(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu(Luận văn thạc sĩ) Triển khai phương pháp dạy học dự án trong môn công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
Trang 1iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 05 tháng 04 năm 2019
Bùi Như Ý
Trang 2v
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, người nghiên cứu xin cảm ơn:
1 PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
2 Quý thầy cô giảng dạy lớp cao học Giáo dục học 17B và quý thầy cô Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh, là những người đã tận tình giảng dạy và truyền thụ những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt khóa đào tạo sau đại học
3 Ban giám hiệu và quý thầy cô trường Quốc tế Á Châu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu của mình
4 Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình vì đã động viên, hỗ trợ, tạo động lực cho người nghiên cứu trong quá trình tham gia chương trình học
Xin chân trọng cảm ơn!
Trang 3vi
TÓM TẮT
Chúng ta đang sống trong một thế kỉ của sự hội nhập Quốc tế Đó là thế kỉ đòi hỏi con người phải đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Do đó, nền giáo dục không chỉ trang bị nền tảng kiến thức mà còn phải hình thành được các kĩ năng: kĩ năng tự nghiên cứu, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cần thiết hiện nay Chính vì vậy, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “Triển khai phương pháp dạy học dự án môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu”
Cấu trúc luận văn gồm các phần chính:
Chương 1: Cơ sở lí luận về dạy học dự án
Chương 2: Thực trạng về tổ chức dạy học môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
Chương 3: Tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
Kết luận và kiến nghị
Trang 4vii
ABSTRACT
We live in a century of the international integration which requires to meet the requirements of society Therefore, education is not only equips us with the knowledge base, but also form us many skills such as self- study, searching and information processing, teamwork, using information technology which are very essential The reform of teaching methods is an urgent problem for us nowadays That’s the reason why the researcher carries out the project “How develop Project- based learning method in teaching Technology for grade 10 at The Asian International School.”
The research includes three chapters
Chapter 1: Rationale for project- based teaching
Chapter 2: The real state of in teaching Technology for grade 10 at The Asian International School
Chapter 3: Organization of project- based teaching Technology for grade 10 at The Asian International School
Conclusions and proposal
Trang 5viii
MỤC LỤC
LÍ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CẢM ƠN v
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
9 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5
10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 5
Chương 1 6
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 6
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 12
1.2.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 12
Trang 6ix
1.2.1.1 Phương pháp dạy học 12
1.2.1.2 Dự án 13
1.2.1.3 Dạy học theo dự án 13
1.2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 15
1.2.3 PHÂN LOẠI DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 19
1.2.4 QUY TRÌNH DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 21
1.2.5 ĐÁNH GIÁ TRONG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 24
1.2.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KĨ THUẬT SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC DỰ ÁN 25
1.2.6.1 Phương pháp thuyết trình 25
1.2.6.2 Phương pháp đàm thoại 25
1.2.6.3 Dạy học nhóm 27
1.2.6.4 Sơ đồ tư duy 27
1.2.6.5 Kĩ thuật khăn phủ bàn 29
1.2.6.6 Kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H 29
1.2.7 VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRONG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 30 1.3 ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG MÔN CÔNG NGHỆ 10 31
1.3.1 ĐỊNH HƯỚNG KHOA CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG MÔN CÔNG NGHỆ 10 31
1.3.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ TÂM LÍ CỦA HỌC SINH PTTH 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 36
Trang 7x
CHƯƠNG 2 37
THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG QUỐC TẾ Á CHÂU 37
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG QUỐC TẾ Á CHÂU 37
21.1 Giới thiệu chung 37
2.2 GIỚI THIỆU MÔN CÔNG NGHỆ 10 43
2.2.1 Mục tiêu môn Công nghệ 10 43
2.2.2 Vai trò, nhiệm vụ môn Công nghệ 10 ở trường phổ thông hiện nay 43
2.2.3 Chương trình môn Công nghệ 10 45
2.2.4 Đặc điểm của môn Công nghệ ở trường THPT 50
2.2.4.1 Tính cụ thể và tính trừu tượng 50
2.2.4.2 Tính tổng hợp 51
2.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG QUỐC TẾ Á CHÂU 52
2.3.1 Khảo sát để đánh giá thực trạng 52
2.3.2 Kết quả khảo sát 52
Chương 3 66
TỒ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG QUỐC TẾ Á CHÂU 66
3.1 CẤU TRÚC NỘI DUNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG QUỐC TẾ Á CHÂU 66
3.2 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG QUỐC TẾ Á CHÂU 72
Trang 8xi
3.2.1 Đề xuất phương án tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường
Quốc tế Á Châu 72
3.2.2 Thiết kế giáo án để tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu 81
3.3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 94
3.3.1 Mục đích thực nghiệm, đối tượng và nội dung thực nghiệm 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 11xiv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ TRANG
Biểu đồ 2.1: Hình thức tổ chức dạy học được giáo viên sử dụng (Tỉ lệ %) 53
Biểu đồ 2.2: Sự cần thiết của đổi mới phương pháp dạy học (Tỉ lệ %) 54
Biểu đồ 2.3: Về việc đào tạo/ tập huấn dạy học dự án cho giáo viên (Tỉ lệ %) 54
Biểu đồ 2.4: Thái độ học tập của HS 58
Biểu đồ 2.5: Khó khăn khi học môn Công nghệ 10 59
Biểu đồ 2.6: Lượng kiến thức tiếp thu sau mỗi giờ học Công nghệ 60
Biểu đồ 2.7: Thống kê việc tìm tài liệu tham khảo ngoài SGK 62
Biểu đồ 2.8: Thống kê việc xem lại bài ở nhà 62
Biểu đồ 2.9: Thống kê ý nghĩa của việc tích cực, tự lực trong học tập 62
Trang 12xv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân phối chương trình môn Công nghệ 10 45
Bảng 2.2: Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học 55
Bảng 2.3: Thống kê sử dụng cách thức đánh giá 56
Bảng 2.4: Thống kê ý kiến GV về những khó khăn khi giảng dạy môn Công nghệ 10 56 Bảng 2.5: Thống kê thái độ HS học tập môn Công nghệ 10 57
Bảng 2.6: Mức độ khó khăn khi học môn Công nghệ 10 58
Bảng 2.7: Thống kê các PPDH giáo viên thường dùng 60
Bảng 3.8: Thống kê mức độ hứng thú của lớp TN và ĐC 95
Bảng 3.9: Thống kê thái độ học tập của lớp TN và ĐC 95
Bảng 3.10: Thống kê về mức độ tích cực trong nhiệm vụ được giao 96
Bảng 3.11: Thống kê về mức độ tham gia đề xuất ý tưởng 96
Bảng 3.12: Thống kê về mức độ tự lực trong việc lập kế hoạch 97
Bảng 3.13: Thống kê mức độ tự lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình làm việc 97
Bảng 3.14: Thống kê năng lực được phát triển 98
Bảng 3.15: Phân bố tần suất điểm số của HS lớp TN và ĐC dự án 1 99
Bảng 3.16: Phân bố tần suất điểm số của HS lớp TN và ĐC dự án 2 100
Bảng 3.17: Phân bố tần suất điểm số của HS lớp TN và ĐC dự án 3 101
Bảng 3.18: Bảng phân bố tần suất điểm số của HS lớp TN và ĐC dự án 4 102 Bảng 3.19: Thống kê số liệu kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 106
Trang 13đề phức hợp trong những tình huống thay đổi…Trong xã hội tri thức việc phát triển kinh tế - xã hội phải dựa vào tri thức Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế- xã hội thông qua việc đào tạo con người chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức
Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa và xã hội tri thức, có thể khẳng định rằng mô hình giáo dục “hàn lâm kinh viện”, đào tạo ra những con người thụ động, chỉ chú trọng việc truyền thụ những kiến thức lý thuyết xa rời thực tiễn còn gọi là “kiến thức chết” không còn thích hợp với những yêu cầu mới của xã hội và thị trường lao động Vì vậy giáo dục cần phải đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội và thị trường lao động [1, tr.63] Trên tinh thần Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/ 11/ 2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định
quan điểm định hướng “ Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh từ quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học Học phải đi đôi với hành, lí luận phải gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.[11]
Trang 142
Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ một nhiệm vụ quan trọng của Ngành Giáo dục và đào Đào tạo là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nền nếp tư duy sáng tạo của người học” [25] Định hướng trên đã được nêu rõ ở Luật giáo dục điều 28 mục 2 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc thoe nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến vào thực tiễn; tác động dến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[9]
Công nghệ 10 là một môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Đây cũng là một môn học có tính liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và là cầu nối cho các môn khoa học với cuộc sống thực tiễn Khi môn học này chính thức được đưa vào giảng dạy tại các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông với mục đích định hướng cho người học chọn nghề phù hợp với khả năng của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội về nguồn nhân lực có chất lượng cao trong điều kiện toàn cầu hóa và xã hội hóa tri thức Tuy nhiên, thực tế thì tầm quan trọng của môn học này ở các trường phổ thông hiện nay chưa được xã hội (cấp lãnh đạo nhà trường, phụ huynh học sinh, học sinh…) quan tâm đúng mức Bên cạnh đó việc dạy học của một bộ phận GV chỉ chú trọng việc truyền thụ những tri thức khoa học chuyên môn, việc tổ chức các hoạt động học tập chưa phát huy được tính tích cực của người học, bài giảng thì còn mang nặng tính lý thuyết thiếu những ứng dụng thực tiễn Chính vì lẽ đó làm cho việc học trở nên căng thẳng, nhồi nhét kiến thức, học sinh học tập đối phó, thụ động, chưa tích cực tham gia các hoạt động học tập hiệu quả dẫn đến chất lượng dạy và học chưa cao
Để phát huy tính tích cực của HS cần có sự thay đổi của cả thầy và trò “Học
không phải là điều được làm cho học sinh mà là điều học sinh tự làm cho mình”
Người thầy phải tổ chức quá trình dạy học có nội dung môn học hấp dẫn, PPDH tích
Trang 153
cực, hình thức tổ chức dạy học phong phú làm cho HS hiểu rằng muốn chiếm lĩnh tri thức phải tự giác đề ra mục đích tự tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của mình một cách khoa học Do vậy dạy học theo phương pháp “dạy học dự án” đem lại luồng gió mới về đổi mới PPDH thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi của cuộc sống hiện nay
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn và để thực thi chủ trương đổi mới
PPDH, người nghiên cứu mạnh dạn chọn đề tài: Triển khai phương pháp dạy học dự
án trong môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu làm công trình tốt nghiệp
thạc sĩ của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Vận dụng PPDH dự án vào giảng dạy môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, người nghiên cứu thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học theo dự án
- Nghiên cứu thực trạng dạy học môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
- Triển khai dạy học dự án trong dạy học môn Công nghệ 10 tại trường Quốc
tế Á Châu
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Phương pháp dạy học theo dự án trong môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Hoạt động dạy và học môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 164
Người nghiên cứu chỉ thực nghiệm sư phạm dạy học dự án cho học sinh khối 10: Lớp 10/3, 10/4 thực nghiệm và 10/5, 10/6 đối chứng Các nội dung tiến hành thực nghiệm gồm:
- Xác định sức sống của hạt
- Pha chế dung dịch Boocdo phòng trừ nấm hại
- Làm sữa chua
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hiện nay thực trang giảng dạy môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu còn mang nặng tính lý thuyết, thiếu tính liên hệ và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Nếu việc triển khai được phương pháp dạy học dự án vào giảng dạy môn Công nghệ 10 như người nghiên cứu đề xuất sẽ phát triển tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn này
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với những nhiệm vụ trên, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là cách thu thập thông tin từ sách, báo, giáo trình, tạp chí, Internet…Thông qua phương pháp này người nghiên cứu thu thập các thông tin về đặc điểm nội dung môn Công nghệ 10 ở trường phổ thông và cơ sở khoa học của PPDH dự án
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Người nghiên cứu khảo sát ý kiến HS trường Quốc tế Á Châu và khảo sát ý kiến của một số GV khác đang giảng dạy môn Công nghệ lớp 10 (bằng bảng hỏi) nhằm tìm hiểu thực trạng giảng dạy và khảo sát kết quả của việc thực nghiệm PPDH dự án giảng
dạy môn Công nghệ lớp 10 tại trường Quốc tế Á Châu [Phụ lục 1,2,3,4]
Phương pháp quan sát
Trang 175
Người nghiên cứu tham gia dự giờ tiết giảng môn Công nghệ lớp 10 của những
GV khác để đánh giá thực trạng giảng dạy và mức độ tích cực học tập của HS trong giờ học Khi dạy thực nghiệm, người nghiên cứu có nhờ 02 GV trong tổ ghi nhận hoạt động của HS diễn ra trong giờ học môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu [Phụ lục 5]
Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm dạy học môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu để kiểm nghiệm hiệu quả ban đầu của việc sử dụng cách tổ chức dạy học theo dự án mà người nghiên cứu đề xuất
Phương pháp thống kê
Được sử dụng để kiểm nghiệm kết quả khảo sát thực trạng của việc dạy và học môn Công nghệ 10, cũng như kiểm nghiệm kết quả của việc triển khai PPDH dự án sau thực nghiệm
9 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần làm phong phú hơn cách thức tổ chức dạy học theo dự án nói chung và việc vận dụng cách thức tổ chức dạy học theo dự án vào môn Công nghệ 10 nói riêng tại trường Quốc tế Á Châu
10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
- Phần mở đầu
- Phần nội dung gồm:
+ Chương 1: Trình bày cơ sở lí luận của phương pháp dạy học dự án
+ Chương 2: Thực trạng về PPDH môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu
+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 181.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Trước khi được nghiên cứu với tư cách như một lĩnh vực của khoa học giáo dục, dạy học theo dự án kế thừa những luận điểm tiền thân từ thời cổ đại cho đến đầu thế kỉ
XX không chỉ ở xã hội phương Tây mà còn trong các triết lý giáo dục ở phương Đông
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) đã nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc
duyệt hồ”, tức là “học thì phải luyện tập, chẳng phải vui lắm sao?”[10] Socrate
(469-399) trước công nguyên)-bậc thầy về truy vấn thời Hi Lạp cổ đại đã xây dựng mô hình học tập thông qua cấu trúc đặt câu hỏi - điều tra để trả lời - phản biện Ngay cả nhà triết học Aristotle (384-322 trước công nguyên) thời Hi Lạp cổ đại cũng từng nêu trong tác phẩm “Ðạo đức học viết tặng Nicomachean” (The Nicomachean Ethics): “Với những điều chúng ta phải học trước khi có thể làm được, chúng ta học bằng cách làm những điều ấy” (For the things we have to learn before we can do them, we learn by doing them) [30]
Theo M.Knoll khái niệm “dự án” trong dạy học đã được sử dụng từ thế kỉ XVI
ở các trường dạy nghề kiến trúc Ý sau đó lan rộng sang các nước Châu Âu khác và Mĩ
từ thế kỉ XVIII [23] Những kiến trúc sư người Ý đã làm việc chuyên nghiệp xu hướng
Trang 19Năm 1870, Stillman H Robinson tại đại học Công nghiệp Illinois tại Urbana (Mĩ) cho rằng lý thuyết và thực hành nên được kết hợp chung trong việc đào tạo những
kỹ sư Ông đề nghị “trong thực tế giảng dạy với dự án, HS được yêu cầu phải tạo ra máy móc cùng các bộ phận cấu thành theo chính thiết kế của riêng họ” Với yêu cầu này, Robinson định hình hai mục tiêu dạy học: đào tạo HS trở thành những kỹ sư “thực hành” và đào tạo nên những công dân “dân chủ” [23]
Ở thế kỉ XX, nhà cải cách giáo dục John Dewey (1859- 1952) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lí thuyết cho phương pháp dạy học theo dự án ở thời
kì này Với học thuyết “learning by doing” ông cho rằng HS có thể tư duy bằng cách thông qua hành động, tranh luận và giải quyết vấn đề Quá trình này cho phép lớp học
là môi trường với học sinh là trung tâm thông qua mô hình dạy học theo dự án John Dewey đã thử nghiệm đầu tiên phương pháp dạy học dự án ở trường Đại học bang Chiago ở Mĩ HS được chia thành các nhóm nhỏ và tham gia thực hiện các dự án cụ thể mà trong quá trình đó họ học cách đọc, viết, tính toán, biết lắng nghe người khác, học cách đảm nhận trách nhiệm và còn nhiều thứ khác Từ thực nghiệm đó John Dewey đã rút ra 3 nhận định:
- Tất cả HS, để học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó
- Tất cả HS, phải học cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề
- Tất cả HS, phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội [24]
Trang 208
Tuy nhiên những người đã thực sự phát triển, nâng tầm phương pháp này phải
kể đến: Nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Jean Piaget (1896-1980) – người đặt nền tảng cho Thuyết kiến tạo nhận thức (Constructivist theory of knowing) quan niệm môi trường học tập lý tưởng là nơi người học xây dựng tri thức cho mình thông qua việc đặt câu hỏi, điều tra, tương tác với người khác và có phản hồi hoặc phản biện bằng kinh nghiệm của bản thân [23] Năm 1918, William Heard Kipatrick (1871-1965) lần đầu tiên đưa ra khái niệm về “phương pháp dự án” (The project method) và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Với nhận định “tâm lí đứa trẻ” là yếu tố quan trọng trong quá trình học tập, Kilpatrick coi động cơ thúc đẩy học sinh như là các tính năng quan trọng của phương pháp dự án: Trẻ em muốn làm những gì chúng thích hơn là làm những gì theo sự ép buộc của người khác [21]
Những năm cuối thế kỉ XX có rất nhiều nghiên cứu về dạy học theo dự án được tác giả John W Thomas tổng kết trong bài viết “Tổng quan về nghiên cứu dạy học theo dự án” (A review of research on Project-based learning) vào năm 2000 Ông đã tổng kết các nghiên cứu về dạy học theo dự án với từng nội dung riêng biệt như:
- Khái niệm “dạy học theo dự án” có nghiên cứu của các tác giả Tretten và Zacharious vào năm 1997 [23] Các nghiên cứu này đưa ra sự khác nhau giữa dạy học theo dự án với các mô hình dạy học khác có liên quan đến dự án
- Đối tượng tham gia vào phương pháp dạy học theo dự án, có các nghiên cứu thống kê của Học viện phát triển giáo dục (The Academy for Educational Development, viết tắt AED) hay Hệ thống định giá trị gia tăng Tennessee ở Menphis Theo báo cáo của các nghiên cứu thống kê này, số lượng người tham gia vào các hoạt động dạy học theo dự án ngày càng tăng [23]
- Ngoài ra, tác giả John W Thomas còn ghi nhận những nghiên cứu nền tảng lí luận và thực tiễn của phương pháp dạy học dự án, những tác động tích cực của phương pháp dạy học theo dự án, vai trò và đặc điểm của HS, những thách thức
và nâng cao hiệu quả hay những định hướng cho nghiên cứu về phương pháp
Trang 219
dạy học dự; có thể liệt kê các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Horan, Lavaroni, Beldon vào năm 1996; của Boaler năm 1997; của các tác giả Meyer, Tunner, Spencer (1997); nghiên cứu của Rosenfeld và nhóm cộng sự vào năm
- Nghiên cứu vận dụng dạy học dự án vào thực tiễn của D.Moursund ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học dự án (năm 1999)
- Nghiên cứu thực nghiệm về việc tăng thử thách cho những chuyên gia dạy học
dự án để tìm ra các hình thức huấn luyện tốt nhất của nhóm tác giả P Blumenfeid, Krajcik và các cộng sự (năm 1994), các tác giả nhóm nhà nghiên cứu W Diehl tại trung tâm Giáo dục và Phát triển tuổi trẻ tại Boston (năm 1999)…
- Thể chế hóa phương pháp dạy học theo dự án vào những đổi thay của môi trường học nhóm tác giả Kĩ thuật và Nhận thức trường Đại học Vanderbilt (năm 1991) hay nghiên cứu của R Glaser về nhận thức chức năng và cấu trúc xã hội thông qua dự án về cuộc sống tại bang New Jersey (năm 1998)
Đầu thế kỉ XXI, William N Bender đã chỉ ra cách tiếp cận dạy học tốt nhất của dạy học dự án để giúp người học giải quết các vấn đề thực tiễn Ông đã trình bày sự phù hợp của phương pháp dạy học dự án đối với từng lớp học cụ thể, song song đó ông cũng chỉ ra những ưu thế của dạy học dự án so với các phương pháp khác William N Bender trình bày các bước thực hiện dự án cụ thể từ việc lập kế hoạch, hướng dẫn thực hiện một số mô hình dự án và đề xuất các kĩ thuật và các chiến lược để dạy học theo
dự án Cuối cùng William N Bender đã phân tích sự lựa chọn đánh giá trong phương
Trang 2210
pháp dạy học theo dự án và sự cần thiết kết hợp phương pháp dạy học theo dự án với các tiêu chuẩn Nhà nước [21]
Như vậy, trên thế giới dạy học dự án đã có những biến động, di chuyển qua lại
từ định nghĩa, cách thức tiến hành hay phương pháp vận dụng từ nhiều lĩnh vực khác nhau, từ châu lục này sang châu lục khác Ngày nay, vì giáo dục là quốc sách hàng đầu
để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển mạnh mẽ nên đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng Dạy học theo dự án giúp người học tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các học sinh dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam
Ở các trường Cao đẳng và Đại học dạy học dự án được áp dụng thông qua các
đồ án tốt nghiệp, các bài tập lớn, tiểu luận hay các khóa luận trong đào tạo nhìn chung sinh viên đã quen thuộc Trong hình thức này sinh viên tự lực thực hiện những nhiệm
vụ học tập mang tính nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Đối với trung học phổ thông, vào những năm 1960-1980 có những hoạt động gần gũi với dạy học dự án như: phong trào hướng nghiệp, dự án trồng cây hay dự án phát triển vườn trường Tuy nhiên cho đến nay dạy học theo dự án vẫn chưa phổ biến ở mọi cấp học
Những năm gần đây, với những ưu điểm vượt trội dạy học dự án đang được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều lĩnh vực cùng với sự tăng cường hợp tác quốc tế thông qua dự án “ Dạy học cho tương lai” để đào tạo bồi dưỡng giáo viên, dự án này được sự
hỗ trợ của Intel nhằm giúp giáo viên khối phổ thông trở thành nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn học áp dụng công nghệ vào bài học, thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán hay kĩ năng hợp tác của học sinh
Dự án của Microsoft với Bộ giáo dục và đào tạo nhằm đẩy mạnh việc tích hợp công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam, cũng đồng thời hỗ trợ giáo viên và học
Trang 23Về mặt nghiên cứu, Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo đã có bài viết “Dạy học dự án - một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục số 80 phát hành tháng 4/ 2004 [6] Bài viết “Đào tạo giáo viên ở Cộng hòa liên bang Đức và những kiến nghị cho việc cải cách đào tạo giáo viên
ở Việt Nam Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên trung học phổ thông
và trung cấp chuyên nghiệp” được tác giả báo cáo tại hội thảo “Mô hình đào tạo giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp trong bối cảnh hội nhập Quốc tế” vào năm 2009 Trong bài viết tác giả so sánh việc nhận định việc đào tạo giáo viên tại Đức với mô hình đào tạo giáo viên tại Việt Nam từ đó đề xuất ra dự án phát triển giáo viên dạy trung học phổ thông và dạy nghề [7].Trong cuốn sách “Lí luận dạy học hiện đại: Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học” của tác giả Nguyễn Văn Cường- Bernd Meier [1] Tác giả đã đưa ra khái niệm dự án, dạy học theo dự án, đặc điểm, phân loại và tiến trình cùng với những ưu, nhược điểm của dạy học theo dự
án Ngoài ra tác giả cũng giới thiệu các phương pháp khác như đàm thoại, dạy học nhóm, WebQuest
Trong luận án tiến sĩ Giáo dục [20], Trần Thị Hoàng Yến đã xây dựng và củng
cố cơ sở lí luận của phương pháp dạy học dự án, ngoài ra tác giả còn định hướng đổi mới phương pháp dạy học Đại học phát huy tính tích cực, độc lập và sáng tạo của sinh viên, đồng thời đưa ra những tiêu chí lựa chọn nội dung môn học để tổ chức dạy học
dự án trong học phần Xác suất và Thống kê của Đại học, từ những thực nghiệm tác giả
đã khẳng định tính hiệu quả của dạy học dự án
Trang 2412
❖ Một số nghiên cứu về phương pháp dạy học dự án trong môn Công nghệ
Luận án tiến sĩ giáo dục học [14], Nguyễn Thị Diệu Thảo xây dựng tiến trình dạy học dự án từ đó áp dụng vào đào tạo giáo viên Công nghệ phần Kinh tế gia đình,
từ những thực nghiệm tại các trường Cao đẳng sư phạm tác giả đã khẳng định được những tính ưu việt của dạy học dự án theo những mục tiêu giáo dục: hướng tích cực hóa, tự chủ hóa và những hoạt động thực tiễn của người học Tuy nhiên, tác giả cũng gặp khó khăn trong việc đánh giá kết quả học tập
Nguyễn Thị Ngọc Châu với dự án “Dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường trung học phổ thông Bình An, tỉnh Bình Dương” [5] Công trình nghiên cứu đã
đề xuất và thiết kế giáo án một số nội dung môn Công nghệ 10 nhằm hình thành kĩ năng cho người học và góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Công nghệ 10
Cũng vận dụng phương pháp dạy học theo dự án cho nội dung về các môn Công nghệ nhưng trong luận văn “Dạy học theo dự án cho môn Công nghệ 9 tại trường trung học cơ sở Phú Cường, tỉnh Bình Dương” (2013), tác giả Huỳnh Thanh Tâm tiến hành
so sánh giữa dạy học theo dự án với các phương pháp dạy học truyền thống khác [13]
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.2.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1.1 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau mà người ta đã bàn đến nhưng vẫn chưa thống nhất được trong các định nghĩa, phân loại cũng như về mô hình cấu trúc của nó Song dấu hiệu chung nhất về
khái niệm PPDH như sau: “ PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV
và HS trong những môi trường dạy học được tổ chức nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, thái độ, phát triển năng lực và phẩm chất” [1, tr 98]
Hilbert Meyer đưa ra một định nghĩa phương pháp dạy học được sử dụng rộng rãi ở Đức “Các phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức, trong đó và
Trang 2513
bằng cách đó giáo viên và học sinh tiếp thu hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh dưới những điều kiện khung về thiết chế.” [27]
Từ những khái niệm trên có thể cho thấy: Phương pháp dạy học gồm hoạt động
của thầy và của trò Hoạt động này có sự tác động qua lại lẫn nhau trong đó thầy có chức năng chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập, trên cơ sở đó trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức cần thiết Kết quả tương tác giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò trong quá trình dạy học là đạt được các mục tiêu dạy học đề ra
Theo Nguyễn Như Ý, dự án là “một dự thảo, một văn kiện quan trọng về luật phát hay kế hoạch” [19] Theo Viện ngôn ngữ học, dự án là “bản dự thảo về một việc gì” [18]
Vậy, dự án là một nhiệm vụ nghiên cứu của một hay một nhóm học sinh mà tại
đó đòi hỏi một lượng lớn sự nỗ lực, thời gian và có khi cả chi phí để đạt được những đích đề ra hay tạo ra những sản phẩm
Trang 2614
Tác giả Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường “ Dạy học dự án là một hình thức dạy học, người học tự lực thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của dạy học theo dự án.”[1, tr 162] Đối với định nghĩa này thì phương pháp dạy học theo dự án có tính phức hợp, tính tự lực và sự kết hợp giữa lí thuyết với thực hành để tạo ra sản phẩm đó chính là kết quả của việc thực hiện nhiệm
vụ học tập
Theo Nguyễn Thị Diệu Thảo “Dạy học theo dự án là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó người học dưới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp mang tính thực tiễn với hình thức làm việc nhóm là chủ yếu Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, tạo ra sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu”[14]
Theo định nghĩa của chương trình dạy học Intel, dạy học theo dự án là “một mô hình dạy học trong đó học sinh tham gia vào việc tìm hiểu những vấn đề hấp dẫn và cuối cùng phải tạo ra được những sản phẩm thực tế Dự án đặt học sinh vào những vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo Dự án nhắm đến những mục tiêu giáo dục và đặc thù” [28]
Tại học viện Buck, các học giả đưa ra khái niệm “dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh đạt được kiến thức và kỹ năng bằng cách làm việc trong một thời gian nhất định để điều tra và trả lời được các câu hỏi hấp dẫn, phức tạp, rắc rối và thử thách.” [29]
Khái quát lại có hai nhóm khái niệm chính về dạy học theo dự án như sau:
- Khái niệm dạy học theo dự án với nghĩa rộng coi hoạt động thực hành là không bắt buộc và nó nhấn mạnh tính tự lực của học sinh
- Khái niệm dạy học theo dự án với nghĩa hẹp nó gắn liền với hoạt động thực hành và tạo ra sản phẩm của dự án
Việc xếp loại theo phương pháp dạy học dự án với các quan điểm:
Trang 2715
- Dạy học theo dự án là một quan điểm dạy học
- Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học
- Dạy học theo dự án là một hình thức tổ chức dạy học
Trên cơ sở phân tích các khái niệm dạy học theo dự án, người nghiên cứu định nghĩa
dạy học theo dự án là: Dạy học dự án là một phương pháp dạy học, trong đó người học
dưới sự hướng dẫn của giáo viên thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tự lực, xác định mục tiêu, lập kế hoạch, thực hiện dự án, tham gia kiểm tra và đánh giá sản phẩm trong khoảng thời gian xác định, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành với hình thức làm việc nhóm
1.2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
“Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho phương pháp dạy học này đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của dạy học theo dự án: định hướng người học, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm” [1, Tr.63]
Trang 2816
Hình 1.1: Sơ đồ những đặc điểm của PPDH dự án
Đặc điểm của dạy học dự án
Định hướng thực tiễn
Có ý nghĩa xã hội
Định hướng hứng thú
Mang tính phức tạp
Định hướng hoạt động
Tính tự lực cao của HS
Cộng tác làm
việc
Định hướng sản phẩm
Trang 29mô tế bào trong nhân giống cây trồng” sau khi thực hiện dự án học sinh sẽ được thế nào là nuôi cấy mô tế bào và hình thành kĩ năng thực hiện các bước theo quy trình nuôi cấy mô tế bào
❖ Có ý nghĩa thực tiễn xã hội
Dự án học tập góp phần gắn liền việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
Ví dụ: Khi dạy bài “Nhận biết các loại sâu bệnh” giáo viên có thể cho học sinh tham quan các khu vườn trồng rau hay các vườn trồng cây ăn trái để học sinh có thể quan sát được các loại sâu bệnh và cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, biện pháp thủ công hay biện pháp sinh học mà người nông dân phòng tránh các loại sâu bệnh hại
❖ Định hướng hứng thú người học
Học sinh được trực tiếp đề xuất cũng như tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của học sinh Giáo viên đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ học sinh
❖ Tính phức hợp
Trang 30❖ Định hướng hành động
Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào thực hành, huy động mọi giác quan, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức, tăng cường kĩ năng hành động thực tiễn, kinh nghiệm sống Từ đó, con người trở nên năng động, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
❖ Tính tự lực cao của người học
Học sinh chủ động, tích cực tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình học, từ việc đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết, giải quyết vấn đề cũng như trình bày, báo cáo sản phẩm Giáo viên đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ học sinh
❖ Cộng tác làm việc
Dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa học sinh và giáo viên cũng như với các lực lượng xã hội khác them gia trong
dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
❖ Định hướng sản phẩm
Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này
có thể sử dụng, công bố, giới thiệu được
Trên đây là các đặc điểm chính của phương pháp dạy học theo dự án Dựa vào đặc điểm trên có thể phân biệt phương pháp dạy học theo dự án với các phương pháp khác, và đây cũng là những đặc điểm nhận dạng để chúng ta xem xét những nội dung
Trang 3119
nào trong chương trình đào tạo nghề có thể vận dụng phương pháp dạy học theo dự án cho phù hợp
1.2.3 PHÂN LOẠI DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
Phương pháp dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện và tiêu chí khác nhau Dạy học theo dự án được phân lại như sau: [1, tr 164]
❖ Theo chuyên môn
Dự án trong một môn học: Là loại dự án mà có trọng tâm xuyên suốt nội dung
môn học đó
Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở các môn khác nhau
Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không liên quan trực tiếp tới môn học, thường là các hoạt động phong trào, Đoàn – Hội
❖ Theo sự tham gia của người học
Dự án cho cá nhân, dự án cho nhóm, dự án cho lớp học, dự án cho toàn trường
❖ Theo sự tham gia của giáo viên
Dự án có một giáo viên hướng dẫn, dự án có sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên
❖ Theo quỹ thời gian
Trong công trình Die Projektmethode của K Frey đã phân chia như sau: [28]
Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 – 6 giờ học
Dự án trung bình: Dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
Dự án lớn: Dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo quỹ thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, quỹ thời gian lớn hơn
❖ Theo nhiệm vụ
Theo Knoll M [26] đã phân loại dự án theo dạng sau:
Trang 3220
Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình
Dự án kiến tạo: Trọng tâm là việc tạo ra sản phẩm vật chất hoặc thực hiện các hoạt động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
Dự án hành động: Là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại
dự án không hoàn toàn tách biệt nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng Có thể tóm tắt phân loại dự án như sau [1, tr64]:
Dự án lớn
Dự án cá nhân
Dự án nhóm
Dự án toàn lớp
Dự án toàn trường
Dự án tìm hiểu
Dự án nghiên cứu
Dự án kiến tạo
Dự án hành động
Theo nội
dung
Theo thời gian
Theo hình thức
Theo nhiệm vụ
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại các dự án theo đặc thù
Trang 3321
1.2.4 QUY TRÌNH DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
Hiện nay trên thế giới có khá nhiều quan điểm khác nhau về sự phân chia các giai đoạn trong tiến trình thực hiện như:
Theo K.Frey xây dựng tiến trình gồm các bước: sáng kiến dự án, thảo luận về sáng kiến, lập kế hoạch, thực hiện dự án, kết thúc dự án và đi đôi với nó còn có kiểm tra, trao đổi và điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án
Kilpatrick đưa ra 4 giai đoạn trong dạy học dự án: ý tưởng dự án, lập kế hoạch, thực hiện dự án và đánh giá [25]
Chương trình PIL của Microsoft (Giai đoạn II) thực hiện năm 2008 giới thiệu quy trình dạy học dự án gồm các giai đoạn: giới thiệu dự án, chia nhóm giao nhiệm vụ, thực hiện dự án và báo cáo tổng kết [8]
Theo tài liệu “Dạy và học tích cực- một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” của dự án Việt - Bỉ, dạy học theo dự án gồm 6 giai đoạn: lựa chọn chủ đề, lập kế hoạch, thu thập thông tin, xử lí thông tin, trình bày kết quả và đánh giá kết quả [4]
Tác giả Nguyễn Văn Cường đề xuất tiến trình dạy học theo dự án dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp gồm năm giai đoạn [1, tr 165] là xác định chủ đề và mục đích của dự án, xây dựng kế hoạch thực hiện, thực hiện dự án, trình bày sản phẩm
dự án, kiểm tra-đánh giá dự án Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Văn Cường cũng khẳng định cách phân chia quy trình như trên chỉ mang tính tương đối vì đôi khi việc kiểm tra-đánh giá được thực hiện lồng vào các giai đoạn trong dự án để chỉnh sửa kịp thời các vấn đề phát sinh; hoặc giai đoạn trình bày và kiểm tra thường được mô tả chung Khi đó, tiến trình dự án có thể được mô tả còn bốn giai đoạn là xác định chủ đề và mục tiêu dự án, lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá dự án
Trên cơ sở phân tích các quy trình dạy học theo dự án trên, trong đề tài này người nghiên cứu đề xuất quy trình dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường Quốc tế Á Châu theo 5 giai đoạn như sau:
Trang 34• GV kiểm tra, theo dõi và hỗ trợ khi cần thiết
• HS thu thập, đánh giá và sử dụng thg tin, tạo ra các sản phẩm dự
• GV đánh giá quá trình và kết quả dự án
• HS rút kinh nghiệm cho dự án tiếp theo
Trang 3523
Giai đoạn 1: Xác định chủ đề và mục tiêu của dự án
Đây là giai đoạn quan trọng để định hình các hoạt động của người dạy và người học trong suốt quá trình thực hiện dự án Giáo viên gợi ý một số đề tài liên quan tới thực tiễn cuộc sống và nội dung bài học, từ những gợi ý của giáo viên học sinh suy nghĩ, tìm ý tưởng cho dự án
Giáo viên hình thành cho học sinh những kĩ năng là việc nhóm, giải quyết vấn
đề, thuyết trình hay tổng hợp thông tin
Giai đoạn 2: Lập kế hoạch cho dự án
Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm và những yếu tố liên quan đến dự án, giáo viên cũng tạo điều kiện cho học sinh tự chọn nhóm làm việc Giáo viên cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá
Học sinh xây dựng kế hoạch thực hiện dự án dưới sự hướng dẫn của giáo viên: thời gian thực hiện, kinh phí, phương pháp thực hiện hay những quy định của sản phẩm sau đó tiến hành phân công công việc cho các thành viên trong nhóm
Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Học sinh tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ được giao: nghiên cứu tài liệu, tiến hành thí nghiệm, trao đổi với các thành viên trong nhóm
Giáo viên cần tôn trọng kế hoạch đã xây dựng của học sinh, tạo mọi điều kiện cho học sinh trao đổi, thu thập tài liệu và giữ vai trò là người theo dõi, kiểm tra, đôn đốc học sinh thực hiện dự án
Giai đoạn 4: Trình bày sản phẩm dự án
Sản phẩm của dự án có thể là vật chất hay hành động phi vật chất, sản phẩm được trình bày giữa các nhóm học, giới thiệu trong trường hay ngoài xã hội dưới dạng thu hoạch, báo cáo, mô hình, sản phẩm
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Trang 3624
Giáo viên và học sinh đánh giá sản phẩm của dự án thông qua những tiêu chí đã đề ra
và rút kinh nghiệm để thực hiện các dự án tiếp theo
1.2.5 ĐÁNH GIÁ TRONG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
Đánh giá dự án không đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà là đánh giá mức độ hiểu biết, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời theo dõi sự tiến bộ của học sinh Một số công cụ đánh giá:
Bài kiểm tra viết và kiếm tra nói: Các bài kiểm tra có thể đưa ra được chứng cứ
trực tiếp về khả năng tiếp thu kiến thức và hiểu kiến thức của học sinh
Sổ ghi chép là những phản ảnh về việc học và những hồi đáp với những gợi ý ở
dạng viết Ngoài những phản hồi, các gợi ý giúp thể hiện rõ các kỹ năng tư duy cụ thể
ở những phần quan trọng của dự án
Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị: Các cuộc phỏng vấn
miệng chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò sự hiểu bài của học sinh Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa ra lý do
về cách hiểu vấn đề Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưng dùng cho việc đánh giá kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thể được thực hiện bởi học sinh
Sự thể hiện: những bài trình bày, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinh thiết
kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em
Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập Học sinh xác định mục tiêu,
thiết kế chiến lược để đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xác định các tiêu chí để đánh giá
Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặc điểm về chất lượng
học tập qua đánh giá việc học của bạn học
Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kỹ năng cộng tác
Sản phẩm là những gì học sinh sáng tạo ra hoặc xây dựng nên thể hiện việc học
tập của các em [29]
Trang 3725
Các công cụ đánh giá này phải được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện dự
án và ở cuối dự án Tuy nhiên, đánh giá lúc này, bằng hình thức nào thì cũng không nên đặt nặng điểm số mà phải chú trọng phản hồi để học sinh để biết năng lực của bản thân, khắc phục những hạn chế và phát huy ưu điểm trong các dự án tiếp theo Giáo viên cũng nhận ra những sai sót của mình và có hướng khắc phục
1.2.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KĨ THUẬT SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC DỰ ÁN
1.2.6.1 Phương pháp thuyết trình
Có nhiều tác giả đề cấp đến khái niệm thuyết trình nhưng trong đề tài này người nghiên cứu sử dụng khái niệm theo tác giả Bernd Meied – Nguyễn Văn Cường “Thuyết trình là phương pháp dạy học đặc trưng bởi sự phối hợp giữa truyền đạt tri thức mang tính thông báo của giáo viên và việc tiếp thu mang tính tiếp nhận thụ động của người học, thông qua đó người học tiếp nhận thông tin, xử lí về mặt nhận thức và phát triển các quá trình trí nhớ” [1, tr 117]
Phương pháp này thường được sử dụng vì dễ tổ chức thực hiện và có thể cung cấp lượng thông tin cho nhiều người cùng một lúc, khả năng truyền đạt và bao quát thông tin nhanh chóng Nhưng, phương pháp thuyết trình cũng có những hạn chế như thông tin chỉ mang tính một chiều, học sinh tụ động, không chứng tỏ được lượng kiến thức của mình nên dễ gây chán nãn, bão hòa và quá tải về thông tin
Đối với môn Công nghệ 10, thuyết trình là phương pháp cần thiết để cung cấp cho học sinh một số khái niệm cơ bản, nội dung khó của bài học và được sử dụng hầu hết trong các bài học nhưng không nên chỉ sử dụng mỗi thuyết trình mà nên kết hợp với các phương pháp khác như vấn đáp, sử dụng thiết bị hỗ trở để giảm đi sự nhàn chán và kích thích được sự chú ý của học sinh
1.2.6.2 Phương pháp đàm thoại
Theo Bernd Meied – Nguyễn Văn Cường “Đàm thoại là phương pháp dạy học đặc trưng bởi việc trao đổi giữa giáo viên và người học hoặc giữa người học với nhau
Trang 3826
để cùng phát triển bài dười sự điều khiển của giáo viên thông qua việc đặt ra câu hỏi phù hợp với nội dung dạy học để từ đó lĩnh hội được nội dung bài học.” [1, tr 123] Trong nhà trường không thể bỏ việc tiến hành đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, khi tiến hành đàm thoại để giải quyết vấn đề trong dạy học đòi hỏi cần phải mang tính chất làm sáng tỏ nội dung dạy học Trong đàm thoại có sự đối thoại trực tiếp giữa giáo viên và học sinh hay học sinh với nhau trong sự điều khiển và định hướng của giáo viên Đàm thoại không được phép đơn giản như một cuộc đối thoại của giáo viên và học sinh mà cần có động cơ và xuất phát từ các dạng câu hỏi của giáo viên vì vậy sẽ có nhiều dạng đàm thoại khác nhau: [1, tr 124]
Đàm thoại giáo viên điều khiển: Giáo viên đưa ra mục đích, nội dung, đặt câu
hỏi và hướng dẫn học sinh trả lời phù hợp
Đàm thoại tranh luận: Đàm thoại trong quá trình giải quyết một vấn đề, trong
đó việc tranh luận tương đối tự do dưới sự chú ý đến các quy tắc giao tiếp trong tranh luận
Đàm thoại tự do (đàm thoại học sinh): Sau quá trình dẫn nhập, giáo viên lùi về
vị trí hậu trường và dành sự thảo luận trực tiếp theo cho người học
Đàm thoại Socrat (đàm thoại tìm tòi): Đây là phương thức đàm thoại mang tên
nhà triết học cổ Hy Lạp Socrat Phương pháp đàm thoại này nhằm phát triển khả năng suy nghĩ và đánh giá độc lập của người học Giáo viên đặt các câu hỏi sao cho người học tự tìm ra được lời giải
Phương pháp đàm thoại giúp người học mạnh dạn phát biểu ý kiến, luyện tập khả năng đối đáp cũng như diễn đạt ý tưởng của mình trước lớp Thông qua đàm thoại giáo viên nhắm được các suy nghĩ, cách suy luận của học sinh và nhanh chóng nắm bắt được lượng kiến thức của từng học sinh để uốn nắn những sai sót, bổ sung vào lỗ hỏng kiến thức cho học sinh và giúp cho các em diễn đạt ý tưởng của mình một cách logic lôi cuốn người khác Bên cạnh những ưu điểm đó, đàm thoại cũng có những hạn chế như dễ biến thành cuộc tranh luận của giáo viên và một số học sinh, giữa các thành
Trang 39cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày
và đánh giá trước toàn lớp” [1, tr 128]
Ưu điểm của dạy học nhóm: [1, tr 133]
- Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của học sinh
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc
- Phát triển năng lực giao tiếp
- Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội
- Tăng cường sự tự tin cho học sinh
- Phát triển năng lực phương pháp làm việc nhóm
- Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hóa
- Tăng cường kết quả học tập
Nhược điểm:
- Dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều
- Công việc nhóm không phải bao giờ cũng mang lại kết quả mong muốn
- Trong các nhóm chưa được luyện tập dễ xảy ra hỗn loạn
1.2.6.4 Sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy (lược đồ tư duy, bản đổ tư duy- mindmap) là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó là sắp xếp ý nghĩ
Cách thiết lập sơ đồ tư duy:
Bước 1: Ở vị trí trung tạm sơ đồ là một bức tranh, hình ảnh hay từ khóa phản
Trang 4028
ánh chủ đề lớn/ khái niệm chủ đạo/ nội dung chính (Central topic)
Bước 2: Từ chủ đề lớn, tìm ra các chủ đề cấp 1 liên quan (Main topic) – nối
bằng các nhánh chính (thường tô đậm nét) Từ các nhánh chính tiếp tục phát triển phân nhánh đến các hình ảnh hay từ khóa/ tiểu chủ đề cấp 2 (Subtopic) có liên quan đến nhánh chính (Trên các nhánh có thể thêm các hình ảnh hay kí hiệu cần thiết)
Bước 3: Sự phân nhánh cứ tiếp tục tạo nhánh cấp 3, cấp 4,…(Parent topic) và
các khái niệm, nội dung luôn được kết nội với nhau Sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về chủ để lớn một cách đầy đủ và rõ ràng
Bước 4: Nối các nhánh chính (cấp 1) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp
2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2,… bằng các đường vẽ Các đường kẻ càng gần hình ảnh trung tâm thì càng tô đậm
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học theo dự án
Trong dạy học theo dự án, sơ đồ tư duy là một sản phẩm của hoạt động nhóm
để xác định và định hướng nội dung tìm kiếm và xử lí thông tin liên quan đến dự án của nhóm mình phụ trách Đây là hoạt động không thể thiếu được trong quá trình thảo luận nhóm để xác định nội dung và lập kế hoạch thực hiện dự án Thông qua sơ đồ tư duy mô tả nhiệm vụ, nội dung của dự án, mà giáo viên và các nhóm học sinh khác
“đọc” được thông tin cơ bản và tổng quát nhất về dự án Từ đó mà giáo có thể góp ý, định hướng cho học sinh bổ sung và hình dung được phần lớn nội dung mà sản phẩm của dự án phải thể hiện (với dự án trung bình hoặc lớn) Với các dự án nhỏ thì sơ đồ tư duy có thể coi là sản phẩm dự án kèm lời giới thiệu, dẫn dắt theo logic của của bài trình bày Do vậy, sơ đồ tư duy cần thể hiện chi tiết nội dung của dự án.[23, 24]
Ưu điểm của sơ đồ tư duy
- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu
- Các mối quan hệ của cá nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng
- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại
- Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng [1, tr 187]