xác địnhbằng cộng, trừ một số tỷ lệ phần trăm (+ %) giả tham chiếu của chứng khoán, đốivới các loại chứng khoán đang giao dịch bình thường thì giá tham chiếu được xácđịnh là giá đóng cửa của ngày giao dịch trước
Ví dụ, Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc quy định biên độ dao động giá hàngngày là ± 6% giá đóng cửa của ngày hôm trước
Ở Việt Nam hiện nay, biên độ dao động giá áp dụng cho các loại chứng khoán do
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước quy định Điều chú ý đối với nhà đầu tư là khi đặtlệnh giao dịch thì giá giao dịch đưa ra phải nằm trong khoảng giá: giá tối đa và giátối thiểu theo quy của biên độ dao động giá đã công bố, nếu lệnh giao dịch có mức
Trang 15giá vượt quá giới hạn giá tối da và giá tối thiểu thì lệnh giao dịch bị coi là khônghợp lệ.
Biên độ dao động giá thể hiện ở giá trần và giá sàn
Giá trần là mức giá cao nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua bán trongngày, không được cao hơn (giá trần do SGD quy định, là mức giá quản lý,chứ không phải hình thành trên thị trường)
Giá trần = Giá tham chiếu + 10% Tham chiếu
Giá tham chiếu (Hiểu thế nào): Là giá để đối chiếu, tham khảo mua bántrong ngày
Giá tham chiếu (Lấy ở đâu): Là mức giá đóng cửa kết thúc phiên giao dịchhôm trước liền kề (lấy ở thị trường)
Giá sàn là mức giá thấp nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua bán trongngày, không được thấp hơn (giá sàn là mức giá quản lý, do SGD quy định).Giá sàn = Giá tham chiếu – 10% Tham chiếu
Biên độ dao động giá là mức dao động giá cho phép của CK trong ngày
VN biên độ dao động giá: HNX= +/(-) 10%
HSX= +/(-) 7%
(Biên độ dao động giá sàn HN rộng hơn sàn SG)
Nhằm hạn chế sự đột biến của giá và thị trường
Có thể gây tổn hại cho cơ chế giá thị trường
=> Khi đặt lệnh mua (bán) chứng khoán phải tuân thủ (phải chú ý) đơn vị giao dịch, bướcgiá và biên độ giá cho phép
* Các bước thực hiện giao dịch cổ phiếu trên sàn giao dịch.
Bước 1: Mở tài khoản.
Tại công ty chứng khoán là thành viên SGD
Tài khoản môi giới (thông thường)
Tài khoản tư vấn
Tài khoản uỷ thác (uỷ thác đầu tư cho công ty)
Bước 2: Đặt lệnh.
Tên hợp đồng (Mua hay Bán), tên cổ phiếu
Số lượng mua, bán (đơn vị, lô giao dịch)
Giá định mức (VN) hay không định mức
Thời hạn thực hiện
Nơi tiến hành (công ty CK, SGD)
Bước 3: Nhận, chuyển lệnh.
Trang 16 Kiểm tra số hiệu tài khoản.
Kiểm tra mật khẩu tài khoản
Kiểm tra tình trạng tài khoản
- Ưu tiên về giá: Lệnh nào có giá tốt hơn sẽ được ưu tiên được thực hiện trước Điều đó
có nghĩa là:
+ Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước
+ Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước
- Ưu tiên về thời gian: Nếu các lệnh giao dịch có cùng mức giá thì lệnh giao dịch nhậptrước vào hệ thống giao dịch sẽ được ưu tiên thực hiện trước
- Ưu tiên khách hàng: Nếu các lệnh giao dịch có cùng mức giá và cùng thời gian nhậplệnh thì lệnh của khách hàng sẽ được ưu tiên thực hiện trước lệnh giao dịch có tính chất
tự doanh của công ty chứng khoán
- Ưu tiên khối lượng: Nếu các lệnh giao dịch đều là của khách hàng hoặc đều là lệnh tựdoanh có cùng mức giá và cùng thời gian thì lệnh nào có khối lượng lớn hơn sẽ được ưutiên thực hiện trước
Trên đây là bốn nguyên tắc chủ yếu trong việc khớp lệnh Tuỳ theo điều kiện và tìnhhình, SGD của từng nước đưa ra quy định sử dụng cụ thể
Có 2 phương thức khớp lệnh là khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.
Tuỳ theo phương thức khớp lệnh đã được lựa chọn, hệ thống giao dịch của SGD sẽ được thực hiện việc khớp lệnh Kết quả giao dịch được thông báo trên màn hình ở sàn giao dịch và màn hình của công ty chứng khoán:
Mức giá khớp lệnh: Mức giá giao dịch hay mức giá đã được chấp nhận mua bán
Số cổ phiếu được mua/bán (cung/cầu hiện thực tại thời điểm)
Số dư bán (cung thực tế - cung hiện thực)
Số dư mua (cầu thực tế - cầu hiện thực)