Giai đoạn thứ hai là từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, chủ trương hộinhập kinh tế quốc tế đã được Đảng CSVN chỉ rõ: "đẩy nhanh quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế", “xây dựng một nền kin
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT NAM
Lý luận về hội nhập kinh tế
1.1.1 Lịch sử hội nhập kinh tế:
Nhìn lại lịch sử phát triển của Việt Nam cho thấy tư tưởng mở cửa giao thương đã tồn tại từ rất lâu Các nhà canh tân như Lê Quý Đôn và Nguyễn Trường Tộ, dù sống cách đây nhiều thế kỷ, đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của mở cửa nền kinh tế và giao lưu buôn bán với nước ngoài, đặt nền móng cho quá trình hội nhập và phát triển kinh tế sau này.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, tư tưởng mở cửa kinh tế và hội nhập với kinh tế thế giới được thể hiện rõ qua Lời kêu gọi Liên hợp quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào tháng 12 năm 1946 Lời kêu gọi nhấn mạnh sự hợp tác kinh tế quốc tế dựa trên bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và mục tiêu phát triển đất nước thông qua hoà bình Những nguyên tắc và định hướng trong thông điệp này vẫn đúng và thích hợp trong bối cảnh hiện nay của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Đây là cơ sở để Việt Nam tham gia thị trường thế giới một cách có trách nhiệm, đồng thời đẩy mạnh phát triển bền vững và xây dựng hòa bình. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Việt Nam luôn tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài bằng cách chào đón các nhà tư bản và nhà kỹ thuật nước ngoài trong mọi ngành công nghiệp của đất nước Chính sách mở cửa và cơ chế thông thoáng giúp thu hút vốn, công nghệ và kỹ năng quản trị từ bên ngoài, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Nhờ đó, Việt Nam mở rộng cơ hội hợp tác kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực công nghiệp, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế trong nước.
- Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
- Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.
Do hoàn cảnh lịch sử, việc thực hiện tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế bị gián đoạn Chỉ sau khi giành độc lập và thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam mới thực hiện một phần tư tưởng quan trọng ấy bằng việc tham gia liên kết kinh tế XHCN trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) do Liên Xô đứng đầu từ năm 1978.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chỉ thực sự được đẩy mạnh từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 và bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước Nhờ những bước cải cách mở cửa và đổi mới hệ thống kinh tế, Việt Nam dần hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, mở cửa thị trường và tăng cường liên kết với các nước trên thế giới.
Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế đã được cụ thể hóa và hoàn thiện thông qua một quá trình có hệ thống Có thể chia thành 3 giai đoạn lớn: giai đoạn 1 tập trung nhận thức và thiết lập mục tiêu hội nhập sớm, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; giai đoạn 2 mở rộng và đa dạng hóa đối tác, tham gia sâu vào các tổ chức và khuôn khổ khu vực và thế giới, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý và thể chế để bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và hợp tác có hiệu quả; giai đoạn 3 hướng tới hội nhập với chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và ứng phó linh hoạt với rủi ro, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, an ninh kinh tế và phát triển bền vững.
Giai đoạn thứ nhất từ Đại hội Đảng VI (1986) đến đầu Đại hội Đảng VII
Vào năm 1991, Việt Nam chưa đề cập cụ thể tới hội nhập kinh tế quốc tế mà tập trung vào mở cửa nền kinh tế, đa phương hóa, đa dạng hóa và mở rộng quan hệ đối ngoại; tư tưởng này đã đặt nền móng cho sự phát triển của hội nhập ở các giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X ghi nhận Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ chủ trương đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng một nền kinh tế mới có mức độ hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới Việt Nam khẳng định sẵn sàng làm bạn, làm đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và quyết tâm phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
Giai đoạn thứ ba của sự nghiệp đổi mới Việt Nam bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), với định hướng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Việt Nam chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là nội dung trọng tâm được khẳng định trong Nghị quyết số 22-NQ/TW.
Ngày 10 tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của chiến lược phát triển Hội nhập ở các lĩnh vực khác được xem như điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hội nhập kinh tế và từ đó đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2015) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh cam kết thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới và tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam tích cực hội nhập toàn diện và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và giữ vững ổn định chính trị - xã hội Nghị quyết nhấn mạnh mục tiêu đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời tăng cường tự chủ nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, tri thức và kinh nghiệm quản lý để đảm bảo phát triển nhanh và bền vững; đồng thời nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, và giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nhằm nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế.
1.1.2 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở cửa kinh tế của một quốc gia và đồng thời gắn kết sự phát triển kinh tế nước đó với kinh tế khu vực và thế giới Đây được xem như một quy luật khách quan trong sự phát triển của mỗi quốc gia, thúc đẩy sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Quá trình này liên quan đến việc gắn kết nền kinh tế của các nước vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các nước thành viên phải tuân thủ các quy định chung của khối để tăng cường thương mại, đầu tư và đạt tăng trưởng kinh tế bền vững.
1.1.3 Tham gia các hiệp định hội nhập kinh tế:
● Hội nhập khuôn khổ WTO (11/01/2007):
Việt Nam đã hoàn thành Phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu trong WTO vào năm 2013, nhận được sự hoan nghênh và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về nỗ lực cải cách, hoàn thiện chính sách và thực thi các cam kết để phù hợp với quy định của WTO Hiện Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Phiên rà soát chính sách thương mại lần hai tại WTO vào tháng 9 năm 2020.
Với tư cách thành viên WTO, Việt Nam tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO liên quan đến những nội dung Việt Nam quan tâm như nông nghiệp, công nghiệp và sở hữu trí tuệ Qua các đàm phán này, Việt Nam không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế của mình mà còn đóng góp vào việc xây dựng các chuẩn mực thương mại toàn cầu phù hợp với mục tiêu phát triển của nước ta Đồng thời, Việt Nam góp tiếng nói bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển, thúc đẩy công bằng thương mại và hỗ trợ sự phát triển bền vững trên thế giới.
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TÔM NƯỚC LỢ VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
Thực trạng và nguyên nhân của xuất nhập khẩu tôm tại Trung Quốc
Theo số liệu của Agrotrade Việt Nam, Việt Nam có trên 300 cơ sở chuyên và có kết hợp chế biến tôm, với công suất lên tới 1,4 triệu tấn mỗi năm Các cơ sở tập trung chủ yếu ở miền Trung, Nam Trung Bộ và ĐBSCL Qua kiểm tra, các cơ sở này đều đáp ứng tốt các điều kiện xuất khẩu Sản phẩm chế biến tôm rất đa dạng, trong đó sản phẩm đông lạnh chiếm khoảng 90% với nhiều dạng sản phẩm khác nhau, 10% còn lại tập trung chủ yếu ở các sản phẩm khô và tươi sống.
Hiện nay các cơ sở chế biến thủy sản đang tập trung khai thác phụ phẩm từ quá trình chế biến tôm, tận dụng đầu và vỏ tôm để sản xuất thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm giá trị như chitin, chitosan, glucosamine, astaxanthin Tuy nhiên, do công nghệ xử lý thủy sản còn hạn chế nên phần lớn thành phẩm ở dạng đông lạnh hoặc chế biến ở mức thấp, khiến lượng phụ phẩm thải ra vẫn ở mức cao, dao động 35–60%, tương đương hơn 2 triệu tấn phụ phẩm thủy sản mỗi năm, trong đó có khoảng 250 tấn phụ phẩm tôm Theo đánh giá của đại diện VNF, chỉ có 55–65% của con tôm được khai thác sử dụng trong quá trình chế biến, phần còn lại 35–45% được coi là phụ phẩm và bị bỏ đi; trong khi phụ phẩm tôm chứa nhiều chất dinh dưỡng có giá trị, có thể được chiết xuất và áp dụng trong nhiều lĩnh vực, tạo ra giá trị mới cao gấp nhiều lần.
Theo ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, chế biến phụ phẩm thủy sản tuy có giá trị gia tăng cao nhưng vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, khiến đây trở thành điểm nghẽn trong chuỗi giá trị thủy sản do thiếu sự tập trung đầu tư; nguyên nhân chính là ngành này đòi hỏi công nghệ hiện đại và nghiên cứu phát triển sản phẩm, trong khi công nghệ của Việt Nam vẫn đang ở mức học hỏi từ nước ngoài, nên hiện chỉ có từ một đến hai doanh nghiệp trong nước có thể áp dụng các công nghệ để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao như chitin, chitosan và protein thủy phân dùng cho thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học, y tế và nông nghiệp.
Ông Lộc cho biết, để khai thác tối đa giá trị của phụ phẩm thủy sản, doanh nghiệp cần đầu tư tới mức tối đa vào khoa học công nghệ, máy móc thiết bị và nguồn lao động có tay nghề cao.
Ông Trần Đình Luân, Tổng cục Trưởng Tổng cục Thủy sản, cho biết cấu trúc giá thành sản xuất thủy sản ở Việt Nam chiếm khoảng 50-70%, trung bình 60%, nên đây là một yếu tố nhạy cảm khi giá cả biến động, dẫn tới tăng chi phí sản xuất, tăng rủi ro và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam Chi phí sản xuất thủy sản của chúng ta từ trước tới nay vẫn được đánh giá là cao hơn so với các nước trong khu vực, cho thấy thách thức về cạnh tranh trên thị trường khu vực.
Theo ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, tôm Việt Nam hiện đứng trước thách thức từ cả nội tại và thị trường xuất khẩu, với chi phí sản xuất tăng, chất lượng tôm giống còn hạn chế, nguy cơ dịch bệnh tiềm ẩn và nguồn tôm nguyên liệu phục vụ chế biến chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu Bên cạnh đó, các đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ, Ecuador và Thái Lan đã tiệm cận trình độ công nghệ nuôi của Việt Nam và có chi phí sản xuất thấp hơn, đẩy ngành tôm Việt Nam vào cuộc đua cải tiến công nghệ và quản lý chuỗi giá trị Điều này đòi hỏi các nhà quản lý và doanh nghiệp tôm Việt Nam phải hành động nhanh chóng để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng tôm giống và ổn định nguồn tôm nguyên liệu, từ đó tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu.
Việc giá nguyên liệu dùng cho sản xuất thức ăn thủy sản và chăn nuôi tăng cao liên tục trong một thời gian dài đang tác động mạnh tới hoạt động sản xuất của ngành tôm Việt Nam, đè nặng lên chi phí sản xuất Sự biến động của giá đầu vào này làm gia tăng chi phí nuôi trồng và chế biến, ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thách thức và thời cơ của tôm xuất khẩu hậu Covid-19 (2020-2021)
Trong 3 tháng đầu năm 2021, hoạt động xuất khẩu thủy sản đã ghi nhận một số kết quả khả quan Tuy nhiên, sự thay đổi về chứng nhận an toàn thực phẩm ở thị trường nhập khẩu và các cảnh báo từ các lô hàng bị trả lại cho thấy phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2021 đạt khoảng 8,8 tỷ USD a) Cảnh báo về vi phạm an toàn thực phẩm sẽ tiếp tục là yếu tố cần được giám sát chặt chẽ để duy trì niềm tin của thị trường và đà tăng trưởng của ngành.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hai tháng đầu năm 2021, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 1,01 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2020; VASEP dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 3 sẽ đạt khoảng 640 triệu USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ; Tuy nhiên, từ nay đến cuối năm, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, bắt nguồn từ sự thay đổi quy định kiểm dịch đối với sản phẩm nhập khẩu ở nhiều nước, và đã có cảnh báo về vi phạm các quy định an toàn thực phẩm.
Mới đây, tại hội nghị về phòng, chống dịch bệnh thủy sản năm 2021, ông Ngô Hồng Phong, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho biết dù thời gian qua các địa phương đã nâng cao chất lượng nhiều mặt hàng, vẫn còn một số lô hàng vi phạm quy định về an toàn thực phẩm và bị trả về Riêng với thị trường Trung Quốc, trong 3 tháng đầu năm 2021 đã có 6/14 lô hàng bị trả về (năm 2020 là 15/40 lô hàng bị trả về) Phía Trung Quốc cho biết qua kiểm tra một số lô hàng tôm đông lạnh, tôm đã xử lý nhiệt của Việt Nam đã phát hiện dương tính với bệnh hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHNV) và vi rút đốm trắng (WSSV).
Cùng với đó, một số thị trường nhập khẩu chính của thủy sản Việt Nam đã có những thay đổi trong chứng nhận an toàn thực phẩm đối với sản phẩm nhập khẩu Ví dụ tại thị trường Hàn Quốc, sản phẩm tôm phải đáp ứng quy định về xử lý nhiệt (tôm nấu chín) theo quy định của Hàn Quốc mới được miễn kiểm dịch Tuy nhiên, thời gian xử lý nhiệt theo quy định của Hàn Quốc dài, ảnh hưởng không nhỏ đến màu sắc, mùi vị… của sản phẩm Hay với thị trường Brazil, quy định về chế độ xử lý nhiệt của nước này khắt khe hơn rất nhiều so với hướng dẫn của Tổ chức Thú y thế giới.
Những vấn đề nêu trên đã và đang tạo ra thách thức lớn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian tới. b) Cốt lõi là nâng cao chất lượng sản phẩm Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhận định, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - châu Âu (EVFTA); Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… tiếp tục là
Đòn bẩy cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam là yếu tố then chốt để tăng trưởng, với dự báo năm 2021 xuất khẩu thủy sản có thể đạt 8,8 tỷ USD, tăng gần 5% so với năm 2020 Để các sản phẩm Việt Nam chinh phục đa dạng thị trường, cần tạo sự khác biệt rõ nét về chất lượng và hình thức, bao gồm chất lượng sản phẩm, quy trình truy xuất nguồn gốc, bao bì và nhãn mác, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng và đảm bảo an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, đẩy mạnh marketing và xúc tiến thương mại sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường và nâng cao cạnh tranh trên trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), các doanh nghiệp cần đẩy mạnh xuất khẩu tôm ở dạng đông lạnh sang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và châu Âu Đối với những thị trường có quy định kiểm dịch mới, doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm giảm thiểu rủi ro và bảo đảm chuỗi cung ứng an toàn.
Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cho rằng các doanh nghiệp thủy sản cần xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc liên tục trong toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu đến sơ chế, chế biến sản phẩm, đồng thời chủ động nắm bắt những biến động của thị trường nhập khẩu để xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc; để đạt mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2021 là 8,8 tỷ USD, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết ngành sẽ làm việc với các cơ quan thú y của Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước để tháo gỡ rào cản, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đồng thời hạn chế những lô hàng thủy sản bị trả về, các địa phương, doanh nghiệp cần xây dựng vùng, chuỗi cơ sở sản xuất thủy sản an toàn dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu giám sát an toàn thực phẩm của các thị trường; cùng với đó tập trung xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc các mặt hàng thủy sản để nâng cao giá trị gia tăng.
2.2.2 Cơ hội thời cơ: a) Xuất khẩu tôm của Việt Nam tới thị trường Trung Quốc tận dụng hiệu quả Hiệp định thương mại tự do xuyên biên giới Việt Nam-Trung Quốc:
Trong những tháng đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Trung
Quốc ghi nhận tín hiệu tích cực nhờ các doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cam kết thuế quan trong Hiệp định.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Trung Quốc trong quý II/2021 đạt 18,62 nghìn tấn, trị giá 159,45 triệu USD, tăng 68,9% về lượng và 65,8% về trị giá so với quý I/2021, đồng thời tăng 43,6% về lượng và 42% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Trong 6 tháng đầu năm 2021, Việt Nam xuất khẩu tôm sang Trung Quốc đạt 29,6 nghìn tấn, trị giá 255,7 triệu USD, tương ứng tăng 25,2% về lượng và 27,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020 Những kết quả này cho thấy Trung Quốc tiếp tục là thị trường trọng yếu cho tôm Việt Nam với đà tăng trưởng rõ rệt về cả khối lượng lẫn giá trị, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tôm của nước ta trong nửa đầu năm.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, giá xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Trung Quốc trong nửa đầu năm 2021 đạt bình quân 8,63 USD/kg, tăng 0,16 USD/kg so với cùng kỳ năm 2020 Nguyên nhân là lượng tôm xuất khẩu đáp ứng yêu cầu về giảm thuế theo chính sách mới từ Trung Quốc và đã tăng trong những tháng gần đây, tạo tín hiệu tốt cho khả năng cạnh tranh về giá của tôm Việt Nam trên thị trường Trung Quốc trong thời gian tới.
Trong nửa đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang hầu hết các thị trường lớn tại Trung Quốc tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2020 nhờ ba nguyên nhân chính: (i) dịch Covid-19 ở Việt Nam được kiểm soát tốt từ đầu năm, góp phần ổn định hoạt động nuôi trồng và chế biến xuất khẩu; (ii) tôm Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do, giúp nâng cao sức cạnh tranh; (iii) nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu tôm tại Trung Quốc hồi phục trong nửa đầu năm Đáng chú ý, trong quý II/2021, xuất khẩu tôm tới Quảng Châu, Bắc Kinh, Vân Nam và Thâm Quyến đều tăng ở mức ba chữ số so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2020 là thời điểm chính sách mới chưa có hiệu lực, khiến thị trường chưa được điều chỉnh đầy đủ Các đối thủ cạnh tranh chính gặp nhiều khó khăn, nhưng cung cầu vẫn ổn định nhờ thời tiết thuận lợi và mùa vụ diễn ra sớm.
Trong bối cảnh các nước khu vực châu Á và một số nước sản xuất cạnh tranh như Ấn Độ, Thái Lan vẫn đối mặt với dịch COVID-19, Việt Nam có thêm cơ hội đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu để mở rộng thị phần Thị trường Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng cho thủy sản Việt Nam trên nhiều mặt hàng như tôm, cá tra và hải sản nói chung, và đặc biệt với tôm Việt Nam sẽ có thêm cơ hội tại Mỹ khi nguồn cung từ Ấn Độ – đối thủ cạnh tranh lớn nhất – đang gặp khó khăn do dịch bệnh Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta, đánh giá rằng sự lây lan của COVID-19 đang đẩy Ấn Độ vào khủng hoảng về sản lượng và giá rẻ, từ đó tạo cơ hội cho ngành tôm Việt Nam Về triển vọng tăng trưởng của mặt hàng tôm, ông Lực cho biết vụ nuôi tôm của Việt Nam năm nay được dự báo sớm và thời tiết thuận lợi nên nguồn nguyên liệu có khả năng tăng trưởng tốt hơn so với năm 2020.
Những định hướng và kiến nghị phát triển về việc nuôi tôm nước lợ
Để đạt được sự phát triển bền vững trong xuất khẩu tôm, cần tăng cả quy mô sản xuất lẫn chất lượng sản phẩm, vì chất lượng là yếu tố then chốt để cạnh tranh trên thị trường quốc tế Bài luận văn này sẽ trình bày định hướng nuôi tôm trong những năm tới nhằm nâng cao chất lượng tôm và hiệu quả nuôi trồng, đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm đóng góp ý kiến cho sự phát triển của mô hình nuôi tôm hiện tại Các đề xuất tập trung vào cải thiện quy trình nuôi, quản lý chất lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu, nhằm đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và bền vững cho ngành tôm.
2.3.1 Định hướng về nuôi tôm nước lợ
ĐBSCL có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi tôm nước lợ nhưng hiện chưa có quy hoạch cụ thể và thiếu cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy ngành này; đồng thời cần các giải pháp về khoa học - công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế, cùng hoạt động xúc tiến thương mại và thị trường để tối ưu hóa chuỗi cung ứng Nguồn nước phục vụ nuôi tôm ở ven biển ĐBSCL đang chịu ô nhiễm hữu cơ và một số chất có hại tại các khu vực cống điều tiết nước mặn, do vậy cần xây dựng vùng sản xuất tôm giống chất lượng cao với quy mô lớn để cung cấp cho vùng nuôi tôm nước lợ, đặc biệt TTCT Để đảm bảo nguồn gốc và ổn định giá cả cho người nuôi, nên triển khai bán tôm giống trực tiếp từ công ty cho người nuôi tôm.
Trong quy hoạch nuôi tôm nước lợ ở khu vực ĐBSCL, các tỉnh đặc biệt chú trọng bố trí hạ tầng thủy lợi để cấp - thoát nước phục vụ sản xuất và kiểm soát dịch bệnh Hiện tại, hệ thống hạ tầng thủy lợi vẫn chưa hoàn thiện, kênh cấp nước và thoát nước chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, gây khó khăn cho nuôi trồng và quản lý dịch bệnh Nhiều hộ nuôi chưa có ao lắng, ao xử lý thải và khu vực xử lý bùn đáy ao, khiến khi tôm mắc bệnh việc xử lý không triệt để hoặc xả nước thải từ ao nuôi ra môi trường làm lây lan dịch bệnh Các bệnh thường gặp trên tôm nước lợ gồm hoại tử gan tụy, đốm trắng và đường ruột, trong đó thiệt hại lớn nhất ở những trường hợp nhiễm gan tụy và đốm trắng Vì vậy, việc lựa chọn tôm giống thả nuôi đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý dịch bệnh và hiệu quả sản xuất. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Con tôm là đối tượng nuôi chủ lực trong nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh ven biển, là tiềm năng và thế mạnh nổi bật của ngành thủy sản Để khai thác tối đa lợi thế này, cần triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược như nâng cấp hạ tầng nuôi và công nghệ quản lý nước, cải thiện chất lượng con giống và dịch vụ thú y thủy sản, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số để nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn sản phẩm tôm nuôi; xây dựng và kết nối chuỗi giá trị từ nuôi đến tiêu thụ, mở rộng thị trường tiêu thụ và xuất khẩu; tăng cường quản trị rủi ro dịch bệnh và bảo vệ môi trường nuôi, đảm bảo phát triển bền vững; và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, huy động sự tham gia của nông dân, doanh nghiệp, phối hợp với cơ quan quản lý thông qua các chính sách, hỗ trợ vốn và khuyến khích đổi mới sáng tạo để ngành tôm nuôi ven biển trở thành động lực tăng trưởng của ngành thủy sản.
Nhu cầu tôm giống ngày càng lớn khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất giống ra đời Để đáp ứng nguồn cung ổn định và phát triển bền vững, cần xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển con tôm, bao gồm quy hoạch vùng nuôi tôm sú, nuôi TTCT và liên kết với nhà máy chế biến gắn với các vùng nuôi tôm Đặc biệt, cần chú trọng quy hoạch khu sản xuất tôm giống chất lượng cao để đảm bảo gen giống tốt, chất lượng sống cao và đáp ứng tiêu chuẩn nuôi và xuất khẩu Quy hoạch này còn góp phần tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm chi phí logistics và tăng sức cạnh tranh cho ngành tôm Việt Nam.
Về khoa học công nghệ, cần quan tâm nâng cao chất lượng giống và triển khai chương trình chọn tạo giống theo tính trạng tăng trưởng và kháng bệnh cho hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, đồng thời bảo đảm tăng trưởng và sạch bệnh cho hình thức nuôi thâm canh/bán thâm canh Ngoài ra, cần phát triển các công nghệ và giải pháp kỹ thuật nuôi hiệu quả, thân thiện môi trường như Bioflocs, nuôi hai giai đoạn, đa chu ký, đào ao, ương vèo, nuôi trong nhà bạt, và sử dụng chế phẩm vi sinh học.
Để phát triển thị trường, cần xây dựng thương hiệu cho các dòng sản phẩm chính và đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận uy tín kết hợp với các chương trình quảng bá nhằm tăng nhận diện và niềm tin của người tiêu dùng Đồng thời thực hiện hiệu quả chuỗi giá trị thị trường, từ cung ứng, sản xuất, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến, thương mại đến tiêu thụ, với doanh nghiệp đóng vai trò động lực và người dẫn đường cho toàn bộ hệ sinh thái.
Về tổ chức sản xuất và cơ chế chính sách, cần tăng cường kiểm soát điều kiện nuôi, quản lý chất lượng và giá vật tư cho các doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các quy mô nhỏ Cần tổ chức lại sản xuất theo hình thức hợp tác sản xuất và liên kết theo chuỗi giá trị để nâng cao hiệu quả, giảm chi phí và thúc đẩy sự bền vững của chuỗi cung ứng.