Mục đích và nội dung hợp đồng không trái pháp luật, đạo đức xã hội: Mục đích, nội dung của hợp đồng dân sự thể hiện hành vi có ý thức của con người khi xác lập, thực hiện hợp đồng và đượ
Trang 1HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HĐDS VÔ HIỆU
I Khái niệm, đặc điểm của HĐDS bị vô hiệu:
1 Khái niệm hợp đồng:
Hợp đồng là giao dịch phổ biến nhất trong đời sống xã hội và là căn cứ cơ bản làm phát sinh nghĩa vụ
Trên thực tế, hợp đồng tồn tại vô cùng phong phú, đa dạng như hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, vay, cho thuê, dịch vụ, bảo hiểm, gửi giữ, ủy quyền Hợp đồng có thể
được tồn tại dưới hình thức miệng hoặc bằng văn bản Hợp đồng theo định nghĩa tại Điều
385 BLDS 2015 được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Theo đó, muốn được công nhận là hợp đồng thì thỏa
thuận phải thỏa mãn các điều kiện cơ bản sau:
Phải có ít nhất hai bên chủ thể:
Khác với giao dịch là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên chủ thể như di chúc, hứa thưởng; hợp đồng phải là sự thể hiện ý chí của ít nhất hai bên chủ thể Cần lưu ý rằng ở dây có sự tham gia của hai bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng chứ không phải là hai người vì mỗi bên có thể bao gồm một hoặc nhiều người Thông thường, một hợp đồng bao gồm hai bên nhưng cũng có những hợp đồng có thể bao gồm ba, bốn bên được gọi chung là hợp đồng đa phương
Phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên:
Không phải cứ có hai bên chủ thể bày tỏ ý chí thì có thể hình thành nên hợp đồng Hợp đồng chỉ có thể được hình thành nếu sự thỏa thuận của các bên đạt được đến
sự thống nhất tức là ý chí của hai bên đã đồng thuận và cùng chấp nhận một hậu quả pháp lý sẽ hình thành khi hợp đằng được giao kết
Ví dụ: Bên bán đưa ra giá bán mà bên mua trả giá thấp hơn nhưng không được bên bán chấp nhận thì không thể hình thành nên hợp đồng.
Sự thỏa thuận phải có hậu quả pháp lý làm căn cứ xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự:
Trang 2Không phải mọi sự thỏa thuận và có sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên thì đều hình thành nên hợp đồng Chỉ những thỏa thuận có hậu quả pháp lý nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự mới hình thành nên hợp
đồng (Ví dụ như thỏa thuận kết hôn, thỏa thuận một cuộc hẹn không phải là hợp đồng)
à So sánh với BLDS 2005:
Điều 388 BLDS năm 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Điều 385 của BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Như vậy, điểm mới ở đây là trong BLDS hiện hành đã chọn cụm từ “hợp đồng” thay
vì “ hợp đồng dân sự” trong BLDS 2005
Định nghĩa này thể hiện sự tiến bộ và hợp lý bởi lẽ khái niệm “hợp đồng” vừa thể hiện sự ngắn gọn, vừa mang tính khái quát bao gồm tất cả các loại hợp đồng theo nghĩa rộng (hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ ) chứ không chỉ là các hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp đơn thuần Quy định này cũng tạo sự thống nhất, tránh sự chồng chéo của nội dung các văn bản
và cũng thể hiện được sự bao quát của Bộ luật dân sự là đạo luật gốc của hệ thống luật
tư (http://luatsuadong.vn/chi-tiet-tin/10025-khai-niem-hop-dong-trong-bo-luat-dan-su-2015.html)
2 Đặc điểm hợp đồng:
Là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các của thể tham gia
Chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết, phải có sự trùng hợp ý chí của các bên Việc giao kết phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và bgay thẳng, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Chủ thể tham gia phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể trong quan hệ dân sự (chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự,…)
Mục đích của việc giao kết hợp đồng là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng
3 Hợp đồng bị vô hiệu:
Hợp đồng bị vô hiệu sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn
Ở Việt Nam, để xác minh hợp đồng dân sự bị vô hiệu phải căn cứ vào quy định tại
Điều 117, Điều 122, Điều 407 Theo đó, hợp đồng bị vô hiệu khi không thỏa mãn một
trong những điều kiện được quy định tại Điều 117 BLDS:
Trang 3 Chủ thề có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Chủ thẩ tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
Mục đích và nội dung của gaio dịch không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
Hình thức của giao dịch phải phù hợp với quy định của pháp luật
II Xác định hợp đồng bị vô hiệu:
Theo Khoản 1 Điều 407 BLDS 2015 quy định về giao dịch dân sự bị vô hiệu từ Điều
123 đến Điều 133 của bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu
1 Năng lực hành vi dân sự của chủ thề tham gia giao dịch:
BLDS 2005 chưa bao quát được hết các trường hợp xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch Giao dịch chỉ có thể đáp ứng bởi chủ thể của hợp đồng và người trực tiếp ký kết hợp đồng (người đại diện, người giám hộ)
Còn đối với giao dịch của người không có năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành
vi được xác lập thông qua người đại diện thì bản thân người không có năng lực hành
vi, bị mất năng lực hành vi không phải là người tham gia giao dịch, bởi mọi vần đề từ khi xác lập đến khi thực hiện giao dịch đều được thực hiện thông qua người đại diện
Điều đó đã gián tiếp tước quyền tham gia giao dịch của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người chưa có năng lực hành vi dân sự dù sự tham gia đó chỉ là tham gia một cách gián tiếp thông qua người đại diện, người giám hộ
2 Mục đích và nội dung hợp đồng không trái pháp luật, đạo đức xã hội:
Mục đích, nội dung của hợp đồng dân sự thể hiện hành vi có ý thức của con người khi xác lập, thực hiện hợp đồng và được pháp luật công nhận nên nó là điều kiện của mọi hợp đồng trong giao dịch dân sự khi xét một hợp đồng trong một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật hay không thì ngoài việc xem xét các nội dung còn phải xem xét đến mục đích của hợp đồng có trái pháp luật và đạo đức xã hội hay không
Không trài pháp luật thể hiện ở chỗ các thỏa thuận không vi phạm điều cấm pháp luật, đối tượng của hợp đồng là tài sản dược phép lưu thông
3 Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện:
Tự nguyện là tự mình muốn làm, không sự bắt buộc tính tự nguyện trong giao dịch dân sự là khả năng về ý chí và biểu lộ ý chí ra bên ngoài của các bên chủ thể tham gia giao dịch Trong hợp đồng giao dịch dân sự, yếu tố tự nguyện đóng vai trò rất quan trọng, là đặ trưng của pháp luật dân sự Việt Nam và và là căn cứ để các chủ thể giao kết hợp đồng nhằm làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên
Và điều kiện để chủ thể tham gia vào gaio dịch dân sự một cách tự nguyện đó là người đó phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
à So sánh với BLDS 2005:
Không nhập thành một điều luật nhìn chung, những hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc do người đại
Trang 4diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện được quy định trong Điều 142 BLDS 2015 đã kế thừa các quy định trong BLDS 2005 và có một số sửa đồi, bổ sung
Không có quyền đại diện (Điều 142 BLDS 2015)
Khác với BLDS 2005 (chỉ thừa nhận hai trường hợp ngoại lệ mà người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện giao dịch nhưng vẫn làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho người được đại diện là trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý), BLDS 2015 đã sửa từ “đồng ý” thành cụm từ “công nhận giao dịch” và bổ sung thêm hai trường hợp nữa là:
Người được đại diện biết mà không ohan3 đối trong một thời hạn hợp lý
Người được đại diện có lỗi dẫn đến người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện
Thực ra, trường hợp công nhận và biết mà không phản đối đã phần nào được ghi nhận trước đây trong chính Bộ luật Dân sự thông qua khái niệm “đồng ý”
Riêng trường hợp cuối cùng là điểm mới thực sự: đây là việc ghi nhận khái niệm đại diện “bề ngoài” được ghi nhận rộng rãi trên thế giới Thẩm quyền bề ngoài được xác
lập khi người đại diện không được công ty trao quyền đại diện Tuy nhiên, bên thứ ba
nhận thấy hành vi của công ty hàm ý là người đại diện đó được trao quyền Khác với thẩm quyền thực tế, ở đây có ba đối tượng liên quan là công ty, người đại diện và bên thứ ba [1]
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc đưa khái niệm này vào là một việc không hoàn toàn đơn giản: Dự thảo mà Chính phủ trình Quốc hội teho hướng tạo ra ngoại lệ với nội dung “người thứ 3 có căn cứ để tin tưởng người xác lập, thực hiện gaio dịch dân
sự với mình có quyền đại diện và không có lỗi về việc đã tin tưởng đó” Quy định này ghi nhận “đại diện bề ngoài” nhưng thực chất chỉ quan tâm tới phía người thứ 3 Các quy định chỉ đề cập nhiều đến quyền, nghĩa vụ của người thứ biết hoăc buộc phải biết thẩm quyền đại diện của người xác lập, thực hiện gioa dịch với mình chứ không nói đến trách nhiệm thực sự của bên đại diện theo hình thức “đại diện bề ngoài” Cần phải hướng vào những ứng xử cua người đại diện đểtừ đó quy trách nhiệm cho họ
4 Hình thức hợp đồng phải đáp ứng quy định của pháp luật:
Hình thức của hợp đồng là phương tiện thể hiện nội dung của hợp đồng Thông qua hợp đồng, bên đối tác cũng như bên thứ ba có thể biết được nội dung của hợp đồng được xác lập Người giao kết hợp đồng có quyền lựa chọn hình thức của hợp đồng, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định
Hợp đồng trong giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng miệng, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể Trong một số trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng
Trang 5dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng nhà nước chứng nhận, chứng thực
III Các luật định về hợp đồng dân sự vô hiệu:
1 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội:
Vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội bao gồm nội dung, mục đích của hợp đồng trái pháp luật và đạo đức của xã hội Trong đó:
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện hành vi nhất định
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng sử chung giữa người với người trong đới sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Mọi giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật đều bị xem là vô hiệu tuyệt đối
à Mục đích hợp đồng trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội:
Mục đích hợp đồng không phải là một điều khoản bắt buộc của hợp đồng trừ phi luật pháp quy định hoặc các bên thỏa thuận Điều đó có nghĩa là các bên không có nghĩa vụ phải tiết lộ mục đích ký kết hợp đồng nếu pháp luật không buộc phải tiết lộ
Tuy nhiên, cũng có một vần đề đặt ra: hợp đồng vô hiệu do có mục đích trái pháp luật khi cả hai bên đều theo đuổi hoặc biết mục đích trái pháp luật hay chỉ cần một bên theo đuổi mục đích đó? Một số luật gia cho rằng, động cơ trái pháp luật đều phải được hai bên biết Một số người lại đưa ra giải pháp tùy thuộc vào sự ngay tình hay không ngay tình của bên yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu: bên không biết
về tính chất trái pháp luật của hợp đồng không thể bị tước đi quyền lợi phát sinh từ giao dịch đó
2 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:
Theo Điều 124 BLDS 2015 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự che giầu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó vẫn
vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”.
Giao dịch dân sự giả tạo có hai trường hợp:
E Giao dich dân sự được xác lập với mục đích nhằm che dấu một giao dịch khác Trong trường hợp này có hai giao dịch cùng song song tồn tại đó là giao dịch đích thực và giao dịch giả tạo Ví dụ: A bán cho B một tài sản nhưng B không muốn để người khác biết là mình có tiền nên yêu cầu A viết dưới dạng hợp đồng tặng cho thay thế cho hợp đồng đích thực là hợp đồng mua bán
E Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Giao dịch dân sự được xác lập có sự tự nguyện thể hiện ý chí,
Trang 6tuy nhiên sự thể hiện ý chí này lại nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với một chủ thể khác Ví dụ: Nhằm trốn tránh việc kê biên bản tài sản có thể xảy ra, D
đã lập một hợp đồng với nội dung tặng cho E một tài sản nhưng thực chất D vẫn giữ tài sản và vẫn là chủ sở hữu tài sản này
3 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện:
Điều 125 BLDS 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý trừ trường hợp quy định khác”
Ví dụ: Anh A bị tâm thần Do biết anh A có sở hữu một mảnh đất ngay trung tâm thành phố nên anh B (bạn anh A) đã lợi dụng và dụ dỗ anh A ký vào hợp đồng mua bán mảnh đất đó Biết được sự việc, gia đình anh A đến gặp anh B để nói chuyện nhưng anh B không những không hủy hợp đồng mà còn dọa sẽ kiện lại gia đình anh
A Trong trường hợp này, mặc dù hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất có chữ ký của chủ sở hữu là anh A, nhưng anh A là người mất năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng
vô hiệu Mảnh đất vẫn thuộc quyền sở hữu của anh A
4 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn:
Điều 126 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp:
Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.”
Vd: A kí hợp đồng mua 100 bộ chén của B, hai bên đã có sự thỏa thuận về giá cả và thời điểm giao hàng Đến ngày giao hàng, do khác biệt về ngôn ngữ vùng miền nên thay vì nhận được chén (là loại bát nhỏ dùng ăn cơm theo cách gọi của người miền Nam) thì A lại nhận được 100 bộ chén uống trà (theo cách gọi chén của người miền Bắc ) từ B Trong trường hợp này, A và B có thể khắc phục bằng cách giữ nguyên hàng hóa và thống nhất lại đối tượng của giao dịch Nếu cả 2 bên không đồng ý điều này, giao dịch bị tuyên bố vô hiệu
5 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị ừa dối, đe dọa, cưỡng ép:
Trang 7Điều 127 BLDS 2015 quy định “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối
hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó
là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ
ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”
Vd: Anh A được bố mẹ mua cho 1 chiếc xe máy đời mới với giá 200 triệu đồng Sau 1 tháng, anh B ngỏ ý muốn mua lại với giá 100 triệu nhưng anh A không đồng ý Anh B dọa nếu không bán cho anh ta với giá này, anh ta sẽ nói chuyện bố anh A ngoại tình với mọi người Anh A sợ ảnh hưởng đến gia đình nên đã bán chiếc xe cho anh B với giá 100 triệu Trong trường hợp này, giao dịch bán xe vô hiệu vì anh A không tự nguyện thực hiện hợp đồng Anh A bán xe do anh B đe dọa đưa thông tin cá nhân làm ảnh hưởng xấu đến gia đình anh A ra ngoài
6 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình:
Điều 128 BLDS 2015 quy định: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập
giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Vd: trong khi say rượu A đã ký hợp đồng với B bán quyền sử dụng đất mà A đang sở hữu cho B với giá chỉ bằng 1/3 giá thị trường tại thời điểm đó Trong trường hợp này, giao dịch vô hiệu do tại thời điểm xác lập giao dịch, A không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
7 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:
Điều 129 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định
phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết
Trang 8định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Ví dụ: A góp vốn vào công ty của B bằng quyền sử dụng đất của mình Tuy nhiên,
hợp đồng góp vốn kinh doanh chỉ có chữ ký của 2 bên mà không được chứng thực.
Trong trường hợp này, hợp đồng góp vốn vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình
thức tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013: “Hợp đồng chuyển nhượng,
tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này” Vậy, để đảm bảo được quyền lợi của mình cũng như tránh các rủi ro có thể gặp sau này, A cần phải công chứng/ chứng thực hợp đồng này
IV Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Điều 131 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự bị vô hiệu:
1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Nếu hợp đồng chỉ mới xác lập mà chưa thực hiện thì các bên không được phép thực hiện, còn trường hợp đang thực hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa, nếu hợp đồng
đã thực hiện thì các bên xử lý tài sản
Việc xử lý hậu quả giao dịch dân sự càng trở nên phức tạp hơn trong trường hợp bên nhận tài sản đã sửa chữa, cải tạo tài sản đó hay nói cách khác là làm tăng giá trị của tài sản đó
Về quy định tính thành tiền để hoàn trả trong trường hợp không thể hoàn trả được
bằng hiện vật, bộ luật quy định như vậy nhưng không nêu rõ khi nào thì “không hoàn trả được bằng hiện vật” và “hoàn trả bằng tiền” thì tính là bao nhiêu? Tính giá hiện vật thành tiền tại thời điểm nào: Thời điểm xác lập giao dịch hay thời điểm hoàn trả tài sản
Đối với những tài sản không thay đổi về giá kể từ thời điểm xác lập giao dịch đến lúc giao dịch vô hiệu, việc tính giá tài sản vào thời điểm nào không quan trọng Tuy nhiên
Trang 9với những tài sản có biến động về giá (có thể tăng hoặc giảm) thì việc xác định thời điểm định giá là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của 2 bên
Bồi thường thiệt hại, để buộc một bên bồi thường thì chúng ta phải xác định đủ 2 yếu tố: một là yếu tố có lỗi, hai là thực tế phải tồn tại thiệt hại Mức độ bồi thường phụ thuộc vào mức độ lỗi Bên bồi thường chỉ phải bồi thường thiệt hại do phần lỗi của mình gây ra
1 Chấm dứt thực hiện giao dịch dân sự:
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập
Chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận
Nếu hợp đồng phụ bị vô hiệu thì hợp đồng chính vẫn còn hiệu lực pháp luật và không
vị chấm dứt thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hộp đồng phụ là một điều kiện không thể tách rời với hợp đồng chính
2 Bảo vệ quyền lợi bên thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu:
Trong giao dịch dân dân sự, người thứ ba ngay tình được hiểu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp lý đối với tài sản nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật
Điều 133 BLDS 2015 quy định về quyền lợi của người thừ ba ngay tình được pháp
luật bảo vệ trong hai trường hợp:
“Thứ nhất, khi giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp chủ
sở hữu đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, khi người thứ ba ngay tình nhận được bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản
án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau
đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.”
Tuy nhiên, quá trình thực thi cho thấy quy định hiện hành chưa bảo vệ một cách triệt để quyền lợi của người thứ ba khi mà việc giao dịch của họ là thiện chí, ngay tình và trong một số trường hợp chưa bảo đảm được tính ổn định của các giao dịch dân sự Đặc biệt là đối với các giao dịch dân sự mà đối tượng giao dịch là tài sản đã được đăng ký quyền sở hữu và người thứ ba căn cứ vào tình trạng đã đăng ký của tài sản để thực hiện việc giao dịch
Dự thảo bổ sung thêm quy định trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó đã được đăng ký tại cơ quan
Trang 10nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác
cho người thứ ba và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba biết, hoặc phải biết tài sản là đối tượng của giao dịch đã bị chiếm đoạt bất hợp pháp hoặc ngoài ý chí của chủ sở hữu
Ngoài ra, Dự thảo luật cũng nên bổ sung thêm quy định nhằm hạn chế quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu nếu người thứ ba ngay tình chiếm hữu tài sản liên tục, công khai trong thời hạn mười năm thì chủ sở hữu tài sản không được
quyền đòi lại tài sản để thống nhất với quy định về thời hiệu xác lập quyền sở hữu đối với động sản
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 thì trong trường hợp tài sản
là đối tượng giao dịch đã được đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng do bị chiếm đoạt một cách bất hợp pháp thì quyền lợi của
người thứ ba sẽ không được bảo vệ vì theo quy định của pháp luật người thứ ba
có nghĩa vụ phải biết là tài sản đó bị chiếm đoạt bất hợp pháp
Quy định như trên là không phù hợp với thực tế, bởi vì thông thường để chứng minh một tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu có
bị chiếm đoạt bất hợp pháp hay không, người tham gia giao dịch chỉ có thể thực hiện thông qua việc kiểm tra các giấy tờ đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó Như vậy, khi một tài sản đã được chủ sở hữu thực hiện đăng ký quyền
sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì có nghĩa rằng tài sản đó đã được cơ quan nhà nước xác nhận là tài sản có chủ sở hữu Vì vậy, việc người thứ ba đã căn cứ vào việc xác nhận đó của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì hành vi giao dịch của họ là có căn cứ pháp luật Mối quan hệ tài sản bất hợp pháp giữa người giao dịch với người thứ
ba và chủ sở hữu tài sản thực sự đã được hợp thức hóa bởi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thông qua việc thực hiện đăng ký quyền sở hữu tài sản
Quy định người thứ ba có trách nhiệm phải biết tài sản đã được đăng ký quyền
sở hữu có phải là tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp hay không là không phù hợp với thực tiễn và vô hình chung nhà nước đẩy trách nhiệm xác minh tính hợp pháp của tài sản cho người thứ ba