Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 9 2013, Việt Nam cùng các thành viên WTO đã thông qua Gói cam kết thương mại Bali - một thỏa thuận lịch sử khai thông bế tắc trong đàm phán WTO, gồm 10
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP:TT_HK211 NHÓM: 2, HK211 GVHD: THS ĐỖ ĐÌNH NGHĨA SINH VIÊN THỰC HIỆN
ĐI Ể
M BT L
G HI C H Ú
Trang 22.1 Thực trạng và nguyên nhân của xuất nhập khẩu tôm tại Trung Quốc
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
- Sau khi giành được độc lập, Việt Nam đang từng bước cải thiện trên con đườnghội nhập nền kinh tế thế giới, từ một chế độ kinh tế bao cấp chuyển hướng sangkinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chú trọng việcxuất khẩu các mặt hàng thủy sản chiến lược và thúc đẩy nền kinh tế tăngtrưởng
- Sơ lược tổng quát về thị trường Trung Quốc đối với các mặt hàng thủy như tôm,
cá tra Mức độ tiêu thụ của thị trường Trung Quốc đối với mặt hàng này như thếnào? Thách thức đặt ra để các nhà xuất khẩu phải giải quyết ra sao và cơ hội đốivới các các nhà xuất khẩu như thế nào?
- Tiềm năng của thủy sản Việt Nam như thế nào: Nguồn cung ứng, giá cả, quy trìnhsản xuất, chất lượng các lô hàng ra sao? Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩutôm ra thị trường thế giới ra sao? Thu được kết quả nào
- Giới thiệu về mặt hàng Tôm nước lợ của Việt Nam Kết quả thu được của hoạt động xuất khẩu tôm ra thị trường thế giới ra sao? Thị trường Trung Quốc thế nào?Thuận lợi và khó khăn
- Đặt vấn đề cho việc xuất khẩu tôm sang thị trường Trung Quốc
Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những nước có bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam và được coi là thiên đường cho ngành thủy sản kèm với tình hình hạn mặn xảy ra thường xuyên xảy ra ở các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long thì giải pháp hữu hiệu nhất chính là phát triển ngành thủy sản ven bờ đặc biệt
là tôm Thủy sản Việt Nam không chỉ nổi tiếng về sự đa dạng phong phú của chủngloại mà còn đặc trưng bởi số lượng lớn Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước, thủy sản xuất khẩu ngày nay đã và đang khẳng định trên thị trường thế giới
Trang 4như: EU, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Trung Quốc, Hàn Quốc , và góp phần đáng kể trong cơ cấu GDP của Việt Nam.
Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình hội nhập, sau khi Liên Xô và các nướcĐông Âu tan rã, Việt Nam đã nhận thấy Trung Quốc là một thị trường lớn cần được đầu tư khai thác Trung Quốc là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam với kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2020 theo số liệu thống kê từ Hải quan Việt Nam cho thấy: “kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc năm 2020 đạt 133,09 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2019 Trong
đó, xuất khẩu của Việt Nam tới Trung Quốc đạt 48,9 tỷ USD, tăng 17,9%; nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 84,1 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ
Nhập siêu từ thị trường Trung Quốc có giá trị 35,2 tỷ USD, tăng 3,74% sovới năm 2019 Theo Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, Bộ Công Thương, TrungQuốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường cung cấp hàng hóa lớnnhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (sau Mỹ)”1 Các mặt hàngthủy sản Việt Nam xuất khẩu chủ lực sang Trung Quốc gồm tôm, cá tra, cá biển,nhuyễn thể và các mặt hàng đông lạnh, Các sản phẩm tôm đông lạnh xuất khẩusang thị trường Trung Quốc đạt trung bình khoảng 900.000 tấn/năm(2020) Tuynhiên, do diễn biến dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên hoạt động xuất khẩuthủy sản Việt Nam sang thị trường này đang có dấu hiệu giảm sút cùng với đó việcTrung Quốc thắt chặt các tiêu chuẩn xuất nhập khẩu chính ngạch khiến cho cácdoanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm ra giải pháp và các thủ tục liên quan,tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các lô hàng xuất khẩu của Việt nam có thể cạnhtranh với các nguồn cung khác ở thị trường Trung Quốc
1 Phương Hằng, (2021), Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 48,9 tỷ USD năm 2020, Báo Quân đội
nhân dân(16/01/2021).
Trang 52 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trước hết có cái nhìn tổng quát về nguồn gốc, cơ sở hình thành
và thực tiễn của hội nhập nền kinh tế Tiếp theo đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ các lý luận vềhoạt động thúc đẩy xuất khẩu, dựa trên kết quả phân tích thực trạng, cũng như thành công
và thất bại của hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam nói chung và tôm nước lợ nói riêng trong giai đoạn tiền Covid-19 và hậu Covid-19 Từ đó đề xuất những định hướng, kiến nghị và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Tôm nước lợ vào thị trường Trung Quốc trong những năm tới, đặc biệt trong điều kiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, nhóm đề tài dựa trên cơ sở của hoạt động xuất khẩu
- Thứ hai, qua phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giai đoạn 2019-2021 Từ đó rút ra những nhận xét, phân tich và đánh giá ưu nhược điểm cũng như cơ hội và thách thức của thủy sản Việt Nam ra thị trường thế giới trong giai đoạn 2019-2021, cũng như những trở ngại mà các doanh nghiệp Việt đang đốimặt
- Thứ ba, đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy cũng nhưnâng cao giá trị cho thủy sản Việt Nam tại thị trường Trung Quốc và Thế giới trong giai đoạn hậu Covid-19 và nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phục hồi nền kinh tế sau đại dịch
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Tôm của Việt Nam
sang thị trường Trung Quốc
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu để tìm hướng đi cho Tôm nước
lợ Việt Nam của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại thị trường Trung Quốc
- Về thời gian: Giai đoạn tiền Covid-19 (2019-2021) và định hướng đến năm2022
4 Phương Pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, mô hình hóa
Trang 7Nhìn lại lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam thì tư tưởng mở cửa giao thương đã có
từ khá lâu Các nhà canh tân của Việt Nam như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ… cáchđây nhiều thế kỷ đã nhìn thấy tầm quan trọng của việc mở cửa nền kinh tế, giao lưu buônbán với nước ngoài
Sau Cách mạng tháng 8 (1945), tư tưởng mở cửa về kinh tế, hội nhập với kinh tế thế giới
đã được thể hiện trong lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12 năm 1946) của Chủ tịch HồChí Minh, trong đó có những điểm mà trong bối cảnh hiện nay vẫn rất đúng và thích hợp:
- Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà
kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình
- Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế
- Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, việc thực hiện tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế đó đã
bị gián đoạn Chỉ sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước (1975), Việt Nammới thực hiện một phần tư tưởng quan trọng đó bằng việc tham gia liên kết kinh tếXHCN trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) do Liên Xô đứng đầu (1978).Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chỉ thực sự được đẩy mạnh kể từ khiViệt Nam tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 cùng với việc bắt đầucông cuộc Đổi mới đất nước
Trang 8Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hộinhập quốc tế đã trải qua một quá trình cụ thể hóa và hoàn thiện Có thể chia thành 3 giaiđoạn lớn:
Giai đoạn thứ nhất từ Đại hội Đảng VI (1986) đến đầu Đại hội Đảng VII(1991), lúc này Việt Nam chưa nói cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế mà mới đặtvấn đề là “mở cửa nền kinh tế”,“đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đốingoại” Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc phát triển hội nhập ở các giai đoạntiếp theo
Giai đoạn thứ hai là từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, chủ trương hộinhập kinh tế quốc tế đã được Đảng CSVN chỉ rõ: "đẩy nhanh quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế", “xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thếgiới”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồngquốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"
Giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng CSVN
đã đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Theo đó, Việt Namchuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện với hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là nộidung quan trọng nhất, như được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày
10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị ĐCSVN về hội nhập quốc tế: “Hội nhậpkinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợicho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế”
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2015), Đảng CSVN tiếp tục khẳng định “Thựchiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín củađất nước trên trường quốc tế”
Trong bối cảnh Việt Nam tích cực hội nhập toàn diện và đẩy mạnh tham gia các Hiệpđịnh Thương mại tự do (FTA), ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaXII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh
Trang 9tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệpđịnh thương mại tự do thế hệ mới Nghị quyết 06 - NQ/TW khóa XII nêu rõ mục tiêuthực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằmtăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn,công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nângcao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trêntrường quốc tế.2
1.1.2 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế (tiếng Anh: International Economic Integration) là việcthực hiện mở cửa kinh tế quốc gia, phát triển kinh tế quốc gia gắn liền với kinh tế khuvực và thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế là quy luật tất yếu khách quan đối với sự pháttriển kinh tế mỗi quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế củacác quốc gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các nước thành viênchịu sự ràng buộc theo những quy định chung của cả khối
1.1.3 Tham gia các hiệp định hội nhập kinh tế:
● Hội nhập khuôn khổ WTO (11/01/2007):
Năm 2013, Việt Nam đã hoàn thành Phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu tiên trong WTO Cộng đồng quốc tế đã hoan nghênh và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong quá trình cải cách, hoàn thiện chính sách và thực thi các cam kết để phù hợp với quy định của WTO Hiện Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Phiên rà soát chính sách thương mại lần thứ hai tại WTO vào tháng 9 năm 2020
Với tư cách thành viên WTO, Việt Nam đã tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam như nông nghiệp, côngnghiệp, sở hữu trí tuệ và đóng góp tiếng nói bảo vệ quyền và lợi ích của các nước đang
2 Hội nhập kinh tế trong những năm đổi mới, Trang thông tin điện tử hội đồng lý luận Trung Ương
Trang 10phát triển Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 9 (2013), Việt Nam cùng các thành viên WTO đã thông qua Gói cam kết thương mại Bali - một thỏa thuận lịch sử khai thông bế tắc trong đàm phán WTO, gồm 10 Hiệp định với 3 nhóm nội dung là nông nghiệp, thuận lợi hóa thương mại và thương mại và phát triển.
Nhằm triển khai các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng ngày càng minh bạch và phù hợp hơn với các cam kết, thông
lệ quốc tế Các nỗ lực mạnh mẽ nhất đã được tiến hành để nội luật hóa cam kết hội nhập WTO, hình thành môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; phát triển các thị trường; giảm sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường thông qua các biện pháp kiểmsoát giá cả, phân bổ nguồn lực, sở hữu, các biện pháp bảo hộ, trợ cấp, độc quyền, tạo ra môi trường kinh tế - xã hội đáp ứng các tiêu chí để Việt Nam được công nhận là nền kinh
tế thị trường Có thể thấy nỗ lực này qua việc chỉ trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xây dựng mới và hoàn thiện trên 30 bộ luật; có tới hơn 400 văn bản pháp luật liên quan đến 300 loại giấy phép kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau đãđược rà soát, đánh giá và loại bỏ Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc lộ trình
mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ theo cam kết của WTO Cho đến nay, về cơ bản, cácluật, pháp lệnh có liên quan tới việc thực thi các cam kết WTO về cơ bản đều đã được ban hành đầy đủ theo kiến nghị tại Báo cáo số 192/BC-BTP ngày 09 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát pháp luật thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP
● Hội nhập khuôn khổ ASEAN (20/09/1977):
trong bức tranh phát triển chung của ASEAN hơn 50 năm qua, hợp tác kinh tế là mảng sôi động với nhiều kết quả cụ thể và thiết thực Thành tựu nổi bật nhất dưới trụ cột kinh
tế là chúng ta đã tranh thủ được những cơ hội trong hội nhập kinh tế ASEAN để mở rộngthị trường xuất khẩu, bước đầu tham gia vào chuỗi giá trị khu vực, góp phần thúc đẩy
Trang 11tăng trưởng kinh tế, cải cách chính sách trong nước, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu hội nhập Về công tác nội khối có thể kể đến một số thành tựu quan trọng mà Việt Nam cùng các nước ASEAN đã đạt được như sau:
Về thương mại hàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Việt Nam và các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan (đến năm 2018, các nước ASEAN-6 đã xóa bỏ khoảng 99,2% số dòngthuế và các nước gia nhập sau là Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam đã xóa bỏ khoảng 90,9% số dòng thuế; tỷ lệ tự do hóa thuế quan của Việt Nam trong nội khối ASEAN đạt 98% vào năm 2018, là tỷ lệ cao nhất trong 11 FTA mà Việt Nam đang thực hiện) Ngoài tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp như cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, cơ chế hải quan một cửa v.v , các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về tiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao su, thực phẩm chế biến sẵn, dược phẩm vàthiết bị y tế v.v
Về thương mại dịch vụ, tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những ưu tiên quantrọng trong Cộng đồng kinh tế ASEAN Đến nay, các nước ASEAN đã ký kết xong Nghị định thư thực hiện Gói cam kết dịch vụ thứ 10 thuộc Hiệp định khung ASEAN về dịch
vụ (AFAS-10) và kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA)
Về đầu tư, sau nhiều nỗ lực thực thi Khu vực đầu tư ASEAN và Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), trong năm 2017, các nước ASEAN đã hoàn tất việc ký kết Nghị định thư thứ hai và thứ ba sửa đổi ACIA và tiến tới sớm hoàn thành ký kết Nghị định thưthứ tư sửa đổi Hiệp định này vào năm 2019 để tăng cường luồng đầu tư trong khu vực Đông Nam Á
Về các lĩnh vực khác, Việt Nam và các nước ASEAN đã đạt được những tiến bộ cụ thể hơn trong việc thực thi các lĩnh vực mới, như các hoạt động chuẩn bị cho cách mạng công nghiệp 4.0, thương mại điện tử và phát huy vai trò của Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trang 12vào việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững Trong năm 2018 vừa qua, có thể kể đến một số nội dung đã được thống nhất triển khai và hoàn thành như: ký kết Hiệp định ASEAN về Thương mại điện tử, thông qua Khung Hội nhập số ASEAN, xây dựng Quy tắc ứng xử về xây dựng xanh của ASEAN,v.v
Không chỉ tham gia sâu rộng và toàn diện vào hợp tác nội khối, Việt Nam cùng ASEANthúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác quan trọng khác như Ấn Độ, Hàn Quốc,Nhật Bản, Niu Di-lân, Ốt-xtrây-lia, Trung Quốc, v.v thông qua ký kết một loạt hiệp địnhFTA giữa ASEAN với các đối tác này Quan hệ hợp tác kinh tế với các các đối tác quantrọng khác như Hoa Kỳ, EU, Ca-na-đa, Liên bang Nga cũng được Việt Nam phối hợp vớicác nước thành viên ASEAN khác triển khai tích cực thông qua các sáng kiến, cácchương trình hành động cụ thể, tập trung vào các nội dung các bên cùng quan tâm nhưkinh tế thương mại, đầu tư quốc tế, phát triển năng lực Cụ thể, một số kết quả nổi bật vềhợp tác ngoại khối trong thời gian gần đây có thể kể đến như:
- Việt Nam đã phối hợp với các nước thành viên ASEAN khác triển khai các thủ tục cầnthiết và hoàn thành việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Hồng Công, TrungQuốc vào ngày 23 tháng 02 năm 2018, và đang triển khai các thủ tục phê chuẩn Hiệpđịnh này, hướng tới việc đưa Hiệp định vào hiệu lực trong năm 2019
- Cùng với các nước ASEAN khác, Việt Nam đã ký kết “Biên bản ghi nhớ về Hợp tácKinh tế giữa ASEAN và Liên minh Kinh tế Á - Âu” bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN -Nga, tháng 11 năm 2018
- Việt Nam cùng các nước ASEAN hoàn thành rà soát nâng cấp Hiệp định Thương mại tự
do ASEAN – Ôtx-trây-lia – Niu Di-lân cũng như hoàn thành rà soát pháp lý và các thủtục nội bộ để ký kết Nghị định thư thứ nhất sửa đổi Hiệp định Đối tác Kinh tế ASEAN –Nhật Bản, bổ sung các cam kết về thương mại dịch vụ, đầu tư và di chuyển thể nhân vào
Trang 13Hiệp định này Nghị định thư này dự kiến sẽ được ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng RCEPgiữa kỳ lần thứ 7, tháng 3 năm 2019.
- Về đàm phán thương mại với các đối tác, sau khi khởi động đàm phán từ tháng 5/2013,đến nay, Việt Nam cùng các nước thành viên Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực(RCEP) đã tham gia 12 đàm phán cấp Bộ trưởng nhiều phiên đàm phán chính thức giữa
kỳ Việt Nam đã tích cực phối hợp với các nước thành viên RCEP góp phần duy trì vaitrò trung tâm của ASEAN trong đàm phán với các đối tác và thúc đẩy đàm phán RCEPđạt được tiến bộ quan trọng trong năm 2018, hướng tới kết thúc đàm phán trong thời giantới đây
- Đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN-EU, Việt Nam đã thể hiện sự tíchcực trong việc điều phối với các nước ASEAN và EU nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu,thảo luận với EU về dự thảo khung khổ các yếu tố chính trong Hiệp định FTA ASEAN –
EU trong tương lai
● Hội nhập khuôn khổ APEC (11/1998):
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998 Thành tựu phát triển kinh tế và hội nhập quốc
tế của nước ta trong hơn 20 năm qua đã khẳng định chủ trương tham gia APEC là hoàn toàn đúng đắn và đúng thời điểm
Thứ nhất, là cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu tại Châu Á – Thái Bình Dương, nơi hội tụ
các nền kinh tế, thương mại và công nghệ lớn toàn cầu, chiếm 39% dân số, đóng góp 59% GDP, hơn 49% thương mại của thế giới, APEC đã mang lại nhiều lợi ích về chiến lược, kinh tế, thương mại và đầu tư, góp phần thúc đẩy cải cách trong nước, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam APEC là diễn đàn quy tụ 14 trên 28 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và là các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta, chiếm 75% kim ngạch xuất nhập khẩu, 78% tổng vốn đầu tư trực tiếp và 79% lượng khách du
Trang 14lịch quốc tế của Việt Nam 14 trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ta đã, đangđàm phán và ký kết là với 17 trên 20 thành viên APEC Những con số này minh chứng rõnét tầm quan trọng của APEC đối với phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Thứ hai, tham gia APEC góp phần quan trọng nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam Là
thành viên APEC, Việt Nam có vai trò, tiếng nói bình đẳng trước nền kinh tế hàng đầu thế giới trong tham gia định hình liên kết kinh tế khu vực Bên cạnh đó, diễn đàn APEC cũng là kênh quan trọng để chúng ta thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan
hệ với các đối tác đi vào chiều sâu và thực chất Điều này có ý nghĩa quan trọng để chúng ta đẩy mạnh triển khai chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương
Thứ ba, nổi bật nhất trong 20 năm tham gia APEC phải kể đến việc Việt Nam là một
trong số không nhiều thành viên đã hai lần đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC,vào các năm 2006 và 2017 Với vai trò chủ trì của Việt Nam, tại Tuần lễ Cấp cao tháng 11/2006 tại thủ đô Hà Nội, lần đầu tiên các nhà Lãnh đạo APEC đã xác định triển vọng hướng tới hình thành Khu vực Thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) Đây là dấu ấn quan trọng, đặt nền móng cho tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế toàn khu vực Cùng với đó, Chương trình Hành động Hà Nội nhằm thực hiện các Mục tiêuBô-go, Gói biện pháp tổng thể cải cách APEC, các cam kết hợp tác về an ninh con người,phát triển nguồn nhân lực, cải cách cơ cấu, hỗ trợ các thành viên đang phát triển nâng caonăng lực hội nhập cũng được đánh giá là những giải pháp kịp thời, hữu hiệu cho nhữngvấn đề APEC phải đối mặt tại thời điểm đó Sau 11 năm, chúng ta tiếp tục được các thànhviên tín nhiệm lựa chọn đăng cai APEC lần thứ hai trong bối cảnh năm 2017 được đánh giá là một trong những thời điểm khó khăn nhất đối với Diễn đàn, với sự nổi lên mạnh
mẽ của chủ nghĩa bảo hộ, dân túy, chống toàn cầu hóa cũng như các thách thức về biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội, già hóa dân số… Ta đã tổ chức thành công xuất sắc
Trang 15Năm APEC 2017 với đỉnh cao là Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 25 (TLCC APEC 25) tạithành phố Đà Nẵng Tuyên bố Hội nghị Cấp cao APEC 25 (AELM 25) và Hội nghị liên
Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế lần thứ 29 (AMM 29) cùng các văn kiện kèm theo đã góp phần giữ vững đà hợp tác, liên kết, duy trì giá trị cốt lõi APEC về thúc đẩy thương mại và đầu tư tự do và mở và ủng hộ hệ thống thương mại đa phương Vai trò và đóng góp của Việt Nam được đặc biệt đề cao khi chúng ta đảm nhiệm vị trí Giám đốc điều hành Ban Thư ký APEC (năm 2005 - 2006), Chủ tịch/Phó Chủ tịch nhiều Ủy ban và nhiều Nhóm công tác chủ chốt, chủ trì khởi xướng thảo luận về xây dựng Tầm nhìn mới cho Diễn đàn APEC sau năm 2020
Thứ tư, tham gia APEC và thực hiện các sáng kiến về mở cửa thương mại, đầu tư, tạo
điều kiện kinh doanh góp phần tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước, từng bước hoàn thiện thể chế chính sách, quy định phù hợp với các cam kết quốc tế Tham gia sân chơi APEC tạo tiền đề để Việt Nam tham gia vào những sân chơi rộng lớn và có mức độ cam kết hơn hơn như WTO, các FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao.Việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng là đòn bẩy để hiện thực hóa quyết tâm xây dựngChính phủ liêm khiết, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp
Thứ năm, là thành viên đang phát triển trong APEC, Việt Nam đã đề xuất thực hiện cũng
như hưởng lợi từ các chương trình xây dựng năng lực và hỗ trợ kỹ thuật Một trong ba trụcột chính của APEC là hợp tác kinh tế và kỹ thuật (ECOTECH), hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển nâng cao năng lực, cải cách kinh tế và hội nhập khu vực, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển Việc triển khai các sáng kiến cùng các dự án hỗ trợ của APEC đã góp phần nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho các Bộ, ngành, địa phương vàdoanh nghiệp, tăng cường kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập
Cuối cùng, diễn đàn APEC mang đến những tiềm năng và cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam Đối thoại giữa các nhà Lãnh đạo APEC với Hội đồng tư vấn doanh
Trang 16nghiệp APEC (ABAC) và Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC hàng năm là dịp quan trọng để cộng đồng doanh nghiệp đề xuất khuyến nghị lên các nhà Lãnh đạo, chủ động tham gia đóng góp xây dựng chính sách liên kết kinh tế khu vực, đồng thời tạo khuôn khổ để doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các tập đoàn hàng đầu thế giới APECcũng hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong tiếp cận thị trường, hưởng môi trường đầu tư, kinh doanh và điều kiện đi lại thuận lợi, tìm kiếm cácnhà đầu tư chiến lược, tiếp cận công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến.
● Hội nhập khuôn khổ ASEM:
Được thành lập cách đây 22 năm (1996), ASEM đã phát triển vượt lên kỳ vọng ban đầu, khẳng định là cơ chế đối thoại và hợp tác quan trọng, có quy mô lớn nhất giữa hai châu lục, thúc đẩy xu thế hợp tác, liên kết đa tầng nấc vì hòa bình và phát triển ASEM đã và đang là nhân tố quan trọng góp phần định hình cục diện thế giới trong thế kỷ 21 Thời gian qua, Diễn đàn đang chuyển mình với những nội hàm hợp tác và liên kết sâu rộng, từng bước mang lại lợi ích thiết thân cho các thành viên trong nỗ lực duy trì hòa bình, anninh, ổn định, phục hồi kinh tế, ứng phó các thách thức toàn cầu Vượt qua nhiều rào cản
và khác biệt, ASEM ngày nay trở thành đại gia đình với 53 thành viên
Là một trong những thành viên sáng lập ASEM, Việt Nam luôn phát huy vai trò chủ độngtham gia hợp tác Á-Âu trên cả 3 lĩnh vực: đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác khác Việc tham gia ASEM tạo thêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, hỗ trợ cho quan hệ song phương, đẩy mạnh ngoại giao đa phương; tranh thủ khả năng hợp tác thương mại, đầu tư,chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hóa, giáo dục - đào tạo phục vụ các yêu cầu phát triển đất nước:
Thứ nhất, ASEM là nơi hội tụ 19 trong số 26 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam, chiếm khoảng 70% đầu tư trực tiếp nước ngoài, 70% tổng giá trị thương mại
Trang 17quốc tế và 80% lượng khách du lịch quốc tế 14 trong 16 hiệp định thương mại tự do màViệt Nam đã ký hoặc đang đàm phán là với các đối tác ASEM (trong số 60 đối tác có 47thành viên ASEM) Những con số này phản ánh phần nào ý nghĩa và vai trò của các thành viên ASEM đối với bức tranh tổng thể kinh tế Việt Nam, nhất là trong việc duy trìtốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý cao, từngbước nâng cao đời sống nhân dân.
Thứ hai, trong bối cảnh môi trường hòa bình, an ninh trên thế giới và khu vực đứng trướcnhiều thách thức, cạnh tranh giữa các nước lớn phức tạp, chúng ta đã phối hợp chặt chẽ với các thành viên ASEAN để ngày càng có nhiều thành viên đề cao lợi ích chung trong duy trì hòa bình, an ninh và ổn định để phát triển, lên tiếng ủng hộ lập trường chính nghĩacủa ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ…
Thứ ba, chiếm 24 trong số 25 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam, ASEM là diễn đàn quan trọng để Việt Nam đa phương hóa Các thỏa thuận quan trọng mà
ta đạt được nhân dịp các Hội nghị Cấp cao ASEM như thỏa thuận với EU về việc Việt Nam gia nhập WTO, ký tắt Hiệp định Đối tác và Hợp tác với EU tại Hội nghị ASEM 8, Tuyên bố định hướng kết thúc đàm phán FTA Việt Nam - EU bên lề Hội nghị Cấp cao ASEM 11 năm 2018 là một số ví dụ
Thứ tư, thông qua các cơ chế hợp tác về quản lý và giảm thiểu rủi ro thiên tai, Đối thoại ASEM về phát triển bền vững với trọng tâm là hợp tác Mekong - Danube, các Bộ, ngành,địa phương đã tranh thủ kinh nghiệm và hỗ trợ thiết thực của các thành viên ASEM trongứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước gắn với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường EU khẳng định hỗ trợ các nước hạ nguồn Mekong, cam kết tài trợ 1,7 tỷ Euro cho các chương trình của Mekong trong giai đoạn 2014 - 2020, Trung Quốc cam kếthợp tác, ủng hộ các hình thức hỗ trợ phát triển cho các nước hạ lưu sông Mekong, các dự
án hợp tác của Hungary, Hà Lan, Italy, Đức, ở ĐBSCL là những minh chứng sinh động.Kênh hợp tác địa phương đầu tiên trong ASEM giữa Bến Tre và Tulcea (Romania), Cần
Trang 18Thơ và Ruse (Bulgaria) mở ra triển vọng tham gia hợp tác thực chất, hiệu quả của các địa phương trong hợp tác ASEM.
Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với ASEAN và các thành viênkhác trao đổi tìm ra phương cách phù hợp làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác toàn diện Á -Âu; chủ động “đóng góp, xây dựng và định hình”, đề xuất giải pháp cho các vấn đề lớn của ASEM như vấn đề mở rộng thành viên, củng cố cơ chế hoạt động, thúc đẩy hiệu quả của Nhóm hợp tác chuyên ngành…; Tranh thủ các thành viên thúc đẩy các quan tâm chung của ASEM, đồng thời là lợi ích của Việt Nam như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, ứng phó thiên tai… Đồng thời, nâng cao nhận thức về vai trò ASEM, tăng cườngphối hợp liên ngành, cải tiến, đổi mới cơ chế thông tin, phối hợp giữa các Bộ, ban ngành với địa phương, doanh nghiệp để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong chủ trương và triển khai các hoạt động ASEM
● Tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA):
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) Trong bối cảnh hệ thống thương mại đa biên đang gặp phảinhững khó khăn nhất định, sự phát triển hợp tác kinh tế song phương và khu vực, thể hiệnqua việc hình thành các FTA là một sự bổ trợ quan trọng cho mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư đa phương trên phạm vi toàn cầu hiện nay Việc hình thành các FTA với mức độ tự do hoá sâu rộng đã và đang đem lại những cơ hội và cả thách thức không nhỏ đối với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam Chính vì vậy, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc mà cần phải chủ động nắm bắt xu thế FTA, tham gia có lựa chọn để nắm bắt cơ hội tiếp cận thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác quan trọng
Cho tới thời điểm hiện nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 12 FTA gồm: 7 FTA ký kết với
tư cách là thành viên ASEAN (CEPT/AFTA và FTA với các đối tác: Trung Quốc, Hàn