Quy chế pháp lý về quản trị TĐKT còn nhiều bất cập khi chưa xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý, chưa thể hiện được vai trò của đại diện chủ sở hữu nhà nước, hoạt động của các công ty
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
LÊ THỊ LÂM
Sù TIÕP NHËN C¸C NGUY£N T¾C QU¶N TRÞ C¤NG TY CñA OECD TRONG PH¸P LUËT
VÒ TËP §OµN KINH TÕ NHµ N¦íC VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
LÊ THỊ LÂM
Sù TIÕP NHËN C¸C NGUY£N T¾C QU¶N TRÞ C¤NG TY CñA OECD TRONG PH¸P LUËT
VÒ TËP §OµN KINH TÕ NHµ N¦íC VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Lâm
Trang 4MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 8
1.1 Quan điểm về tiếp nhận pháp luật 8
1.2 Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD 10
1.2.1 Quan niệm về quản trị công ty của OECD 10
1.2.2 Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước 15
1.3 Một số đặc trưng của tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam 21
1.4 Kinh nghiệm áp dụng Bộ nguyên tắc quản trị công ty trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở các nước thuộc OECD và một số nước không thuộc OECD 23
1.4.1 Tổng quan kinh nghiệm áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty của các nước thành viên OECD 24
1.4.2 Kinh nghiệm Trung Quốc về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước 27
1.5 Lợi ích của việc áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt Nam 29
1.6 Tiểu kết Chương 1 31
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC
NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD 33
2.1 Cơ sở pháp lý của quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước 33
2.2 Thực trạng pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam 37
2.2.1 Các quy định liên quan đến đảm bảo hoạt động của Nhà nước với tư cách một chủ sở hữu 38
2.2.2 Các quy định liên quan đến đối xử công bằng giữa các chủ sở hữu của tập đoàn kinh tế nhà nước 44
2.2.3 Các quy định về công khai, minh bạch của tập đoàn kinh tế nhà nước 47
2.2.4 Trách nhiệm của tập đoàn kinh tế nhà nước trong các giao dịch với các bên có liên quan 57
2.2.5 Các quy định về trách nhiệm của Hội đồng thành viên 59
2.2.6 Vai trò giám sát của công ty mẹ đối với các công ty con và giám sát thực hiện mục tiêu chung của cả tập đoàn 62
2.3 Thực tiễn quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 63
2.3.1 Những ưu điểm 63
2.3.2 Những hạn chế 68
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 72
2.4 Tiểu kết chương 2 74
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM VỚI SỰ CHÚ Ý, THAM KHẢO CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD 76
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước 76
3.2 Quan điểm tiếp nhận pháp luật bên ngoài trong quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước 78
Trang 63.3 Cơ chế tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty vào hệ thống
pháp luật Việt Nam 80
3.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước trên cơ sở tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD 82
3.4.1 Vấn đề hoàn thiện khung pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước 83
3.4.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của chủ sở hữu nhà nước 83
3.4.3 Bổ sung các quy định về thực thi quyền giám sát của chủ sở hữu đối với tập đoàn kinh tế nhà nước 86
3.4.4 Bổ sung những hướng dẫn để thực hiện quy định về quản trị nội bộ mang tính đặc thù của tập đoàn kinh tế nhà nước đạt hiệu quả cao 88
3.4.5 Hoàn thiện các quy định về minh bạch thông tin và chế độ kiểm toán đối với tập đoàn kinh tế nhà nước 89
3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam hiện nay 90
3.6 Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu và chữ viết tắt Nội dung
CIEM Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ƣơng ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Số hiệu Biểu đồ, Sơ đồ Tên Biểu đồ, Sơ đồ Trang
Biểu đồ 2.1: Một số chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn dầu khí Việt Nam 65 Biểu đồ 2.2: Đóng góp của tập đoàn viễn thông quân đội vào hoạt động an
sinh xã hội, từ thiện 66
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và điều hành EVN 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết, thời sự, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Mô hình Tập đoàn kinh tế (TĐKT) ở Việt Nam đã được manh nha hình thành từ đầu những năm 1990 Đó là những thí điểm đầu tiên về việc thành lập TĐKT nhà nước được ghi nhận trong Quyết định số 90/TTg và Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 7/3/1994 về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và thí điểm thành lập TĐKT nhà nước, sau đó được quy định trong Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 và hiện nay khi Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 hết hiệu lực, các TĐKT nhà nước cũng sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Cụ thể hơn, đó chính là quy chế pháp lý về nhóm doanh nghiệp quy định tại Chương VII – Luật Doanh nghiệp 2005 về nhóm công ty
Tính đến tháng 31 tháng 03 năm 2014, cả nước có 12 Tập đoàn kinh tế nhà nước Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các TĐKT nhà nước lại không đạt được những mục tiêu được chủ sở hữu nhà nước giao cho thực hiện Sự thất bại trong thí điểm thành lập và hoạt động của một số TĐKT nhà nước cho thấy còn nhiều vướng mắc về cơ chế pháp lý mô hình TĐKT và các vấn
đề quản trị TĐKT nhà nước
Quy chế pháp lý về quản trị TĐKT còn nhiều bất cập khi chưa xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý, chưa thể hiện được vai trò của đại diện chủ sở hữu nhà nước, hoạt động của các công ty trong các tập đoàn còn mang nặng tính hành chính, mệnh lệnh, không tạo ra được sự độc lập trong quản lý
và điều hành doanh nghiệp, tính trách nhiệm của các bộ phận như Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, vai trò của các cơ quan này không được đề cao
và có sự phụ thuộc lẫn nhau dễ dẫn đến tư lợi cá nhân, cơ chế kiểm soát nội
bộ và chế độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp còn thiếu và yếu, chức năng giám sát của chủ sở hữu công ty còn chưa rõ ràng, tình trạng đầu tư
Trang 10ngoài ngành ở một số chưa được kiểm soát dẫn đến tình trạng tập đoàn phát triển lệch định hướng, không hoàn thành mục tiêu được giao
Quản trị công ty là một vấn đề cơ bản trong lĩnh vực Luật công ty và Luật chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới Bộ nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (Tên tiếng anh: Organization for Economic Cooperation and Development- tên viết tắt OECD) và hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong Doanh nghiệp nhà nước cung cấp một khuôn khổ cho việc xác định những vấn đề quản trị công ty gồm có: quyền và việc được đối xử bình đẳng của các cổ đông và các bên có lợi ích tài chính liên quan, vai trò của các bên có lợi ích phi tài chính liên quan; vấn đề công
bố thông tin và tính minh bạch; trách nhiệm của Hội đồng quản trị
Mặc dù, Việt Nam đã ghi nhận sự khuyến nghị của Tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD), nhưng nguyên tắc quản trị công ty còn là một vấn
đề mới đối với hệ thống pháp luật về TĐKT nhà nước Việt Nam Năm 2012,
Bộ Tài chính Việt Nam ban hành “Bộ quy chế quản trị công ty và Điều lệ mẫu tại Thông tư 121/2012/TT-BTC” áp dụng cho các công ty đại chúng trong đó đề cập đến các nguyên tắc cơ bản được chấp nhận rộng rãi trong quản trị công ty, bao gồm các nguyên tắc Quản trị công ty của OECD Pháp luật về TĐKT nhà nước hiện hành mới dừng lại ở việc xây dựng mô hình quản lý mà chưa quan tâm thỏa đáng đến vấn đề quản trị tập đoàn
Với nhận thức đây là một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cao, tôi
lựa chọn vấn đề “Sự tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
trong pháp luật về tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam hiện nay” là đề tài
luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lý luận về TĐKT là một vấn đề lớn, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học Cho đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức, giáo sư, tiến sĩ
Trang 11và nhiều Luật gia quan tâm đến nội dung pháp lý về TĐKT nhà nước Tuy nhiên, nghiên cứu về khía cạnh quản TĐKT nhà nước trong pháp luật quản trị công ty Việt Nam còn hạn chế Hiện nay, có một số nghiên cứu liên quan như:
"Dự án đổi mới quản trị Doanh nghiệp Nhà nước và giám sát TĐKT nhà nước theo cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới và thông lệ kinh tế thị trường." của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) năm 2010;
"Khung pháp luật về quản trị doanh nghiệp - Thực trạng và nhu cầu hoàn thiện." của TS Lê Minh Toàn "Thực trạng quản trị doanh nghiệp nhà nước sau
cổ phần hóa tại Việt Nam" của ThS Hoàng Anh Duy và ThS Lê Việt Anh
Dự án nghiên cứu của CIEM đã tiếp cận vấn đề quản trị doanh nghiệp nhà nước theo cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Nghiên
cứu này đã đạt được những kết quả sau: Một là, hệ thống hóa các văn bản
pháp luật có đối tượng điều chỉnh là Doanh nghiệp nhà nước đến năm 2010
Trên cơ sở nhìn nhận tổng quan về hệ thống pháp luật, nghiên cứu chỉ ra những bất cập, yếu kém của cả hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nhà nước,
đánh giá dựa trên tiến trình cam kết gia nhập WTO của Việt Nam; Hai là,
nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về quản trị doanh nghiệp nhà nước,
ví dụ: Trung Quốc, Đức, Pháp, Slovenia Từ đó đưa ra khuyến nghị cải cách
quản trị khối doanh nghiệp nhà nước nói chung; Ba là, đề xuất những kiến
nghị cải cách quản trị Doanh nghiệp nhà nước theo cam kết gia nhập WTO
Nghiên cứu của TS Lê Minh Toàn xác định nội hàm của khái niệm quản trị công ty, nêu lên vai trò của quản trị công ty đối với nền kinh tế thị trường Căn cứ vào "Báo cáo đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam" của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam thực hiện vào tháng 06/2006 để xác định thực trạng của tình hình quản trị doanh nghiệp thông qua việc phân tích thực trạng quản trị tại một số công ty là Công ty niêm yết Các nội dung
về quản trị được xem xét bao gồm: Đảm bảo quyền lợi của cổ đông nói chung
Trang 12và cổ thông thiểu số nói riêng; tính công khai hóa; Kiểm soát các giao dịch của công ty đối với các bên có liên quan; kiểm soát nội bộ doanh nghiệp; vai trò và vị thế của Hội đồng quản trị; Minh bạch hóa các báo cáo doanh nghiệp
Nghiên cứu của ThS Hoàng Anh Duy và ThS Lê Việt Anh phân tích quản trị doanh nghiệp nhà nước dưới góc nhìn kinh tế Theo đó, quản tri doanh nghiệp nhà nước được xem xét dưới ba góc độ là: Quản trị chiến lược, quản trị tài chính và quản trị nhân sự Đánh giá quy luật tích tụ và tập trung vốn của trường, các tác giả đã chỉ rõ được ưu và nhược điểm trong từng loại hình quản trị của Doanh nghiệp nhà nước; phân tích những hạn chế và nguyên nhân như: Phương thức và biện pháp quản trị lỗi thời, đổi mới quản trị còn mang nặng tính hình thức, không chú trọng tới hiệu quả, chưa thể hiện tính mới, tính sáng tạo trong quản trị doanh nghiệp, tư tưởng quản trị vẫn mang nặng cơ chế "xin - cho", vấn đề sử dụng lao động chất xám chưa coi trọng
Bản thân tác giả trong khóa luận tốt nghiệp năm 2011 đã nghiên cứu đề
tài “Một số vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế theo Luật Doanh nghiệp 2005”
Đề tài đã nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành và phát triển TĐKT ở Việt Nam;Thực trạng pháp luật về TĐKT và đưa ra những kiến nghị hoàn hiện pháp luật về cơ chế đầu tư vốn, kiện toàn mối quan hệ giữa công ty mẹ- công ty con và các đơn vị phụ thuộc của công ty mẹ
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu nêu trên, trong luận văn này, tác giả sẽ tiếp tục kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:
- Thứ nhất, làm rõ lý luận về tiếp nhận pháp luật và các nội dung của
quản trị công ty, quản trị TĐKT nhà nước
- Thứ hai, nghiên cứu khuyến nghị của OECD về quản trị Doanh
nghiệp nhà nước, phân tích những đặc thù của quản trị DNNN, dựa trên những đặc điểm riêng của TĐKT nhà nước Việt Nam để xem xét sự phù hợp
Trang 13trong các khuyến nghị của OECD về quản trị công ty
- Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị TĐKT
nhà nước theo từng nguyên tắc quản trị DNNN của OECD; phân tích những mặt đạt được, những hạn chế, yếu kém, chỉ ra các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp trong thời gian tới
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, kinh nghiệm một số nước về sự tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD áp dụng với TĐKT nhà nước; đánh giá sự phù hợp của Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD và Hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong DNNN; đánh giá hiệu quả quản trị TĐKT nhà nước từ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành đến thực tiễn quản trị công ty tại TĐKT nhà nước theo từng nguyên tắc của OECD, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về quản trị công ty đối với TĐKT nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước ở Việt Nam với sự tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể sau: Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tiếp nhận pháp luật,
các nội dung chính của quản trị doanh nghiệp và quản trị TĐKT nhà nước dựa
trên các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp nhà nước của OECD Hai là, hệ
thống, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước Việt Nam, trong đó chỉ rõ những khía cạnh pháp lý về quản trị, những kết quả
đạt được, những hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân của những bất cập đó Ba
là, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị TĐKT
nhà nước và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản trị
Trang 14của DNNN trên cơ sở tham khảo những nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là việc xây dựng các nguyên tắc quản trị TĐKT nhà nước trong pháp luật Việt Nam dựa trên các khuyến nghị của OECD về quản trị công ty
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian và thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước ở Việt Nam từ khi thí điểm thành lập TĐKT Nhà nước đến nay
Về mặt nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản nhất trong các nguyên tắc quản trị công ty của OECD và vấn đề tiếp nhận các nguyên tắc này trong pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu khoa học được thực hiện gồm: phương pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp, phân tích so sánh, đối chiếu… và có
sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó đã công bố Bằng những phương pháp này, luận văn xác định nội dung nghiên cứu chính là sự phù hợp các nguyên tắc quản trị công ty của OECD với vấn đề quản trị TĐKT nhà nước Đây sẽ là định hướng xuyên suốt luận văn để làm cơ sở cho các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo
Việc nghiên cứu kinh nghiệm các nước đã áp dụng bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD bằng phương pháp tổng hợp so sánh và thông qua việc
kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, luận văn đã cố gắng làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong quản trị DNNN của mỗi quốc gia; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho phần nội dung chính của
Trang 15Luận văn và kiến nghị những giải pháp phù hợp với pháp luật quản trị DNNN trong nước
Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng để tác giả có được nhìn nhận tổng quát nhất về đặc trưng quản trị công ty trong các TĐKT nhà nước để từ
có có những kiến nghị phù hợp với đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam và mô hình hoạt động của các TĐKT nhà nước
6 Những điểm mới và những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu lý thuyết chung về tiếp nhận pháp luật, cơ chế tiếp nhận pháp luật và những lợi ích của việc tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty đối với TĐKT nhà nước;
Làm rõ các vấn đề pháp lý về quản trị công ty áp dụng đối với TĐKT Nhà nước Việt Nam theo phương pháp tiếp cận về quản trị công ty của OECD
Phân tích rõ thực trạng pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước; đánh giá hiệu quả thực tế quản trị tại một số tập đoàn, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quản trị, làm rõ những nguyên nhân; từ đó chỉ ra đặc trưng riêng trong quản trị TĐKT nhà nước Việt Nam và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị TĐKT nhà nước trên cơ sở tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tiếp nhận pháp luật và các nguyên
tắc quản trị công ty của OECD đối với doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước
Việt Nam trong mối liên hệ với các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam với sự chú ý, tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Quan điểm về tiếp nhận pháp luật
Tiếp nhận pháp luật là một lĩnh vực không mới ở nước ngoài nhưng còn là một khái niệm mới ở Việt Nam Khi nghiên cứu việc áp dụng những quy phạm pháp luật nước ngoài hay những học thuyết pháp lý, những thông lệ quốc tế thì có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng như: chuyển giao pháp luật, vay mượn pháp luật, hài hòa hóa pháp luật, thích nghi pháp luật, cấy ghép pháp luật
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ chuyển giao pháp luật (legal transplant) lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1974 trong hai nghiên cứu độc lập của Alan Watson và của Kahn Freund Theo đó thì “legal transplant” là việc đưa quy định pháp luật từ một quốc gia này sang áp dụng tại một quốc gia hay đây là quá trình mà luật và các chế định pháp lý được xây dựng ở một quốc gia sau đó được chấp nhận và thực hiện ở một quốc gia khác [30] Nhà
tư tưởng Pháp Montesquieu và học giả Pierre Legrand lại có quan điểm phủ
nhận khả năng tiếp nhận pháp luật nước ngoài và cho rằng, "pháp luật của mỗi quốc gia gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và con người của quốc gia đó, cho nên nó không thể “sống” trong một môi trường khác" [36] Và Pierre Legrand đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ
vô hồn" [55]
Ở Việt Nam, áp dụng pháp luật trong quá trình xây dựng pháp luật trong nước - legal transplant (trong tiếng Anh) thường được sử dụng dưới tên gọi “tiếp nhận” pháp luật nước ngoài hoặc cấy ghép pháp luật
Trang 17Theo nhà luật học Bùi Xuân Hải "Cấy ghép pháp luật được hiểu là quá
trình “di chuyển” của các quy tắc pháp lý hay các chế định pháp luật (hoặc có
thể là các học thuyết pháp lý) từ nước này sang nước khác trong quá trình làm luật và cải cách pháp luật Sự di chuyển này thể hiện ở việc các quy tắc, chế định, học thuyết pháp lý của nước A được nước B tiếp nhận và đưa vào hệ thống pháp luật của mình Việc tiếp nhận có thể thực hiện ở nhiều cấp độ: quy tắc đơn lẻ, một chế định, một nguyên tắc pháp lý và thậm chí, cả cấu trúc pháp luật [30]
Nhà luật học Phạm Duy Nghĩa cho rằng “tiếp nhận pháp luật không chỉ bao gồm việc vay mượn pháp luật ngoại quốc bởi các cơ quan soạn thảo và ban hành pháp luật Cũng như văn hoá nói chung, sự tiếp nhận pháp luật diễn
ra bởi nhiều kênh giao lưu khác nhau; càng tự nhiên thì càng có hiệu quả;
ngược lại càng gượng ép hoặc bắt buộc thì dường như càng thất bại” Theo
đó, tiếp nhận pháp luật không phải là việc máy móc áp dụng những quy phạm pháp luật, những nguyên tắc pháp lý trong các văn bản luật của một hay nhiều quốc gia vào pháp luật của nước mình mà nó là quá trình nghiên cứu, học hỏi những quy tắc những chế định pháp lý trong từng lĩnh vực pháp luật khác nhau bằng nhiều cách thức khác nhau như: nội luật hoá các công ước, điều ước, hiệp định quốc tế song và đa phương; những cam kết khi tham gia vào một tổ chức quốc tế; thông qua việc áp dụng các luật mẫu; các điều lệ của các
tổ chức nghề nghiệp, các thông lệ quốc tế; nghiên cứu khoa học, đào tạo và trao đổi tư liệu [38, Chương 3]
Thạc sỹ Nguyễn Đức Lam cùng quan điểm với học giả Teubner cho rằng:
Lý luận về tiếp nhận pháp luật cần phải có “cái nhìn có tính chủ thuyết tinh tế về thực tiễn tiếp nhận” “Cái nhìn có tính chủ thuyết tinh tế” của ông bao gồm bốn luận điểm về hình dạng của những mối liên hệ pháp lý: thứ nhất,
Trang 18các mối liên hệ của pháp luật hiện này không còn mang tính toàn diện nữa,
mà trải từ những mối liên hệ lỏng lẻo đến chặt chẽ nhất; thứ hai, chúng không kết nối với toàn thể xã hội, mà với từng mảng trong xã hội; thứ ba, ở những nơi trước đây pháp luật gắn với xã hội bởi tính đồng nhất của nó, thì giờ đây các mối liên hệ được thiết lập bởi tính khác biệt; thứ tư, các mối liên hệ không còn nhập vào một con đường phát triển lịch sử chung nữa, mà tách thành hai hay ba con đường tiến hóa độc lập và xung đột với nhau [33]
Xem xét những quan điểm nêu trên tác giả có cùng quan điểm về tiếp nhận pháp luật với nhà luật học Phạm Duy Nghĩa cho rằng tiếp nhận pháp luật
là sự nghiên cứu, đánh giá và học hỏi và đưa vào hệ thống pháp luật của mình một cách có chọn lọc các quy tắc pháp lý, chế định luật, học thuyết pháp lý hay các thông lệ quốc tế của các quốc gia khác hoặc tổ chức quốc tế, khu vực (thuộc chính phủ hoặc phi chính phủ) Sự tiếp nhận này được áp dụng ở mỗi nước là khác nhau và được chọn lọc dựa trên các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và hệ thống pháp luật hiện tại của từng quốc gia Với phạm
vi nghiên cứu của đề tài, trong nội dung nghiên cứu lý luận về tiếp nhận pháp luật dưới đây, tác giả tập trung nghiên cứu lý luận về tiếp nhận thông lệ quốc
tế mà cụ thể là các nguyên tắc quản trị công ty của OECD với các nội dung về phương thức tiếp nhận, điều kiện tiếp nhận hiệu quả và cơ chế tiếp nhận pháp luật đối với pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước Việt Nam
1.2 Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
1.2.1 Quan niệm về quản trị công ty của OECD
Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước Tây
Âu Hiện nay, số thành viên của OECD là 30 quốc gia, gồm Mỹ, Canada, Áo,
Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan,
Trang 19Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Nhật Bản, Phần Lan, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Mexico, Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Slovakia [33]
Trên thế giới, OECD đã có nhiều các nghiên cứu và báo cáo đánh giá
về tình hình quản trị công ty của các nước nhưng chủ yếu tập trung ở các nước thành viên Trên cơ sở việc nghiên cứu và đánh giá đó năm 1999, OECD đã ban hành các nguyên tắc quản trị công ty Bộ nguyên tắc này cung cấp các tiêu chuẩn không bắt buộc và các thông lệ tốt cũng như hướng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn và thông lệ tốt này, có thể điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia và khu vực
Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD) (2004) quan niệm "quản trị công ty liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác" [40, tr 11]
Khái niệm này được cho là phù hợp với yêu cầu của bối cảnh kinh tế mới khi mà quản trị công ty gắn chặt và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, người cung cấp, người lao động, khách hàng của công ty
Mục tiêu cải thiện quản trị công ty là nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua các công cụ đòn bẩy và khuyến khích các nhà quản lý và người lao động tối đa hóa hiệu quả hoạt động của mình; hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lực của các nhà quản lý; cung cấp các công cụ giám sát hành
vi của người quản lý và đảm bảo trách nhiệm giải trình của người quản lý
Đồng thời, OECD cho rằng, các lỗ hổng về quản trị công ty là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến và làm trầm trọng thêm khủng hoảng tài chính năm 1997 ở châu Á nên đã phát triển và bổ sung hoàn thiện các nguyên tắc quản trị công ty (5 nguyên tắc) vào năm 1999 đến năm 2004 lại bổ sung thêm 1 nguyên tắc nữa Sáu nguyên tắc này có thể tóm tắt ở các điểm mấu chốt sau: (1) quản trị công ty cần bảo đảm các quyền cơ bản của
Trang 20các chủ sở hữu; (2) quản trị công ty phải đối xử công bằng giữa các chủ sở hữu và bảo đảm quyền được bồi thường khi quyền chủ sở hữu bị xâm phạm;
(3) quản trị công ty phải được tôn trọng các quyền của chủ sở hữu được pháp luật quy định và khuyến khích hỗ trợ cho sự hợp tác giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu vì sự thịnh vượng của doanh nghiệp, có việc làm và có nền tảng tài chính lành mạnh, bền vững; (4) quản trị công ty cần tạo cơ chế để tình hình tài chính, kết quả hoạt động, các thông tin về chủ sở hữu và giám sát doanh nghiệp được công khai một cách kịp thời và xác thực; (5) quản trị công
ty phải đưa ra những hướng dẫn chiến lược của doanh nghiệp cũng như việc giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trách nhiệm giải trình của Hội đồng quản trị đối với chủ sở hữu; (6) quản trị công ty cần phù hợp với các quy định pháp lý; hỗ trợ cho các thị trường một cách minh bạch và có hiệu quả; gắn chặt với việc phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, lập pháp và hành pháp có thẩm quyền
Một quan điểm khá phổ biến hiện nay ở các nước cho rằng, vai trò của DNNN ngày càng giảm đi khi nền kinh tế thị trường phát triển, sở hữu tư nhân là tư tưởng chi phối, hệ quả là DNNN không được coi là lựa chọn đúng đắn [42] Nếu một nền kinh tế chỉ tồn tại khu vực tư nhân và các doanh nghiệp tư nhân thì vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đặt ra, điều đó nghĩa là các doanh nghiệp tư nhân sẽ phải tự giải quyết các vấn đề xã hội và sự công bằng Một thực tế khác lại cho thấy, trong khoảng một thập kỷ gần đây, xu hướng phát triển của một hình thức doanh nghiệp vì cộng đồng là doanh nghiệp xã hội Đây là bằng chứng rõ ràng nhu cầu cần thiết về việc phải có một khu vực/tổ chức kinh tế nhận trách nhiệm lớn lao về xã hội và phát triển Khu vực kinh tế này có trách nhiệm bảo đảm sự phát triển kinh tế công bằng, giúp đấu tranh, khắc phục những hậu quả về xã hội khi kinh tế đối mặt với rủi ro Mặc dù có nhiều tranh cái về sự tồn tại của DNNN hay không,
Trang 21khu vực kinh tế này vẫn tồn tại một cách hiển nhiên và có những đóng góp không thể phủ nhận Doanh nghiệp nhà nước rõ ràng là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, mà trong nền kinh tế thị trường nó đã chuyển từ vai trò chủ đạo sang vai trò công cụ chính sách Thông qua các DNNN, tính ổn định
và bền vững của nền kinh tế được bảo đảm Yêu cầu đối với các DNNN khi tham gia vào nền kinh tế này chính là sự đối xử công bằng giữa các thành phần kinh tế Để làm được điều này, các DNNN cần tiến hành cổ phần hóa
Quá trình cổ phần hóa DNNN là một hình thức chuyển dần sở hữu tài sản nhà nước sang cho xã hội, nhà nước chỉ quản lý phần tài sản của mình thông qua
cơ chế đại diện và chính sách
Tại nhiều nước, trong khu vực kinh tế nhà nước tồn tại các TĐKT, Tổng công ty (TCT), DNNN có thực trạng tài chính là rất yếu kém, thua lỗ kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro mất cân đối tài chính [53] Thực tế đó buộc Chính phủ các nước phải tiến hành cải cách doanh nghiệp sao cho phù hợp với nền kinh tế trường, vừa đảm bảo hiệu quả hoạt động và duy trì được vai trò xã hội của DNNN Đại diện trong các DNNN không giống như đại diện ở các doanh nghiệp thuộc khu vực sở hữu tư nhân DNNN là một thực thể thuộc
sở hữu nhà nước, nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp bên cạnh những mục tiêu kinh tế, còn có mục tiêu xã hội (phần lớn các doanh nghiệp nhà nước là những doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích cho xã hội) Điểm khác biệt chính của DNNN đó là, chủ sở hữu DNNN mang quyền lực Nhà nước Nhà nước vừa ban hành cơ chế chính sách, pháp luật cho nó tồn tại và cũng là chủ thể sở hữu nó Vì vậy, kinh tế thị trường có thể dễ dàng bị bóp méo bởi sự can thiệp của nhà nước thông qua các DNNN Thực tế này đã từng tồn tại trong thời gian dài ở Việt Nam trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thị trường không phát triển theo quy luật cạnh tranh, khu vực kinh
tế nhà nước chiếm vị trí thống lĩnh và duy trì toàn bộ hoạt động của nền kinh
Trang 22tế Mặc dù, thừa nhận sự tồn tại và bình đẳng của tất cả các thành phần kinh tế nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò to lớn của DNNN đối với nên kinh tế
Vì vậy, cần có cơ chế quản trị DNNN thích hợp để tách rời quyền lực nhà nước với chức năng đại diện sở hữu của nhà nước, bảo đảm nhà nước thể hiện vai trò như một cổ đông tham gia vào hoạt động quản trị công ty và bình đẳng với những cổ đông khác Doanh nghiệp nhà nước cũng được đối xử như những doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, bảo đảm các yếu tố minh bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình của người quản lý doanh nghiệp, có
cơ chế giám sát độc lập, hiệu quả (không phải kiểm tra giám sát nhà nước) và
có tính thông tin đầy đủ và rõ ràng
Vì vậy, năm 2005 tổ chức OECD đã ban hành các hướng dẫn bộ nguyên tắc về quản trị công ty áp dụng đối với DNNN Theo đó, quản trị công
ty trong các DNNN xác định cách thức để cân bằng trách nhiệm thực thi một cách tích cực, chủ động chức năng chủ sở hữu của nhà nước với việc nhà nước hạn chế việc can thiệp vào quản trị của các DNNN Mục tiêu của bộ quy tắc này là tạo ra cơ hội ngang nhau cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khu vực tư nhân với các DNNN trên thị trường, đồng thời với việc nhà nước thực thi quyền lập pháp, lập quy và quyền giám sát thì Nhà nước không được làm méo mó quy luật cạnh tranh của thị trường Theo định hướng của OECD, Nhà nước được khuyến nghị thực hiện chức năng chủ sở hữu thông qua một đơn vị chủ sở hữu tập trung - đơn vị này cần hoạt động độc lập, thực hiện chính sách chủ sở hữu được công bố công khai Đây được coi là nhân tố quan trọng trong quản trị công ty trong các DNNN, điều này giúp tách bạch rõ ràng giữa vai trò quản lý nhà nước nói chung và vai trò chức năng chủ sở hữu nhà nước trong các DNNN Việc thực hiện các nguyên tắc trên đối với DNNN được đánh giá
là khách quan, chuyên nghiệp, có trách nhiệm và khi đó, nhà nước sẽ có vai trò tích cực trong cải thiện quản trị DNNN
Trang 23Như vậy, tương tự như cách tiếp cận và quan niệm của hầu hết các nhà kinh tế học, luật học, OECD cũng xác định nội hàm của quản trị công ty
đó là hệ thống các cơ chế, chính sách, các quy định mà ở đó doanh nghiệp được điều khiển, kiểm soát và vận hành với hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, cách nhìn nhận của OECD có phần mở rộng hơn so với những quan điểm trên ở chỗ: OECD xác định quản trị công ty không chỉ là mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp (cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc) hay là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các bên có liên quan như cơ quan nhà nước, các đối tác kinh doanh, xã hội, cộng đồng; mà quản trị công ty còn là việc tạo lập, thực hiện hệ thống các quy định, quy chế, chuẩn mực và kinh nghiệm thực tiễn tốt để đảm bảo tính trách nhiệm, minh bạch, công khai hướng tới bảo vệ quyền lợi của nhiều chủ thể (cổ đông, đối tác kinh doanh, người lao động, chủ nợ, nhà nước); quản trị công ty được xác định trên nền tảng của việc tách rời giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là, quản trị công ty không chỉ đơn thuần liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật của doanh nghiệp, nó còn tác động đến các cơ quan nhà nước trong việc thiết lập một cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật bảo đảm cho
sự vận hành hiệu quả trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp, hay nó còn tác động đến cả yếu tố tâm lý, đạo đức xã hội khi xác định trách nhiệm giải trình, minh bạch và sự thiện chí của những người được giao trách nhiệm quản lý doanh nghiệp Tất cả những nội dung đó được xác định và có hướng dẫn cụ thể trong 6 nguyên tắc quản trị công ty Chính vì vậy, các nguyên tắc này không chỉ là tiêu chuẩn cho các nước thuộc OECD mà còn được coi là tiêu chuẩn, thông lệ tốt mang tính toàn cầu
1.2.2 Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước
Xuất phát từ kinh nghiệm các nước đã bắt đầu thực hiện cải cách quản trị DNNN cho thấy việc cải cách quản trị DNNN là cần thiết nhưng quá trình triển
Trang 24khai thực hiện lại rất phức tạp Thách thức lớn nhất là cân bằng giữa trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện có hiệu quả chức năng chủ sở hữu nhà nước như bổ nhiệm/bầu thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) Bên cạnh
đó, Nhà nước phải kiềm chế trong việc can thiệp quá sâu vào quản lý doanh nghiệp Một thách thức quan trọng khác là đảm bảo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân có thể cạnh tranh với DNNN và Chính phủ các nước này không sử dụng quyền lực ban hành chính sách và giám sát để làm méo mó cạnh tranh OECD đã đưa ra sáu nguyên tắc quản trị DNNN như sau:
1.2.2.1 Bảo đảm khung pháp lý có hiệu quả cho các doanh nghiệp nhà nước
Để ngăn chặn tình trạng bóp méo thị trường, khung pháp lý về quản tri DNNN cần thực hiện được những nội dung sau:
Chức năng chủ sở hữu nên được tách bạch với các chức năng khác của nhà nước mà có ảnh hưởng đến điều kiện hoạt động của DNNN, đặc biệt là những ảnh hưởng có khả năng điều chỉnh thị trường [40]
Nhà nước cần nỗ lực đơn giản và hợp lý hóa các nguyên tắc hoạt động cũng như mô hình pháp lý của DNNN Hình thức pháp lý của DNNN cần cho phép các chủ nợ có quyền đề nghị các thủ tục giải thể, phá sản DNNN
Mọi trách nhiệm và nghĩa vụ của DNNN về sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác phải được quy định rõ ràng bằng quy định pháp luật Những nghĩa vụ, trách nhiệm đó phải được công bố công khai và các chi phí có liên quan phải hoàn trả theo cách thức minh bạch DNNN không nên là đối tượng miễn trừ của các quy định và pháp luật chung Các bên liên quan, bao gồm cả các đối thủ cạnh tranh, phải được tiếp cận với quyền được bồi thường và theo nguyên tắc công bằng nếu như quyền lợi hợp pháp của họ bị vi phạm [40]
Khuôn khổ pháp lý và quy định cần cho phép điều chỉnh một cách linh hoạt cơ cấu vốn sở hữu của các DNNN nếu như điều này là cần thiết để đạt
Trang 25được mục tiêu của doanh nghiệp Phải áp dụng cơ chế cạnh tranh khi DNNN tiếp cận với các nguồn lực tài chính Quan hệ của DNNN với các ngân hàng của Nhà nước, định chế tài chính Nhà nước và các DNNN khác phải hoàn toàn dựa trên quan hệ thương mại [40]
1.2.2.2 Hoạt động của nhà nước với tư cách một chủ sở hữu
Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, do vậy Chính phủ không nên tham gia vào hoạt động quản lý hàng ngày của DNNN và cần thiết
đề cao tính tự chủ của các DNNN
Việc thực thi quyền sở hữu nhà nước phải được xác định rõ ràng với quản lý hành chính Nhà nước Điều này có thể được thực hiện bằng việc thiết lập một cơ quan điều phối, hoặc cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng chủ sở hữu nếu thích hợp Cơ quan điều phối hoặc cơ quan chủ sở hữu phải
có trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như trước Quốc hội và có quan hệ rõ ràng với các cơ quan nhà nước quan trọng khác, kể cả cơ quan hay tổ chức kiểm toán nhà nước [40]
Trong thực hiện chức năng chủ sở hữu, quyền của chủ sở hữu nhà nước phải tương ứng với mỗi hình thức pháp lý của DNNN Trách nhiệm hàng đầu của chủ sở hữu nhà nước bao gồm: Thực hiện quyền chủ sở hữu tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) và bỏ phiếu theo tỷ lệ sở hữu; hình thành cơ chế bổ nhiệm HĐQT một cách minh bạch và có cơ cấu ở các doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước hoặc sở hữu nhà nước chi phối, tham gia tích cực vào việc bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị; hình thành hệ thống báo cáo thường xuyên trong vận hành cơ chế giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của các DNNN; Trong khuôn khổ của pháp luật, phải thường xuyên duy trì quan hệ đối tác với các cơ quan kiểm toán độc lập và các cơ quan kiểm soát đặc biệt của Nhà nước; Đảm bảo cơ chế thù lao cho các thành viên Hội đồng quản trị thúc đẩy các lợi ích dài hạn của doanh nghiệp, thu hút và tạo động lực cho các nhà quản lý chuyên nghiệp tham gia
Trang 261.2.2.3 Đối xử công bằng giữa các chủ sở hữu
Nhà nước và DNNN phải thừa nhận các quyền của tất cả các chủ sở hữu và phù hợp với nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD; đối xử công bằng và các chủ sở hữu đều có quyền ngang nhau trong tiếp cận thông tin về doanh nghiệp Cơ quan điều phối hoặc cơ quan chủ sở hữu Nhà nước phải đảm bảo rằng tất cả các chủ sở hữu của DNNN được đối xử công bằng [33]
Doanh nghiệp nhà nước phần lớn nhận được nhiều ưu đãi từ chính nhà đầu tư là Nhà nước, do vậy để bảo đảm được vấn đề công bằng giữa các chủ
sở hữu, việc minh bạch hóa thông tin cần phải phải thể hiện sự minh bạch ở mức độ cao nhất
1.2.2.4 Quan hệ với các bên có liên quan
Các quy định và chính sách sở hữu Nhà nước phải thừa nhận hoàn toàn trách nhiệm của DNNN đối với các bên có liên quan; yêu cầu các DNNN báo cáo và giải trình đầy đủ mối quan hệ của DNNN với các bên liên quan Chính phủ, cơ quan chủ sở hữu hoặc cơ quan điều phối cần thừa nhận và tôn trọng quyền của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan với DNNN, cụ thể như sau [40]:
Khi lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật bảo vệ, các bên có quyền lợi liên quan phải có cơ hội được khiếu nại hiệu quả khi quyền lợi của họ bị vi phạm; Cần xây dựng cơ chế nâng cao hiệu quả tham gia của người lao động; Khi các bên có quyền lợi liên quan tham gia vào quá trình quản trị công ty, họ phải được tiếp cận với thông tin phù hợp, đầy đủ và đáng tin cậy một cách kịp thời và thường xuyên; Các bên có quyền lợi liên quan, bao gồm cả người lao động và tổ chức đại diện cho họ phải được tự do truyền đạt những mối quan ngại của họ về những việc làm không hợp pháp hoặc không phù hợp với đạo đức lên HĐQT và việc này không được phép ảnh
Trang 27hưởng tới quyền của họ; Khuôn khổ quản trị công ty cần được hỗ trợ bằng một khuôn khổ về phá sản hiệu quả và thực thi hiệu quả quyền của chủ nợ DNNN lớn hoặc DNNN niêm yết cũng như DNNN hoạt động công ích cần báo cáo rõ ràng về mối quan hệ với các bên có liên quan; Cần thiết bắt buộc HĐQT của các DNNN triển khai, thực hiện và công bố các chương trình tuân thủ quy định nội bộ trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc gia, phù hợp với cam kết quốc tế và áp dụng cho các chi nhánh của mình
1.2.2.5 Công khai và minh bạch
Doanh nghiệp nhà nước nên đối chiếu và ứng dụng các nguyên tắc công khai, minh bạch phù hợp với nguyên tắc quản trị doanh nghiệp nói chung của OECD
Cơ quan điều phối hoặc cơ quan chủ sở hữu phải triển khai việc tổng hợp báo cáo và công bố báo cáo hàng năm về DNNN Doanh nghiệp nhà nước cần triển khai các biện pháp kiểm toán nội bộ có hiệu quả; hình thành chức năng kiểm toán nội bộ được giám sát bởi Hội đồng quản trị và được báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị và Ban kiểm toán hoặc cơ quan nào đó tương đương Các DNNN, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn cần được kiểm toán độc lập hàng năm theo tiêu chuẩn quốc tế Sự tồn tại của các thủ tục kiểm soát Nhà nước cụ thể không thay thế cho kiểm toán độc lập [40]
Doanh nghiệp nhà nước phải trở thành đối tượng của hệ thống kế toán, kiểm toán, kiểm toán chất lượng cao giống các công ty niêm yết Các DNNN lớn hoặc niêm yết phải công khai thông tin tài chính và phi tài chính theo chuẩn mực quốc tế được thừa nhận Doanh nghiệp nhà nước phải công khai thông tin và các tài liệu về tất cả các vấn đề được mô tả trong các nguyên tắc
về quản trị doanh nghiệp của OECD và ngoài ra các vấn đề quan trọng đối với công chúng và Nhà nước với tư cách một chủ sở hữu [40]
Trang 281.2.2.6 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước
Hội đồng quản trị của các DNNN phải có đủ thẩm quyền cần thiết và khách quan để thực hiện các chức năng định hướng chiến lược và giám sát quản lý điều hành Họ phải hành động với sự liêm chính và trách nhiệm rõ ràng Hội đồng quản trị của DNNN phải được giao nhiệm vụ rõ ràng và chịu trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả của doanh nghiệp Hội đồng quản trị cần phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước chủ sở hữu, có nghĩa vụ hành xử vì lợi ích tối cao của doanh nghiệp và đối xử công bằng giữa các chủ sở hữu Hội đồng quản trị nên thực hiện các chức năng giám sát quản lý điều hành và định hướng chiến lược các chiến lược quản lý và hướng dẫn; chịu sự chi phối của các mục tiêu do chính phủ hoặc cơ quan chủ sở hữu đề ra Họ phải có quyền
bổ nhiệm và miễn nhiệm các nhà quản lý điều hành Hội đồng quản trị cần có năng lực đánh giá khách quan và độc lập Một thông lệ tốt được cho là lời giải của vấn đề này là tách bạch chức danh Chủ tịch HĐQT với chức danh Giám đốc điều hành [40]
Trong trường hợp bắt buộc phải có đại diện người lao động trong cơ cấu thành viên HĐQT, thì phải có cơ chế thực thi hữu hiệu để đảm bảo thông tin,
sự khách quan và tham gia có hiệu quả của người đại diện này vào hoạt động của HĐQT Khi cần thiết, HĐQT nên thành lập các ủy ban/bộ phận chuyên môn để hỗ trợ HĐQT thực hiện đầy đủ các chức năng của mình, nhất là trên khía cạnh kiểm toán, kiểm soát rủi ro và vấn đề đãi ngộ vật chất; Hội đồng quản trị nên thực hiện việc đánh giá kết quả hoạt động hàng năm của mình
Như vậy, quản trị doanh nghiệp nhà nước theo 6 nguyên tắc trên của OECD đã đưa ra được những giải pháp khắc phục những tồn tại và yếu kém chung xảy ra ở hầu hết các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, trong các nội dung này mặc dù không đề cập đến quản trị công ty đối với TĐKT nhà nước nhưng với những hiệu quả trên thực tế mà bộ quy tắc này đã mang lại cho một
Trang 29số nước như Pháp, Trung Quốc, Autralia thì có cơ sở để cho rằng việc vận dụng bộ quy tắc này vào quản trị TĐKT nhà nước Việt Nam là phù hợp
1.3 Một số đặc trưng của tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam
Bối cảnh ra đời của TĐKT nhà nước Việt Nam: Năm 1994, Thủ tướng
Chính phủ đã có Quyết định số 91/TTg, ngày 7-3-1994, về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ Đã có 18 TCT được thiết lập trong hàng loạt các ngành, một số trường hợp các TCT chiếm toàn ngành Sau nhiều năm hoạt động các TCT đã đạt được những kết quả nhất định như: góp phần thúc đẩy tích tụ, tập trung vốn ở một số ngành kinh tế quan trọng; là nòng cốt trong việc bảo đảm cân đối chủ yếu trong nền kinh tế về những hàng hóa, vật tư chiến lược và các hàng tiêu dùng thiết yếu như than, điện, xi măng, dầu khí… Song, hoạt động của nhiều TCT nhà nước còn thiếu năng động trong kinh doanh, chất lượng sản phẩm chưa được cải tiến đáng kể, sản lượng thấp; hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm dần; thiếu vốn… Các TCT nhà nước nhất là các TCT 90 chưa được tổ chức, sắp xếp lại
Số lượng TCT không giảm mà lại tăng Xu hướng thành lập TCT nhằm thu gom đầu mối doanh nghiệp nhà nước nhỏ bé hoạt động kém hiệu quả, không gần với việc sắp xếp doanh nghiệp theo ngành nghề kinh tế, kĩ thuật trên địa bàn đang phát triển, không làm cho doanh nghiệp mạnh lên mà tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả tồn tại một cách hợp pháp Chính
vì những nhược điểm nói trên nên các TCT hiện nay tuy đạt được một số tiến
bộ nhưng so với yêu cầu của một TĐKT mạnh thì vẫn còn là một khoảng cách xa
Sau 10 năm thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các TCT nhà nước đã ngày một phát triển Trên cơ sở lựa chọn trong số những TCT 91, trong 2 năm 2005 – 2006, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt đề án chuyển đổi 7 TCT 91 sang hoạt động theo mô hình TĐKT, trong
Trang 30đó có nhiều công ty con là các CTCP hay công ty liên kết Đến nay chưa
có khung pháp luật đầy đủ về T Đ K T , nên để quản lý việc hình thành, tổ chức và hoạt động của các TĐKT nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản cá biệt để điều chỉnh từng TĐKT thí điểm Đó là các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án thí điểm thành lập TĐKT nhà nước; thành lập công ty mẹ Tập đoàn; Bổ nhiệm các thành viên HĐQT công ty mẹ; Ngoài ra còn có quy chế tài chính của công ty mẹ (Bộ Tài chính, hoặc HĐQT công ty mẹ có thoả thuận của Bộ tài chính ban hành) và Nghị định 141/2007/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với công ty
mẹ do nhà nước làm chủ sở hữu và các công ty con trong TĐKT nhà nước
Có thể thấy, sự ra đời của các TĐKT ở nước ta là kết quả của quá trình sắp xếp và đổi mới các TCT nhà nước
Những đặc trưng của TĐKT nhà nước Việt Nam: Thứ nhất, TĐKT nhà
nước được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước theo quyết định của Chính phủ Thứ hai, hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế theo mục tiêu chiến lược phát triển của từng tập đoàn mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý Thứ ba, Tập đoàn kinh tế được tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty con, có quy mô và khả năng tích tụ vốn có trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn so với các Tổng công ty trước đây Thứ tư, Việc quản lý tập đoàn được thực hiện thông qua công ty mẹ và thông qua các hoạt động đầu tư, liên kết, qua sự thỏa thuận hợp tác giữa các thành viên
Việc xem xét các nguyên tắc quản trị công ty của OECD đối với DNNN nêu tại mục 1.2 trên đây và xác định các đặc trưng của TĐKT nhà nước Việt Nam, tác giả nhận thấy về nội dung quản trị công ty đối với các
Trang 31TĐKT cần tập trung vào các xác định những nội dung sau: 1) Khung pháp lý
về hoạt động quản trị TĐKT nhà nước; (2) Vấn đề tách biệt quản lý và sở hữu giữa tập đoàn với chủ sở hữu (Nhà nước); (3) Vấn đề mục tiêu và thiết lập mục tiêu của TĐKT nhà nước; (4) Vấn đề công khai, minh bạch (5) Xác định
tư cách cổ đông và vai trò giám sát của công ty mẹ đối với các công ty con trong hoạt động đầu tư vốn và giám sát thực hiện mục tiêu chung của cả tập đoàn; (6) Xây dựng mô hình giám sát hiệu quả; (7) Đề cao trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của Hội đồng quản trị/ Hội đồng thành viên
1.4 Kinh nghiệm áp dụng Bộ nguyên tắc quản trị công ty trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở các nước thuộc OECD và một số nước không thuộc OECD
Các nguyên tắc quản trị công ty trong DNNN là những quy tắc chung được OECD đúc kết từ kinh nghiệm quản trị DNNN của các nước Thực tế,
bộ nguyên tắc này khá phổ biến và được nghiên cứu áp dụng tại tất cả các nước thuộc OECD và cả những nước không phải là thành viên của OECD
Mặc dù, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội có nhiều khác biệt nhưng bước đầu
đã có những thành công nhất định Do bộ nguyên tắc này được xây dựng trên
cơ sở thực tiễn quản trị DNNN ở các nước phát triển thuộc OECD nên việc áp ụng ở các nước này tương đối thuận lợi Còn đối với các nước chưa phải là thành viên OECD thì được khuyến nghị áp dụng và OECD xây dựng chương trình quốc gia trong mỗi khu vực để triển khai các họat nghiên cứu, khảo sát
Tại khu vực Châu Á, Trung Quốc là quốc gia được OECD lựa chọn thực hiện các chương trình quốc gia và khu vực trong đó có việc áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty đối với các DNNN Đặc biệt, Trung Quốc là nước có thể chế chính trị tương đồng cùng với những nét đặc trưng trong văn hóa và tập quán kinh doanh giữa Trung Quốc và Việt Nam nên tác giả cho rằng nghiên cứu kinh nghiệm của Trung về quản trị TĐKT nhà nước sẽ là một minh
Trang 32chứng gần gũi cho việc tham khảo các nguyên tắc quản trị của OECD đối với hoạt động cải cách DNNN nói chung và TĐKT nhà nước nói riêng Vì vậy, ở phần nội dung 1.3.2 tác giả nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc là một
ví dụ tiêu biểu về việc áp dụng các nguyên tắc trên vào quản trị TĐKT nhà nước trong số những quốc gia không phải là thành viên của OECD
1.4.1 Tổng quan kinh nghiệm áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty của các nước thành viên OECD
Trong phần này, kinh nghiệm được xem xét theo từng nguyên tắc được OECD khuyến nghị áp dụng và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các nguyên tắc quản trị này trong pháp luật về quản trị TĐKT nhà nước của các nước thành viên OECD
Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ cho quản trị doanh nghiệp nhà nước
Cải cách khuôn khổ thể chế là cơ sở quan trọng cho cải thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước Sửa đổi, bổ sung hệ thống quy định trong các văn bản pháp luật là điều kiện cần để quản trị DNNN có hiệu quả Hệ thống pháp luật của Đức, bên cạnh việc quy định về tổ chức doanh nghiệp, còn bổ sung các văn bản liên quan đến cải thiện quản trị DNNN như: Ban hành Luật về chế độ
kế toán - cổ phần, minh bạch, công khai hóa; Luật Cải cách chuẩn mực kế toán; Luật công khai đã ngộ cho các nhà quản lý doanh nghiệp [53, tr.17]
Bên cạnh đó, ở Đức và Pháp còn ban hành các thông lệ/cẩm nang/chuẩn mực quản trị doanh nghiệp do một tổ chuyên gia trong lĩnh vực doanh nghiệp được chính phủ thành lập soạn thảo Các DNNN được khuyến cáo nên thực hiện theo những thông lệ tốt này Quản trị doanh nghiệp còn tập trung vào việc tạo điều kiện cho các bên có liên quan tự thỏa thuận và tự điều tiết hành vi theo những yêu cầu của mới của thị trường kinh tế và theo thông lệ kinh doanh được thừa nhận rộng rãi
Trang 33Thứ hai, xây dựng mô hình quản trị thích hợp để phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước Ở các nước OECD, DNNN vẫn còn tồn tại khá nhiều, việc xây
dựng một mô hình giúp tách bạch chức năng quản lý doanh nghiệp và chức năng đại diện sở hữu nhà nước OECD không đưa ra mô hình chung cho các nước áp dụng, nhưng thực tế vận dụng các quy tắc trên tại các nước cho thấy có 2 mô hình tổ chức quản lý đại diện sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp Đó là:
Mô hình quản lý theo bộ ngành và mô hình quản lý tập trung [34]
Mô hình quản lý theo bộ ngành: mô hình này được khuyến nghị áp
dụng đối với các DNNN sản xuất và cung ứng các dịch vụ công cho nhà nước, thực hiện các mục tiêu chính sách phát triển ngành Vai trò chủ sở hữu nhà nước được trao cho các bộ ngành khác nhau quản lý theo ngành và lĩnh vực doanh nghiệp hoạt động Chủ thể sở hữu phần vốn góp nhà nước chính là các Bộ Ưu điểm chính của mô hình này là phát huy được kỹ năng chuyên môn của các Bộ, ngành trong việc quản lý doanh nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực quản lý, có đầu mối chịu trách nhiệm thực hiện quản lý của chủ sở hữu đối với từng DNNN Tuy nhiên, mô hình này có một số nhược điểm như:
không tách bạch chức năng quản lý của chủ sở hữu Nhà nước với các chức năng khác của Nhà nước và vẫn có nguy cơ can thiệp của cơ quan Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lớn
Mô hình quản trị tập trung: Mô hình này được áp dụng từ cuối những
năm 1990 đến nay ở các nước như Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Hà Lan, Anh, Trung Quốc Theo mô hình này, chính phủ các nước sẽ thành lập một cơ quan/tổ chức có chức năng quản lý chủ sở hữu nhà nước tại các DNNN Chủ thể này sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo đầu tư của Nhà nước hiệu quả nhất, đúng mục tiêu của nhà nước đã đề ra và thực thi chính sách này Thực tế, các chủ thể quản lý ở mỗi nước là khác nhau phụ thuộc vào bộ máy nhà nước và tình
Trang 34hình cụ thể của từng nước, có nước thành lập một cơ quan chuyên trách như Trung Quốc (thành lập Ủy ban quản lý và giám sát tài sản nhà nước SASAC,
ở Pháp thành lập APE (State Participation Agency) hay một số nước lại giao trách nhiệm này cho 1 cơ quan, trực thuộc Bộ như ở Đan Mạch, giao cho bộ phận chuyên trách thuộc bộ Tài Chính Ưu điểm của mô hình tập trung đảm bảo sự phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý của chủ sở hữu và các chức năng quản lý khác của Nhà nước; giảm được sự can thiệp về mặt chính trị và xác định rõ hơn trách nhiệm của HĐQT
Thứ ba, tăng cường các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ: Trong các DNNN quá trình thực thi các quyền của cổ đông
nhỏ bị hạn chế nhiều Vì vậy, thời gian qua nhiều nước đã có nhiều biện pháp tăng cường khả năng thực thi có hiệu quả các quyền của chủ sở hữu bằng cách ban hành các quy định tăng cường quyền tham gia và quyền biểu quyết ở ĐHĐCĐ như: trao cho cổ đông quyền chất vấn và yêu cầu người quản lý doanh nghiệp giải trình về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
phát hành cổ phiếu mới, các cổ đông nên được mua theo tỷ lệ sở hữu vốn ghi trong vốn điều lệ Quy định nhóm cổ đông thiểu số có quyền đòi hỏi mở rộng chương trình nghị sự, các báo cáo cần công bố và thảo luận tại Đại hội đồng
cổ đông và các tài liệu cần thiết trang điện tử của doanh nghiệp.Quy định rõ ràng về vấn đề thâu tóm doanh nghiệp đảm bảo sự công khai, minh bạch về trình tự và mục tiêu thâu tóm
Thứ tư, mối quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan Luật của các
nước quy định hoàn thiện theo hướng, tăng cường bảo vệ quyền lợi của chủ
nợ, hướng dẫn các doanh nghiệp hình thành các thỏa ước, cam kết thực hiện quyền của các chủ nợ, khách hàng tham gia với mực độ nhất định vào các quyết định lớn của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn giải thể, phá sản
Một số nước như Đức, Pháp, còn quy định về đại diện người lao động có trong cơ cấu của HĐQT
Trang 35Thứ năm, bảo đảm tính công khai, minh bạch của các doanh nghiệp nhà nước Kể từ khi thị trường chứng khoán phát triển, hầu hết các nước đều ban
hành những quy định cụ thể về các loại thông tin mà doanh nghiệp có nghĩa vụ công bố (kể cả đối với DNNN) tối thiểu gồm các thông tin: Báo cáo tài chính thường niên, báo cáo phân tích hoạt động của bộ máy điều hành, mục tiêu hoạt động doanh nghiệp và các chính sách thực hiện mục tiêu, cơ cấu sở hữu và thông tin liên quan đến chủ sở hữu chi phối, chính sách thù lao và quy trình bầu các thành viên HĐQT, Tổng giám đốc, các yếu tố rủi ro đối với doanh nghiệp đặc thù có thể tiên liệu trước, các chính sách đối với người lao động
Thứ sáu, điều chỉnh trách nhiệm của cơ quan quản lý, giám sát trong doanh nghiệp: Tùy thuộc vào cơ cấu quản lý của DNNN, pháp luật quy định
cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý, giám sát doanh nghiệp như HĐQT, Hội đồng giám sát hay Ban kiểm soát Đặc biệt là
đã có những quy định bổ sung thêm về trách nhiệm của HĐQT: (i) HĐQT và Ban giám đốc có nghĩa vụ phối hợp với nhau vì lợi ích của doanh nghiệp, cổ đông; (ii) HĐQT cần giải trình đầy đủ việc không thực hiện đúng mục tiêu và
kế hoạch phát triển kinh doanh đã đặt ra; (iii) trách nhiệm của HĐQT nếu vi phạm thì họ phải đền bù thiệt hại phát sinh; (iv) thành viên HĐQT cần thông báo cho ban giám sát các thành viên HĐQT về các xung đột lợi ích, giao dịch quan trọng phải được sự chấp thuận của ban giám sát
1.4.2 Kinh nghiệm Trung Quốc về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước
Hầu hết các TĐKT nhà nước Trung Quốc hình thành trên cơ sở các DNNN có quy mô lớn Tập đoàn được thành lập ở Trung Quốc với mục đích tăng cường hiệu quả quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh, tranh thủ những lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế của sự chuyên môn hóa với hoạt động kinh doanh đa dạng Nguyên tắc hình thành tập đoàn ở Trung Quốc là trong những ngành, lĩnh vực không mở cửa, không cho phép nước ngoài hoặc khu
Trang 36vực tư nhân đầu tư thì có thể thành lập một số tập đoàn để tránh độc quyền và tăng chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động tốt, không cho phép chỉ lập 1 tập đoàn hoặc 1 TCT trong 1 ngành vì dễ dẫn đến độc quyền Trong những ngành, lĩnh vực mà có tính cạnh tranh cao, hoặc ngành, lĩnh vực cần chiếm lĩnh thị trường nước ngoài thì có thể cho thành lập một tập đoàn mà nhà nước giữ vị trí chi phối Các TĐKT nhà nước Trung Quốc phải đối mặt với một số thách thức về quản trị doanh nghiệp, đó là: Tồn tại cơ chế ra quyết định quản
lý nội bộ do Nhà nước chi phối; cơ cấu quản trị phức tạp, chồng chéo, bộ máy quản lý vẫn có mối liên hệ với Chính phủ và việc thực hiện báo cáo vẫn tập trung vào đáp ứng nhu cầu của cổ đông chính (nhà nước) hơn là nhu cầu của các nhà đầu tư Sự chồng chéo và mâu thuẫn của việc Nhà nước vừa là trọng tài, vừa là người chơi là những nguyên ảnh hưởng không tốt tới chất lượng quản trị DNNN ở Trung Quốc Để giải quyết vấn đề này năm 2003, chính phủ Trung Quốc hình thành Cơ quan quản lý và giám sát tài sản nhà nước (SASA)
là cơ quan đại diện chủ sở hữu để thực hiện quản lý và giám sát tài sản của nhà nước Cơ quan này có những quyền và nghĩa vụ sau đây: thực hiện trách nhiệm của một nhà đầu tư, hướng dẫn và thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc DNNN; giám sát, bảo toàn và phát triển giá trị tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; tăng cường quản lý có hiệu quả tài sản nhà nước; thúc đẩy hình thành và vận hành hệ thống quản trị DNNN hiện đại; đề xuất chiến lược điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhà nước; giải quyết những vấn đề bất thường tại các DNNN; bổ nhiệm, miễn nhiệm, đánh giá, thưởng, phạt các nhà quản lý điều hành cao cấp của DNNN theo quy định pháp luật; hình thành hệ thống lựa chọn cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp theo đòi hỏi của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và quản trị doanh nghiệp hiện đại; giám sát và quản
lý việc bảo toàn, phát triển giá trị tài sản nhà nước tại các DNNN thuộc quyền quản lý thông qua chế độ báo cáo thống kê và kiểm toán; hình thành và cải
Trang 37thiện hệ thống chi tiêu bảo toàn, phát triển giá trị tài sản nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích nhà đầu tư Nhà nước [53 tr 30]
Hiện SASAC thay mặt nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trực tiếp thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước tại 159 DNNN trung ương quy
mô lớn theo quy định của Luật công ty
Như vậy, với mô hình quản lý tập trung này sẽ giải quyết được vấn đề can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước dưới tư cách là chủ sở hữu nhà nước đối với các TĐKT nhà nước
Về khung khổ pháp luật, trong thời kì từ 1987 - 1999 Trung Quốc ban hành hơn 20 văn bản pháp luật để: chỉ đạo, điều chỉnh việc chuyển đổi, hình thành TĐKT nhà nước; thiết lập thể chế công mẹ - công ty con trong TĐKT nhà nước; về nội dung và tổ chức thực hiện thí điểm thành lập tập đoàn; về hỗ trợ trung tâm nghiên cứu và phá triển của TĐKT nhà nước thí điểm; về trao quyền kinh doanh tài sản tại TĐKT thí điểm; về quản lý lao động và tiền lương trong TĐKT; về đăng ký tập đoàn kinh tế; về bảng biểu và chế độ báo cáo của các TĐKT; về chế độ thuế thu nhập doanh nghiệp; về hình thành và quản lý TĐKT nhà nước [35, tr 35] Với các quy định cụ thể trên, khung pháp lý về quản trị TĐKT nhà nước của Trung Quốc tương đối đầy đủ, giúp các TĐKT nhà nước ở quốc gia này vận hành có hiệu quả, đạt được những mục tiêu chủ sở hữu nhà nước đặt ra Tuy nhiên, số lượng TĐKT nhà nước ở Trung Quốc còn khá lớn nên nền kinh tế của Trung Quốc còn chưa được coi
là phát triển hoàn toàn theo quy luật thị trường [53]
1.5 Lợi ích của việc áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt Nam
Như vậy, kết quả áp dụng thành công Bộ nguyên tắc về quản trị công ty của OECD đối với DNNN của các nước như phân tích tại mục 1.3 cho thấy:
Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD nếu được tuân thủ triệt để sẽ được
Trang 38coi là “lý tưởng” để xây dựng nên một doanh nghiệp vững mạnh, có khả năng cạnh tranh cao hơn và minh bạch hơn Đối với các TĐKT nhà nước Việt Nam, việc vận dụng những nguyên tắc nêu trên sẽ có những thuận lợi sau đây:
Áp dụng các nguyên tắc của OECD sẽ đáp ứng được yêu cầu tái cấu trúc và đổi mới mô hình tăng trưởng của các TĐKT nhà nước Quản trị công
ty tốt là quan trọng đối với hoạt động tối ưu của công ty, thị trường vốn và nền kinh tế nói chung Thực tế triển khai thực hiện tái cơ cấu quản trị doanh nghiệp đối với các TĐKT đang được nghiên cứu và áp dụng bước đầu bộ nguyên tắc quản trị công ty trong các DNNN của OECD Đây là một một chủ trương đúng đắn khi mà thời điểm các TĐKT đã không phát huy được tác dụng, vai trò trong nền kinh tế quốc dân, mặt khác yêu cầu của hội nhập quốc
tế, cũng như yêu cầu tự thân của mỗi doanh nghiệp cần tháo bỏ, bứt phá để khẳng định mình
Quản trị tốt giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của TĐKT nhà nước
Khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đòi hỏi sự đối xử công bằng giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân Nền kinh
tế thị trường cho phép nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nước ngoài vào Việt Nam với quy mô lớn về vốn, về công nghệ sẽ tạo ra khoảng cách lớn đối với các doanh nghiệp trong nước Bản thân các TĐKT nhà nước Việt Nam được thành lập trong những ngành kinh tế mũi nhọn, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi tách biệt vai trò Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và vai trò quản lý nhà nước trong việc điều tiết
sự phát triển chung của nền kinh tế Việc tách bạch như vậy sẽ tạo áp lực cho lãnh đạo doanh nghiệp phải cư xử theo cơ chế thị trường Khi những ưu đãi của nhà nước với TĐKT nhà nước không còn, DNNN nếu không có nền tảng quản trị tốt sẽ không thể tồn tại được trong nền kinh tế thị trường
Quản trị tốt giúp nhà nước thực hiện tốt vai trò điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, đưa các TĐKT nhà nước lớn mạnh và đạt được mục tiêu trở
Trang 39thành mũi nhọn kinh tế cả nước Nâng cao năng lực nội tại của tập đoàn và
mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy, tập đoàn chỉ được hình thành và có điều kiện phát triển khi đã đạt tới trình độ nhất định về khả năng tích tụ và tập trung vốn, tài sản Tuy nhiên, TĐKT nhà nước nước ta được hình thành chủ yếu từ quyết định thành lập của Thủ tướng chính phủ bằng hình thức tổ hợp lại các Tổng công ty nhà nước và
tổ hợp lại các doanh nghiệp độc lập hoạt động chủ yếu trong cùng lĩnh vực
Quy mô vốn của các tập đoàn còn nhỏ, tính đến nay tại Việt Nam chỉ có 2 tập đoàn là tập đoàn Điện lực Việt Nam, tập đoàn Dầu khí Việt Nam là có tổng tài sản đạt mức trên 100.000 tỷ đồng (nguồn: Thesaigontimes.vn) Nếu so với quy mô vốn các một số tập đoàn của một số nước trong khu vực và trên thế giới thì số vốn này còn quá khiêm tốn Đồng thời, trong khi phạm vi hoạt động của các TĐKT khác hầu như dàn trải khắp toàn cầu, các khu vực kinh tế thì phạm vi các hoạt động của các TĐKT nhà nước Việt Nam giới hạn trong lãnh thổ quốc gia, mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện đầu tư hoặc xuất khẩu ra nước ngoài nhưng tỷ trọng còn nhỏ
Quản trị tốt giúp nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ lãnh đạo Mục tiêu của quản trị doanh nghiệp nhà nước là hướng tới tạo sự cân bằng giữa thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân Đội ngũ lãnh đạo DNNN thường là những người đã làm việc lâu năm và có kiến thức chuyên môn Tuy nhiên, khi thực hiện tái cơ cấu thì cơ chế hành chính, mệnh lệnh trong quản trị và kiến thức mới về nền quản trị hiện đại cần được bổ sung và tiếp thu, để nâng cao năng lực điều hành của các nhà quản lý
1.6 Tiểu kết Chương 1
Từ việc nghiên cứu lý luận về tiếp nhận pháp luật cho thấy tiếp nhận pháp luật là sự nghiên cứu, đánh giá, học hỏi và đưa vào hệ thống pháp luật của mình một cách có chọn lọc những quy tắc pháp lý, chế định luật, các
Trang 40thông lệ quốc tế dựa trên tính phù hợp về kinh tế, chính trị, văn hóa và hệ thống pháp luật của nước sở tại Điều kiện tiếp nhận pháp luật có hiệu quả gồm có: yêu cầu cần có sự phù hợp của tư tưởng pháp luật tiếp nhận với thể chế chính trị, cấu trúc, hình thái, phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, phương thức sản xuất xã hội của nước tiếp nhận Đối với Việt Nam do những đặc trưng của hệ thống chính trị và yêu cầu của việc hội nhập quốc tế nên việc tiếp nhận pháp luật có những đặc điểm riêng như: việc tiếp nhận pháp luật mang tính bắt buộc, quá trình tiếp nhận chủ yếu thực hiện qua việc thực thi đàm phán, cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế và sự tiếp nhận mang nhiều tính vay mượn
Việc xem xét các giá trị cốt lõi cũng như lợi ích của Bộ nguyên tắc Quản trị công ty về DNNN, tác giả nhận thấy bộ nguyên tắc này vận dụng vào quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước được cho là phù hợp và có hiệu quả ở một số nước
Ở Việt Nam, do những đặc thù của nền kinh tế chuyển đổi cho nên mô hình TĐKT nhà nước có những đặc trưng riêng và việc nghiên cứu áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty của OECD đối với các tập đoàn này cần tập trung vào các xác định những nội dung sau: 1) Khung pháp lý về hoạt động quản trị TĐKT nhà nước; (2) Vấn đề tách biệt quản lý và sở hữu giữa tập đoàn với chủ sở hữu (Nhà nước); (3) Vấn đề mục tiêu và thiết lập mục tiêu của TĐKT nhà nước; (4) Vấn đề công khai, minh bạch (5) Xác định tư cách
cổ đông và vai trò giám sát của công ty mẹ đối với các công ty con trong hoạt động đầu tư vốn và giám sát thực hiện mục tiêu chung của cả tập đoàn.; (6) Xây dựng mô hình giám sát hiệu quả; (7) Đề cao trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của Hội đồng quản trị/ Hội đồng thành viên