Sau Cách mạng tháng 8 1945, tư tưởng mở cửa về kinh tế, hội nhập với kinh tế thếgiớiđã được thể hiện trong lời kêu gọi Liên hợp quốc tháng 12 năm 1946 của Chủ tịchHồChíMinh,trongđócónhữn
Lýluậnvềhộinhậpkinhtế
Lịchsửhộinhậpkinhtế
Nhìn lại lịch sử phát triển của Việt Nam, tư tưởng mở cửa giao thương đã xuất hiện từ rất lâu và ảnh hưởng sâu sắc đến cách đất nước giao lưu với thế giới Các nhà cải cách như Lê Quý Đôn và Nguyễn Trường Tộ, cách đây nhiều thế kỷ, đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc mở cửa nền kinh tế và giao lưu buôn bán với nước ngoài để thúc đẩy sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc gia.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam đã hình thành tư tưởng mở cửa kinh tế và hội nhập với nền kinh tế thế giới, được thể hiện rõ qua lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Liên Hợp Quốc vào tháng 12 năm 1946 Lời kêu gọi này nhấn mạnh hợp tác quốc tế, tự lực tự cường và tinh thần hoà bình trong phát triển kinh tế, đồng thời nhắc đến vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế Những điểm của nội dung ấy vẫn đúng đắn và thích hợp với bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam tiếp tục mở cửa kinh tế, hội nhập sâu rộng và chú trọng phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo và thu hút vốn đầu tư từ các nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, việc thực thi tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế đó đã bị gián đoạn Chỉ sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước (1975), Việt Nam mới thực hiện một phần tư tưởng quan trọng đó bằng việc tham gia liên kết kinh tế XHCN trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) do Liên Xô đứng đầu (1978).
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thực sự được đẩy mạnh từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 và khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước Với những bước đi mạnh mẽ về cải cách thể chế, mở cửa nền kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tham gia sâu rộng vào thị trường toàn cầu, thúc đẩy tăng trưởng và mở cơ hội hợp tác kinh tế với các đối tác quốc tế.
Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế đã trải qua một quá trình cụ thể hóa và hoàn thiện, được hệ thống hóa thành ba giai đoạn lớn; mỗi giai đoạn đánh dấu một bước phát triển chiến lược nhằm nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và đẩy mạnh liên kết kinh tế, thương mại và văn hóa trong tiến trình hội nhập.
Giai đoạn đầu của sự nghiệp đổi mới từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến đầu Đại hội Đảng VII năm 1991 cho thấy Việt Nam chưa nói cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế, mà chủ trương trước mắt là mở cửa nền kinh tế và đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại Những định hướng này đặt nền móng cho sự phát triển hội nhập ở các giai đoạn tiếp theo, đồng thời chuẩn bị cho mục tiêu hội nhập sâu rộng hơn trong tương lai Vì vậy, giai đoạn này được xem như khởi động cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế về sau.
Giai đoạn thứ hai từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X đánh dấu chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được Đảng CSVN nêu rõ với ba nội dung nổi bật: "đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế", "xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới", "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Giai đoạn thứ ba của sự nghiệp Đảng bắt đầu từ Đại hội XI (2011) và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Việt Nam chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là nội dung trọng tâm và quan trọng nhất, như được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế: "Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm; hội nhập ở các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế".
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2015), Đảng CSVN tiếp tục khẳng định
“Thựchiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín củađấtnướctrêntrườngquốctế”.
Ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do, nhằm tăng cường năng lực tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, thu hút vốn, công nghệ và tri thức, nâng cao trình độ quản lý và kinh nghiệm quản trị, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững; đồng thời nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Kháiniệmhộinhậpkinhtếquốctế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở cửa nền kinh tế các quốc gia nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển, đồng thời gắn kết kinh tế quốc gia với khu vực và thế giới Nó là một quy luật khách quan trong sự phát triển kinh tế của mỗi nước, thể hiện ở việc liên kết nền kinh tế quốc gia với các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Trong bối cảnh hội nhập, các nước thành viên phải chấp nhận sự ràng buộc của các quy định chung mà các khối kinh tế đưa ra, từ đó tăng cường hợp tác, cạnh tranh và phát triển kinh tế bền vững.
ThamgiaCáchiệpđịnhhộinhậpkinhtế
Việt Nam đã hoàn thành Phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu trong WTO vào năm 2013 Cộng đồng quốc tế hoan nghênh và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong quá trình cải cách, hoàn thiện chính sách và thực thi các cam kết để phù hợp với quy định của WTO Hiện Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Phiên rà soát chính sách thương mại lần thứ hai tại WTO, dự kiến diễn ra vào tháng 9 năm 2020.
Với tư cách thành viên WTO, Việt Nam tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO, tập trung vào các nội dung liên quan đến nước ta như nông nghiệp, công nghiệp và sở hữu trí tuệ Việt Nam đóng góp tiếng nói quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của các nước đang phát triển, đồng thời thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và duy trì môi trường thương mại ổn định và công bằng.
2 Hộinhậpkinhtếtrongnhữngnămđổimới,TrangthôngtinđiệntửhộiđồnglýluậnTrungƯơng pháttriển.TạiHộinghịBộtrưởngWTOlầnthứ9(2013),ViệtNamcùngcácthànhviênWTO đã thông qua Gói cam kết thương mại Bali - một thỏa thuận lịch sử khai thông bếtắctrongđàmphánWTO,gồm10Hiệpđịnhvới3nhómnộidunglànôngnghiệp,thuậnlợihóathươ ngmạivàthươngmạivàpháttriển.
Nhằm triển khai cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại ngày càng minh bạch và phù hợp với các cam kết, chuẩn mực quốc tế Những nỗ lực nổi bật nhất tập trung vào nội luật hóa cam kết hội nhập, hình thành môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; phát triển các thị trường; giảm sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường thông qua các biện pháp kiểm soát giá cả, phân bổ nguồn lực, sở hữu, bảo hộ, trợ cấp và độc quyền, nhằm tạo một nền kinh tế thị trường thực sự đáp ứng các tiêu chí được công nhận Qua 5 năm sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xây dựng mới và hoàn thiện trên 30 bộ luật; hơn 400 văn bản pháp luật liên quan đến 300 loại giấy phép kinh doanh ở nhiều hình thức đã được rà soát, đánh giá và loại bỏ Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc lộ trình mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ đúng với cam kết WTO Đến nay, về cơ bản, các luật, pháp lệnh liên quan đến thực thi cam kết WTO đã được ban hành đầy đủ theo các kiến nghị tại Báo cáo số 192/BC-BTP.
● Hội nhậpkhuônkhổASEAN(20/09/1977): trong bức tranhphát triển chung của ASEAN hơn 50 năm qua, hợp tác kinh tế là mảngsôi động với nhiều kết quả cụ thể và thiết thực Thành tựu nổi bật nhất dưới trụ cột kinhtế là chúng ta đã tranhthủ được những cơ hội trong hội nhập kinh tế ASEAN để mở rộngthịtrườngxuấtkhẩu,bướcđầuthamgiavàochuỗigiátrịkhuvực,gópphầnthúcđẩy tăngtrưởngkinhtế,cảicáchchínhsáchtrongnước,xâydựngnguồnnhânlựcchấtlượngcao phù hợp với yêu cầu hội nhập Về công tác nội khối có thể kể đến một số thành tựuquantrọngmàViệtNamcùngcácnướcASEANđãđạtđượcnhưsau:
Về thương mạihàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa
ASEAN(ATIGA), Việt Nam và cácnước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toànhàng rào thuế quan (đến năm2018, các nước ASEAN-6 đã xóa bỏ khoảng 99,2% số dòngthuế và các nước gia nhập sau là Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam đã xóa bỏkhoảng 90,9% số dòng thuế; tỷ lệ tự do hóa thuế quan của Việt Nam trong nội khốiASEAN đạt 98% vào năm 2018,là tỷ lệ cao nhất trong 11 FTA mà Việt Nam đang thựchiện) Ngoài tự do hóathuế quan, các nước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháptạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp như cơ chế tự chứng nhậnxuất xứ, cơ chế hải quan một cửa v.v , các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) vềtiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao su, thực phẩm chế biến sẵn, dược phẩm vàthiếtbịytếv.v.
Về thương mại dịch vụ, tự do hóa là một trong những ưu tiên quan trọng của Cộng đồng kinh tế ASEAN Đến nay, các nước ASEAN đã ký kết xong Nghị định thư thực hiện Gói cam kết dịch vụ thứ 10 thuộc Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS-10) và kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA).
Về đầu tư, sau nhiều nỗ lực thực thi Khu vực Đầu tư ASEAN và Hiệp định Đầu tư ASEAN (ACIA), các nước ASEAN đã hoàn tất ký kết Nghị định thư thứ hai và thứ ba sửa đổi ACIA vào năm 2017, đồng thời tiến tới ký kết Nghị định thư thứ tư sửa đổi Hiệp định này vào năm 2019 nhằm tăng cường luồng đầu tư trong khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam và các nước ASEAN đã đạt được những tiến bộ cụ thể hơn trong thực thi các lĩnh vực mới, nổi bật là các hoạt động chuẩn bị cho cách mạng công nghiệp 4.0, thương mại điện tử và tăng cường vai trò của Cộng đồng kinh tế ASEAN, đồng thời đạt được các mục tiêu phát triển bền vững Năm 2018 đã chứng kiến một số nội dung được thống nhất triển khai và hoàn thành, điển hình là ký kết Hiệp định ASEAN về Thương mại điện tử, thông qua Khung hội nhập số ASEAN, và xây dựng Quy tắc ứng xử về xây dựng xanh của ASEAN, cùng nhiều sáng kiến khác.
Việt Nam tham gia sâu rộng và toàn diện vào hợp tác nội khối ASEAN và thúc đẩy quan hệ kinh tế với các đối tác nước ngoài quan trọng như Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand, Australia và Trung Quốc thông qua ký kết các hiệp định FTA và các thỏa thuận hợp tác nhằm tăng cường thương mại và đầu tư Việt Nam phối hợp với Hoa Kỳ, EU, Canada, Nga và các nước thành viên ASEAN khác triển khai tích cực các sáng kiến, chương trình hành động tập trung vào nội dung kinh tế–thương mại, đầu tư quốc tế và phát triển năng lực cạnh tranh Những kết quả nổi bật gần đây cho thấy tiến bộ của hợp tác với nước ngoài và giữa các nước ASEAN thông qua các thỏa thuận thương mại tự do, các dự án đầu tư và các cơ chế hợp tác được triển khai, góp phần nâng cao liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu.
Việt Nam đã phối hợp với các nước thành viên ASEAN khác triển khai đầy đủ các thủ tục cần thiết và hoàn tất ký kết Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Hồng Kông, Trung Quốc vào ngày 23 tháng 2 năm 2018; hiện nay Việt Nam đang triển khai các thủ tục phê chuẩn Hiệp định này, nhằm hướng tới đưa Hiệp định vào hiệu lực trong năm 2019.
Cùng với các nước ASEAN khác, Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ về Hợp tác Kinh tế giữa ASEAN và Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN-Nga vào tháng 11 năm 2018, thể hiện cam kết tăng cường liên kết kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai khu vực.
- ViệtNamcùngcácnướcASEANhoànthànhràsoátnângcấpHiệpđịnhThươngmạitựdoASEAN–Ôtx-trây-lia–NiuDi-lân cũngnhưhoànthànhràsoátpháplývàcácthủtục nội bộ để ký kếtNghị định thư thứ nhất sửa đổi Hiệp định Đối tác Kinh tế ASEAN –NhậtBản,bổsungcáccamkếtvềthươngmạidịchvụ,đầutưvàdichuyểnthểnhânvào
Hiệp định này Nghị định thư này dự kiến sẽ được ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng RCEPgiữakỳlầnthứ7,tháng3năm2019.
Từ khi khởi động đàm phán thương mại với các đối tác từ tháng 5 năm 2013, Việt Nam và các nước thành viên Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đã tham gia 12 đàm phán cấp Bộ trưởng và nhiều phiên đàm phán chính thức kéo dài Việt Nam đã tích cực phối hợp với các nước thành viên RCEP, góp phần duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong đàm phán với các đối tác và thúc đẩy đàm phán RCEP đạt được tiến bộ quan trọng trong năm 2018, hướng tới kết thúc đàm phán trong thời gian tới.
Việt Nam đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN–EU, thể hiện sự tích cực trong việc kết nối các nước ASEAN và EU nhằm thúc đẩy nghiên cứu và thảo luận với EU về dự thảo khung khổ cho các yếu tố chính của Hiệp định FTA ASEAN–EU trong tương lai.
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Thực tiễn hơn hai thập kỷ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của nước ta cho thấy việc tham gia APEC là một quyết định đúng đắn và đúng thời điểm, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện môi trường kinh doanh và mở rộng quan hệ thương mại với các nền kinh tế hàng đầu khu vực và thế giới.
APEC là cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu tại Châu Á - Thái Bình Dương, nơi tập hợp các nền kinh tế, thương mại và công nghệ lớn toàn cầu; chiếm 39% dân số, đóng góp 59% GDP và hơn 49% thương mại thế giới APEC mang lại nhiều lợi ích về chiến lược, kinh tế, thương mại và đầu tư, đồng thời thúc đẩy cải cách trong nước và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam APEC là diễn đàn quy tụ 14 trên 28 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và là các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta, chiếm 75% kim ngạch xuất nhập khẩu, 78% tổng vốn đầu tư trực tiếp và 79% lượng khách du lịch quốc tế của Việt Nam Trong 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ta đã, đang đàm phán và ký kết, có 14 hiệp định với 17 trên 20 thành viên APEC Những con số này minh chứng rõ tầm quan trọng của APEC đối với phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Thứ hai,tham gia APEC góp phần quan trọng nâng cao vị thế quốc tế củaViệt Nam
ThựctrạngvànguyênnhâncủaxuấtnhậpkhẩutômtạiTrungQuốc
Thựctrạng
Theo thống kê của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Agrotrade Việt Nam), nước ta có trên 300 cơ sở chuyên chế biến tôm với công suất trên 1,4 triệu tấn mỗi năm, tập trung chủ yếu ở miền Trung, Nam Trung Bộ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Qua kiểm tra, các cơ sở đều đáp ứng tốt các điều kiện xuất khẩu Sản phẩm chế biến thủy sản đa dạng, trong đó sản phẩm đông lạnh chiếm khoảng 90% với nhiều dạng sản phẩm khác nhau; phần còn lại khoảng 10% tập trung chủ yếu ở các sản phẩm khô và tươi sống.
Bên cạnh đó, hiện nay các cơ sở chế biến đang tập trung nhiều hơn vào khai thác phụ phẩm, tận dụng các nguyên liệu đầu và vỏ tôm từ các nhà máy để chế biến thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm có giá trị như chitin, chitosan, glucosamine, astaxanthin Tuy nhiên, do công nghệ xử lý thủy hải sản còn hạn chế, thành phẩm chủ yếu là đông lạnh hoặc có mức độ chế biến thấp, nên lượng phụ phẩm thải ra trong quá trình sản xuất vẫn còn ở mức cao, dao động khoảng 35–60%, tương đương hơn 2 triệu tấn phụ phẩm thủy sản mỗi năm, trong đó khoảng 250 tấn là phụ phẩm tôm.
Công ty Cổ phần Việt Nam Food (VNF) là đơn vị đi đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm phụ từ ngành tôm Theo đánh giá của đại diện VNF, quá trình chế biến tôm chỉ sử dụng khoảng 55-65% khối lượng con tôm, trong khi 35-45% còn lại được xem là phụ phẩm và bị bỏ đi Tuy nhiên, phụ phẩm tôm chứa nhiều chất dinh dưỡng có giá trị, có thể được chế biến, xuất khẩu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, tạo ra giá trị mới cao hơn và mở ra cơ hội khai thác nguồn nguyên liệu dư thừa thành lợi ích kinh tế.
Nguyênnhân
Theo ông Trần Đình Luân – Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, chế biến phụ phẩm thủy sản mặc dù có giá trị gia tăng cao nhưng chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, khiến nguồn lực và tiềm năng này chưa được khai thác tối ưu Nguyên nhân chủ yếu là ngành chế biến phụ phẩm đòi hỏi công nghệ hiện đại và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm bài bản, trong khi công nghệ của Việt Nam vẫn còn ở mức học hỏi từ các nước khác Các công nghệ để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao như chitin, chitosan và protein thủy phân có thể được ứng dụng trong thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học, y tế và nông nghiệp, tuy nhiên hiện mới chỉ có một hai doanh nghiệp đủ năng lực triển khai ở quy mô lớn.
Dođó,“đểkhaitháchếtđượcgiátrịcủaphụphẩmthủysản,doanhnghiệpcầnphảiđầutư ‘cho tới’ vào khoa học công nghệ, máy móc thiết bị, cũng nhưngười lao động có taynghề”,ôngLộcchiasẻ.
Ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, cho biết cơ cấu giá thành sản xuất thủy sản chiếm khoảng 50-70%, trung bình 60% Vì vậy, đây là một trong những yếu tố nhạy cảm khi giá cả biến động, làm tăng chi phí sản xuất, tăng rủi ro và làm giảm khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam Chi phí sản xuất thủy sản của nước ta từ trước tới nay vẫn được đánh giá là cao hơn các nước trong khu vực.
Theo ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản MinhPhú, tôm Việt Nam hiện đối mặt với nhiều thách thức từ trong nước đến thị trường xuất khẩu: chi phí sản xuất cao, chất lượng tôm giống chưa ổn định, nguy cơ dịch bệnh và nguồn tôm nguyên liệu phục vụ chế biến chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu Bên cạnh đó, Ấn Độ, Ecuador và Thái Lan đang tiệm cận trình độ công nghệ nuôi và có giá thành sản xuất thấp hơn Việt Nam Điều này đòi hỏi các nhà quản lý, doanh nghiệp và người nuôi cần có giải pháp đột phá, quyết liệt để nâng cao khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam trong thời gian ngắn nhất, ông Quang nhấn mạnh.
Việcảnhhưởngcủagiánguyênliệudùngtrongsảnxuấtthứcănthủysản,chănnuôităngcao liên tiếp trong thời gian dài cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất củangànhtômViệtNam,đènặngthêmvềvấnđềchiphísảnxuất.
TháchthứcvàthờicơcủatômxuấtkhẩuhậuCovid-19(2020-2021)
Tháchthức
Trong 3 tháng đầu năm 2021, hoạt động xuất khẩu thủy sản ghi nhận một số kết quả khả quan; tuy nhiên, sự thay đổi về chứng nhận an toàn thực phẩm tại thị trường nhập khẩu và các cảnh báo từ các lô hàng bị trả lại cho thấy phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2021 ở mức khoảng 8,8 tỷ USD Cảnh báo về vi phạm an toàn thực phẩm được nêu lên nhằm nhắc nhở ngành hàng thủy sản duy trì tiêu chuẩn chất lượng để tiếp tục tiếp cận thị trường quốc tế.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2021 đạt 1,01 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2020; VASEP dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 3 sẽ đạt khoảng 640 triệu USD.
1,5% so với cùng kỳ Tuy nhiên, từ nay đến cuối năm, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bắt nguồn từ sự thay đổi về quy định kiểm dịch đối với sản phẩm nhập khẩu ở nhiều quốc gia; đáng nói là đã xuất hiện những cảnh báo về vi phạm các quy định an toàn thực phẩm.
Mới đây, tại hội nghị về phòng, chống dịch bệnh thủy sản năm 2021, ông Ngô
Theo Hồng Phong, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), dù các địa phương đã nâng cao chất lượng nhiều mặt hàng nông lâm thủy sản, vẫn còn một số lô hàng vi phạm quy định về an toàn thực phẩm và bị trả về Đối với thị trường Trung Quốc, trong 3 tháng đầu năm 2021 có 6/14 lô hàng bị trả về (năm 2020 là 15/40 lô hàng bị trả về) Phía Trung Quốc cho biết qua kiểm tra một số lô tôm đông lạnh đã xử lý nhiệt từ Việt Nam, đã phát hiện dương tính với bệnh hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHNV) và virus đốm trắng (WSSV).
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu chính của thủy sản Việt Nam ngày càng thắt chặt chứng nhận an toàn thực phẩm, yêu cầu về xử lý nhiệt đối với hàng hóa nhập khẩu đã trở thành yếu tố quyết định thông quan Cụ thể, tại Hàn Quốc, tôm phải đáp ứng quy định xử lý nhiệt và được nấu chín để được miễn kiểm dịch, nhưng thời gian xử lý nhiệt kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến màu sắc, mùi vị và chất lượng của sản phẩm Ở Brazil, quy định về chế độ xử lý nhiệt nghiêm ngặt hơn rất nhiều so với hướng dẫn của Tổ chức Thú y thế giới (OIE), khiến nhà sản xuất Việt Nam cần cân nhắc kỹ về quy trình chế biến và chi phí liên quan.
Những vấn đề nêu trên đang và sẽ tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời, việc nâng cao chất lượng sản phẩm được xem là yếu tố then chốt để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, nhận định rằng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP tiếp tục là đòn bẩy cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam Dự báo cho năm 2021 cho ngành thủy sản cho thấy kim ngạch xuất khẩu có thể đạt tới 8,8 tỷ USD, tăng gần 5% so với năm trước.
2020 Tuy nhiên, để các sản phẩm
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), các doanh nghiệp cần đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng tôm ở dạng đông lạnh tới các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và châu Âu Đối với những thị trường có quy định mới về kiểm dịch, doanh nghiệp nên chủ động nắm bắt và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo tuân thủ các yêu cầu kiểm dịch quốc tế.
Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, cho rằng các doanh nghiệp thủy sản cần xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ trong toàn bộ chu trình sản xuất từ nguyên liệu đến sơ chế, chế biến sản phẩm; đồng thời chủ động nắm bắt những thay đổi ở thị trường nhập khẩu để kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong quá trình xuất khẩu Để đảm bảo mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2021 đạt 8,8 tỷ USD, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên nhằm đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc và tháo gỡ các rào cản, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua thách thức.
Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết, thời gian tới, ngành
Để mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam, nông nghiệp sẽ làm việc với các cơ quan hữu quan của Trung Quốc và Hàn Quốc để tháo gỡ các rào cản Để hạn chế các lô hàng thủy sản bị trả về, các địa phương và doanh nghiệp cần xây dựng vùng và chuỗi cơ sở sản xuất thủy sản an toàn dịch bệnh, đáp ứng đầy đủ yêu cầu giám sát an toàn thực phẩm của các thị trường mục tiêu Đồng thời tập trung xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc cho các mặt hàng thủy sản nhằm nâng cao giá trị và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tôm của Việt Nam tới
TrungQuốc quý II/2021 đạt 18,62 nghìn tấn với trị giá 159,45 triệu USD, tăng 68,9% về lượngvàtăng65,8%vềtrịgiásovớiquýI/2021,tăng43,6%vềlượngvàtăng42%vềtrịgiásovớicùngk ỳnăm2020.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam tới thị trường
TrungQuốcđạt29,6nghìntấnvớitrịgiá255,7triệuUSD,tăng25,2%vềlượngvàtăng27,5%vềtrịgiá sovớicùngkỳnăm2020.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, giá xuất khẩu tôm của Việt Nam tới Trung Quốc trong nửa đầu năm 2021 đạt bình quân 8,63 USD/kg, tăng 0,16 USD/kg so với cùng kỳ năm trước Sự tăng giá này cho thấy thị trường Trung Quốc có nhu cầu ổn định và giá tôm Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao trong giai đoạn đầu năm.
2020.Nguyênnhânlàdolượngtômxuấtkhẩuđápứngđượccácyêucầuvềgiảmthuếtừchínhsách mới từ Trung Quốc và tăng trong những tháng gần đây Đây là tín hiệu tốt cho tínhcạnhtranhvềgiácủacácsảnphẩmtômởthịtrườngTrungQuốctrongthờigiantới.
Trong nửa đầu năm 2021, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang hầu hết các thị trường lớn, đặc biệt là Trung Quốc, tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm 2020 nhờ ba yếu tố chính: (i) dịch Covid-19 ở Việt Nam được kiểm soát tốt ở giai đoạn đầu năm, giúp hoạt động nuôi trồng và chế biến xuất khẩu ổn định; (ii) tôm Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định thương mại, tăng lợi thế cạnh tranh; (iii) nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu tôm của Trung Quốc phục hồi trong nửa đầu năm 2021 Đến quý II/2021, xuất khẩu tôm tới Quảng Châu, Bắc Kinh, Vân Nam và Thâm Quyến đều tăng ở mức ba con số so với cùng kỳ năm 2020 nhờ chính sách mới có hiệu lực Tuy nhiên, các đối thủ cạnh tranh gặp nhiều khó khăn, cung-cầu ổn định và các yếu tố mùa vụ thuận lợi, mưa vụ sớm vẫn ảnh hưởng đến bối cảnh cạnh tranh. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Các nước khu vực châu Á và một số nước sản xuất cạnh tranh như Ấn Độ và Thái Lan vẫn đối mặt với dịch COVID-19 nghiêm trọng, từ đó mở ra cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh sản xuất - xuất khẩu thủy sản và mở rộng thị phần trên thị trường thế giới Thị trường Trung Quốc sẽ tiếp tục là điểm sáng cho thủy sản Việt Nam ở nhiều mặt hàng như tôm, cá tra và hải sản Đặc biệt với tôm, Việt Nam có thêm cơ hội tại Mỹ khi Ấn Độ - nguồn cung lớn nhất cho thị trường này - đang gặp khó khăn về sản xuất do COVID-19 Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta, nhận định Ấn Độ là đối thủ lớn nhất của Việt Nam về sản lượng và giá rẻ đang ở trong giai đoạn khủng hoảng vì lây nhiễm COVID-19, tạo cơ hội cho tôm Việt Nam Đánh giá về khả năng tăng trưởng của mặt hàng tôm, ông Lực cho hay thời vụ nuôi tôm của Việt Nam năm nay sớm, thời tiết thuận lợi nên nguồn nguyên liệu dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với năm 2020.
Các nước lớn nuôi tôm đang chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19 có nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và hạn chế tăng trưởng ngành tôm nước họ, khiến nguồn cung tôm toàn cầu không tăng đáng kể Điều này tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng thị phần và đẩy mạnh xuất khẩu tôm khi nguồn cung thế giới đi ngang.
Về cầu trên thế giới, tăng trưởng tự nhiên của mặt hàng tôm khoảng 5%/năm nhưng dodịchCOVID-
Thờicơ
Nhữngđịnhhướngvàkiếnnghịpháttriểnvềviệcnuôitômnướclợ
Để đạt được sự phát triển bền vững cho xuất khẩu tôm, không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng sản phẩm cũng phải được nâng lên, đây là điều kiện thiết yếu để cạnh tranh thị trường quốc tế Bài luận văn này đề xuất định hướng nuôi tôm trong những năm tới và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm đóng góp vào sự phát triển của mô hình nuôi tôm, hướng tới nâng cao hiệu quả và bền vững của ngành.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn tiềm năng lớn để phát triển nuôi tôm nước lợ nhưng thiếu quy hoạch cụ thể, thiếu cơ chế, chính sách để phát triển lĩnh vực này; đồng thời chưa có các giải pháp về khoa học - công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế, cũng như thiếu các hoạt động xúc tiến thị trường và thương mại Chất lượng nguồn nước phục vụ nuôi tôm nước lợ ven biển ĐBSCL bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và một số chất có hại tại các khu vực cống điều tiết nước mặn Do vậy, cần xây dựng các vùng sản xuất tôm giống đạt chất lượng cao với quy mô lớn để cung cấp cho vùng nuôi tôm nước lợ, nhất là TTCT Thực hiện việc bán tôm giống trực tiếp từ công ty cho người nuôi tôm nhằm đảm bảo nguồn gốc tôm và giá cả có lợi cho người nuôi tôm.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), tôm nước lợ là ngành nuôi chủ lực và hạ tầng thủy lợi phục vụ nuôi trồng đang được quan tâm xây dựng Tuy nhiên hiện nay hạ tầng thủy lợi ĐBSCL chưa hoàn thiện, hệ thống kênh cấp - thoát nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, gây khó khăn cho sản xuất và kiểm soát dịch bệnh Thêm vào đó, hầu hết hộ nuôi thiếu ao lắng, ao xử lý thải và khu vực xử lý bùn đáy ao, nên khi tôm bị bệnh, người nuôi thường xử lý chưa triệt để hoặc xả thải nước ao nuôi ra môi trường, làm dịch bệnh lây lan Các bệnh chủ yếu trên tôm nước lợ gồm hoại tử gan tuỵ (HPND), đốm trắng và các vấn đề đường ruột; trong đó thiệt hại cao nhất là khi tôm nhiễm bệnh gan tuỵ và đốm trắng Vì vậy, công tác chọn giống tôm thả nuôi có vai trò vô cùng quan trọng. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Contômlàđốitượngnuôichủlựctrongnuôitrồngthủysảntạicáctỉnhvenbiển,làtiềmnăng, thế mạnh của ngành thủy sản Để phát huy lợi thế, cần triển khai thực hiện tốt mộtsốgiảiphápsau:
Xâydựngtrungtâmgiống:Nhucầuvềtômgiốngngàycànglớn,nhiềudoanhnghiệpsảnxuất giống ra đời
Cần xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển ngành tôm, trong đó quy hoạch vùng nuôi tôm sú, nuôi TTCT và các nhà máy chế biến được liên kết chặt chẽ với các vùng nuôi để tối ưu hóa nguồn lực và hiệu quả kinh tế Quy hoạch nên xác định rõ vị trí, diện tích và cơ sở hạ tầng cho từng vùng nuôi, đồng thời bảo đảm nguồn nước, hệ thống logistics và cân bằng môi trường Đặc biệt, quy hoạch khu sản xuất tôm giống chất lượng cao là yếu tố then chốt, nhằm cung cấp tôm giống đạt chuẩn cho toàn bộ chuỗi nuôi và chế biến Khi triển khai, các vùng này cần được đồng bộ hóa với mục tiêu tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và thu hút đầu tư.
Vềkhoahọccôngnghệ:Cầnquantâmnângcaochấtlượnggiống,chươngtrìnhchọntạogiống theo tính trạng tăng trưởng và kháng bệnh cho hình thức nuôi quảng canh, quảngcanhcảitiến);tăngtrưởngvàsạchbệnhchohìnhthứcnuôithâmcanh/bánthâmcanh.
Ngoài ra, cần phát triển các công nghệ hay giải pháp kỹ thuật nuôi hiệu quả, thân thiệnmôitrườngnhưBIoflocs,nuôihaigiaiđoạn,đachuký,đàoao,ươngvèo,nuôitrongnhàbạt,sửdụ ngchếphẩmvisinhhọc,…
Về phát triển thị trường, tập trung xây dựng thương hiệu cho các dòng sản phẩm chính và phát triển các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao Áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận có uy tín và tham gia các chương trình quảng bá sản phẩm nhằm tăng cường nhận diện và uy tín trên thị trường Cùng đó, thực hiện hiệu quả chuỗi giá trị thị trường bao gồm cung ứng, sản xuất, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến, thương mại và tiêu thụ, với doanh nghiệp làm động lực và trung tâm điều phối.
Vềtổchứcsảnxuấtvàcơchếchínhsách:Cầntăngcườngkiểmsoátđiềukiệnnuôi,quảnlýtốtchấtlượng,giávậttưcácdoanhnghiệp,hỗtrợcácquymônhỏ,tổchứclạisảnxuất theohìnhthứchợptácsảnxuấttheohìnhthứchợptácvàliênkếttheochuỗigiátrị.
Hoạt động xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu tôm nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực Nhà nước đẩy mạnh xuất khẩu bằng các chính sách có lợi, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Quý IV năm 2021 đánh dấu sự phục hồi của nền kinh tế sau đại dịch Covid-19 và mở ra hướng đi mới cho các ngành kinh tế Việt Nam, trong đó hoạt động xuất khẩu tôm tiếp tục được kỳ vọng phát triển mạnh.
Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết sẽ làm thay đổi các yếu tố như thuế suất xuất nhập khẩu giữa hai bên, luồng vốn đầu tư, các chính sách thúc đẩy thương mại và hàng rào bảo hộ, từ đó mang lại tác động tích cực và tiêu cực đối với doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều Việt Nam Để thích ứng với những biến động này, các doanh nghiệp cần củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động ứng phó với biến động của kinh tế vĩ mô nhằm tồn tại và phát triển bền vững, đóng góp vào sự lớn mạnh của ngành xuất khẩu Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mặt hàng vải thiều Việt Nam đang dần có chỗ đứng trên thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường Trung Quốc, nhưng cạnh tranh vẫn ở mức thấp do vải thiều chưa đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm và bảo quản theo quy định của Trung Quốc Nguyên nhân chủ yếu là sự đồng bộ trong sản xuất ở các vùng nguyên liệu chưa cao, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất chưa hiệu quả, và cơ sở hạ tầng còn đang được cải thiện nhưng chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tế Để thâm nhập thành công thị trường Trung Quốc và có vị thế trên thị trường thế giới, các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều cần đẩy mạnh nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố chuỗi cung ứng, tối ưu hóa kênh phân phối, và đồng thời tiến hành nghiên cứu thị trường cũng như nắm bắt thị hiếu khách hàng.
30NămHộiNhậpKinhTếQuốcTếCủaViệtNam:ThànhTựu,TháchThứcVàNhữngBàiHọc.Trườn gĐạiHọcNgânHàngTP.HCM,TP.HCM,2021,
[5] "XuấtKhẩuTôm:ThựcTrạngVà Giải Pháp –Aquaculture".Aquaculture.Vn,
2021,truycậptừ://aquaculture.vn/thi-truong-gia-ca/xuat-khau-tom-thuc-trang-va-giai-phap.
://nguoinuoitom.vn/phu-pham-tom-diem-nghen-trong-chuoi-gia-tri-thuy-san/.