Hơn nữa sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với lao động nữ nói chung tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ vừa tạo điều kiện để
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
THIỀU THỊ MINH HUYỀN
PH¸P LUËT VÒ B¶O HIÓM X· HéI THAI S¶N
Vµ THùC TIÔN THùC HIÖN T¹I TØNH Hµ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
THIỀU THỊ MINH HUYỀN
PH¸P LUËT VÒ B¶O HIÓM X· HéI THAI S¶N
Vµ THùC TIÔN THùC HIÖN T¹I TØNH Hµ GIANG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ THÚY LÂM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Thiều Thị Minh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI THAI SẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI THAI SẢN 9
1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội thai sản 9
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội thai sản 9
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa bảo hiểm xã hội thai sản 11
1.2 Một số vấn đền lý luận về pháp luật BHXH thai sản 15
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc của pháp luật BHXH thai sản 15
1.2.2 Nội dung pháp luật bảo hiểm xã hội thai sản 21
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI THAI SẢN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH HÀ GIANG 33
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã hội thai sản 33
2.1.1 Đối tượng áp dụng và điều kiện hưởng BHXH thai sản 33
2.1.2 Thời gian hưởng bảo hiểm xã hội thai sản 37
2.1.3 Mức trợ cấp bảo hiểm thai sản 42
2.1.4 Thủ tục giải quyết hồ sơ bảo hiểm xã hội thai sản 47
Trang 52.2 Thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội thai sản tại tỉnh Hà Giang 49
2.2.1 Khái quát về tỉnh Hà Giang và cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Giang 49
2.2.2 Những kết quả đạt được và những điểm còn tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội thai sản ở tỉnh Hà Giang 56
Kết luận Chương 2 72
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THAI SẢN Ở TỈNH HÀ GIANG 74
3.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội thai sản 74
3.1.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về BHXHTS 74
3.1.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật 76
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội thai sản ở tỉnh Hà Giang 79
3.2.1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thai sản 79
3.2.2 Tăng cường sát sao trong công tác thu hồi các khoản nợ BHXH 81
3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 82
3.2.4 Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan 84
3.2.5 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ sở vật chất ở hầu hết cơ quan BHXH trên địa bàn tỉnh Hà Giang 87
3.2.5 Hoàn thiện mô hình quản lý và nâng cao năng lực quản lý 88
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHTS: Bảo hiểm thai sản BHXH: Bảo hiểm xã hội NLĐ: Người lao động NSDLĐ: Người sử dụng lao động
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Số hiệu Tên bảng, sơ đồ Trang
Bảng 1.1 Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi
Bảng 1.2 Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản ở một số
Bảng 2.1 Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn
Bảng 2.2 Cơ cấu số lao động tham gia BHXH theo khối tại
BHXH tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 – 2017 58 Bảng 2.3 Tình hình tham gia BHXH của NLĐ theo khối đơn vị
tại tỉnh Hà Giang, năm 2015 – 2017 60 Bảng 2.4 Bảng tổng hợp công tác thu BHXH ở tỉnh Hà Giang
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp công tác chi BHXH thai sản ở tỉnh Hà
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu, tổ chức bộ máy, cơ quan BHXH tỉnh Hà Giang 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động tại Việt Nam thuộc hàng cao nhất trên thế giới chiếm đến 48,1% trên tổng số lực lượng lao động (theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2015) Hầu như trên tất các lĩnh vực từ đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật… đều có sự tham gia của lực lượng lao động nữ,với tỷ trọng chiếm khá lớn trong lực lượng lao động vì vậy mà việc họ đóng góp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm về vật chất, tinh thần phục vụ cho lợi ích của xã hội, thì ngược lại những quyền lợi của họ phải được hưởng tương ứng theo quy định của pháp luật
Hiện nay trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, tầm quan trọng của các lao động nữ là rất lớn, nhất là trong những ngành đòi hỏi sự tỷ mỉ, khéo léo và linh hoạt trong lao động Nhóm các ngành nghề như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử thì gần như toàn bộ là lao động nữ
Ngoài đóng góp lớn vào cho xã hội, người phụ nữ với thiên chức làm
vợ, làm mẹ cũng đồng thời gánh vác phần lớn công việc gia đình Chính bởi
lý do đó, các chính sách bảo đảm ưu tiên lao động nữ, trong đó quan trọng nhất là quyền lợi Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là BHXH thai sản cho phụ nữ khi
có thai, sinh con và nuôi con luôn được chú trọng khi xây dựng hệ thống pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam
Chế độ bảo hiểm thai sản có vị trí quan trọng trọng hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, không chỉ bởi tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội Hằng năm, trợ cấp thai sản đã góp phần bảo vệ quyền lợi cho hàng trăm ngàn phụ nữ và góp phần đảm bảo cuộc sống cũng như phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
Trang 9Trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thai sản ngoài ý nghĩa bảo đảm thu nhập cho người phụ nữ còn có ý nghĩa xã hội và tính nhân văn rất lớn, đóng góp để tái sản xuất dân số và duy trì nòi giống Với việc tham gia BHXH, đặc biệt là BHXH thai sản đảm bảo được thu nhập và
ổn định cuộc sống đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hay nuôi con trong thời gian ngắn Nó có một vị trí quan trọng đối với lao động nữ, nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh đẻ
và nuôi con sơ sinh Cùng với các chế độ bảo hiểm khác, chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ khi giành chính quyền đến nay Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nên chính sách bảo hiểm thai sản ngày càng đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được mục tiêu về bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều quy định bất cập, cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam nói chung và Tỉnh Hà Giang nói riêng Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của hệ thống an sinh trên thế giới, một số vấn đề đối với lao động nữ chưa được đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ
Lao động nữ trên địa bàn tỉnh Hà Giang chiếm hơn 50% dân số, trong
đó phần lớn là lao động người dân tộc thiểu số và lao động chưa qua đào tạo
Hơn nữa, Hà giang địa hình chủ yếu là núi đá, diện tích canh tác rất hạn chế, hết sức khó khăn về nguồn nước, thời tiết khí hậu khắc nghiệt Kết cấu hạ tầng còn yếu, nhất là hệ thống giao thông Kinh tế tăng trưởng chủ yếu còn theo bề rộng, chưa có chiều sâu, thiếu tính bền vững, hàm lượng kế hoạch công nghệ trong giá trị gia tăng còn thấp, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm cũng như nền kinh tế Hà Giang không cao Thu hút nguồn lực đầu tư, phát triển kinh tế biên mậu và kinh tế cửa khẩu còn nhiều mặt hạn chế Các
Trang 10liên kết, hợp tác phát triển kinh tế - xã hội vùng và trên các lĩnh vực, ngành, sản phẩm chưa được phát huy Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới còn chưa có đột phá chiến lược Trên địa bàn tỉnh có rất
ít khu công nghiệp để phát triển kinh tế cũng như tạo công ăn việc làm cho người lao động Phụ nữ là nguồn nhân lực quan trọng đã đang và sẽ tham gia trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Bên cạnh việc làm công tác xã hội, người phụ nữ còn phải đảm đương công việc của gia đình với chiên chức làm vợ, làm mẹ Vì vậy, bảo hiểm xã hội thai sản cần được quan tâm để đảm bảo cuộc sống cho người lao động nói chung và người được hưởng bảo hiểm thai sản nói riêng
Hơn nữa sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với lao động nữ nói chung tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã
hội nên em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội thai sản và thực tiễn thực hiện tại Tỉnh Hà Giang” nhằm góp phần hoàn thiện quy
định pháp luật BHXH thai sản đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH thai sản tại tỉnh Hà Giang
2 Tình hình nghiên cứu đề tài và tính mới của đề tài
BHXH thai sản là vấn đề quan trọng nên cũng có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội thai sản và thực tiễn thực hiện tại Tỉnh Hà Giang” tác giả có
tham khảo một số công trình nghiên cứu khoa học của người đi trước như:
Đặng Thị Thơm (năm 2007), “Chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam”,
Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Làm sáng tỏ các quy định và hệ thống chế độ Bảo hiểm thai sản ở Việt Nam về phương diện pháp lý
và thực tiễn thực hiện, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thai sản và chất lượng thực hiện pháp luật bảo hiểm thai sản
Trang 11Lê Thị Quế (năm 2003), đề tài khoa học về “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách, BHXH thai sản ở Việt Nam”, Bảo hiểm xã hội Việt
Nam, Hà Nội Đi sâu vào nghiên cứu thực trạng về chính sách, chế độ, quy định thủ tục và quy trình giải quyết BHXH thai sản từ năm 1995 đến năm
2003 Đánh giá những mặt đạt được và hạn chế về chính sách, chế độ và việc
tổ chức quản lý thực hiện BHXH thai sản ở Việt Nam Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, BHXH thai sản cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay của Việt Nam
Nguyễn Hiền Phương (năm 2014), Bảo vệ quyền làm mẹ trong pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội, Tạp chí Luật học (số 06), tr 48 - 59 Phân
tích, đánh giá thực trạng việc bảo vệ quyền làm mẹ của lao động nữ Việt Nam theo quy định trong Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội: phân tích và làm rõ các quy định đảm bảo điều kiện, môi trường làm việc cho lao động nữ gắn với quyền làm mẹ thông qua việc xác định chính sách của Nhà nước, trách nhiệm, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và các quyền của lao động
nữ khi mang thai, sinh con Về chế độ bảo hiểm thai sản, phân tích cụ thể các quy định về đối tượng và điều kiện hưởng, thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, mức bảo hiểm thai sản theo Luật BHXH, đồng thời chỉ ra một
số hạn chế như việc chi trả mức trợ cấp không đúng với ý nghĩa của Luật hay
nợ lương của NSDLĐ đang rất phổ biến Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Bộ Luật lao động và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ quyền làm mẹ: thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về BHXH ốm đau và thai sản; thứ hai, nâng cao một số biện pháp nhằm thực thi hiệu quả quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền làm mẹ của lao động nữ:
tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHXH, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt trong việc thực hiện pháp luật về BHXH, xử lí nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp nợ đọng BHXH
Trang 12Nguyễn Thị Lan Hương (năm 2012), “Pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ Đề tài phân tích rõ các chế độ bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với lao động nữ: chế độ chăm sóc con ốm, BHXH thai sản và chế độ hưu trí, thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ Qua đó, đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ và các mặt công tác khác như tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức pháp luật về chế
độ bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm để nâng cao hiệu quả của chế độ bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ cũng như vấn đề bảo vệ lao động nữ trong xã hội
Trần Thuý Lâm (năm 2004), “Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ - Thực trạng pháp luật và phương hướng hoàn hiện”, Số Đặc san phụ nữ 3, tr
50 - 54 Bài viết đề cập những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ: chế độ trợ cấp thai sản, chế độ nghỉ chăm sóc con ốm, chế độ hưu trí Về cơ bản quyền lợi của lao động nữ trong lĩnh vực BHXH đã được
sự quan tâm ưu đãi của Nhà nước, tuy nhiên, vẫn tồn tại một số điểm còn bất cấp của pháp luật trong từng chế độ được tác giả chỉ ra và phân tích, cần được nghiên cứu và hoàn thiện nhằm hơn nữa quyền lợi của lao động nữ
Về luận văn thạc sĩ có thể kể đến các luận văn sau:
Chu Hà My (năm 2015), “Những điểm mới của Luật bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014”, Luận văn Thạc sĩ Luật học trường Đại học Luật Hà Nội:
Luận văn tổng hợp một cách có hệ thống các vấn đề chung về bảo hiểm xã hội; so sánh, nghiên cứu, phân tích và chỉ ra những điểm mới Luật Bảo hiểm
xã hội năm 2014 so với Luật bảo hiểm xã hội năm 2006; Luận văn nêu ra những yêu cầu cơ bản và những kiến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Trang 13Chu Linh Trang (năm 2017), “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học trường
Đại học Luật Hà Nội
Hoàng Thúy Hà (năm 2017), “Chế độ thai sản và thực tiễn thực hiện tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học trường
Đại học Luật Hà Nội
Lường Thanh Huyền, (năm 2016), “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La”, Luận văn Thạc sĩ Luật học
trường Đại học Luật Hà Nội…
Các công trình nghiên cứu nói trên tuy có nghiên cứu về Bảo hiểm xã hội thai sản ở các góc độ khác nhau song chưa có công trình nghiên cứu nào
về pháp luật Bảo hiểm xã hội thai sản từ thực tiễn thực hiện tại Hà Giang Bởi vậy, luận văn này chính là công trình nghiên cứu khá mới mẻ về đề tài Bảo hiểm xã hội thai sản và thực tiễn thực hiện tại Tỉnh Hà Giang và sau này có thể là một trong những tài liệu tham nâng cao công tác thực hiện BHXH thai sản tại tỉnh Hà Giang
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về BHXHTS, đánh giá một cách toàn diện pháp luật bảo hiểm xã hội thai sản hiện hành cũng như thực tiễn thực tiễn tại tỉnh Hà Giang đồng thời đưa ra những giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXHTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trên cơ sở mục tiêu đó luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về BHXHTS
- Phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về BHXHTS
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật BHXHTS ở địa bàn tỉnh
Hà Giang
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật BHXHTS và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tại tỉnh Hà Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là
những quy đinh của pháp luật về BHXHTS mà cụ thể là Luật BHXH năm
2014 và các văn bản hướng dẫn về chế độ thai sản Bên cạnh đó luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật BHXHTS ở tỉnh Hà Giang những năm gần đây Trong luận văn này, tác giả sử dụng các số liệu liên quan đến bảo hiểm thai sản trong giai đoạn 2015 - 2017 mà bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Giang cung cấp
Về phạm vi nghiên cứu: BHXHTS là một vấn đề có thể được nghiên
cứu ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu BHXHTS dưới góc độ luật học với tư cách là một chế độ BHXH bắt buộc
ở các nội dung như đối tượng và điều kiện hưởng, chế độ hưởng, thủ tục hưởng BHXH thai sản Các nội dung khác như xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về BHXHTS không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
của Triết học Mác – Lê Nin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh Tùy theo nội dung của vấn đề mà tác giả sử dụng các phương pháp này cho phù hợp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận: Luận văn phân tích những vấn đề lý luận cũng như
quy định của pháp luật hiện hành về BHXHTS tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về BHXHTS cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật pháp luật BHXHTS
Trang 15* Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với bản thân tác giả: học viên có cơ hội tìm hiểu sâu về chế độ bảo hiểm thai sản, qua đó nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân và tăng cường hiểu biết thực tế
- Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai có quan tâm đến pháp luật BHXH nói chung, pháp luật về BHTS nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn có kết cấu ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội thai sản và pháp
luật về bảo hiểm xã hội thai sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã
hội thai sản và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hà Giang
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội thai sản tại tỉnh Hà Giang
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI THAI SẢN
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI THAI SẢN
1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội thai sản
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội thai sản
Theo Bách khoa toàn thư thì:
BHXH là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước
Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO:
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội, mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội [34]
Chế độ BHXH là những quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp những chế định thực hiện BHXH đối với người lao động Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối tượng và phạm vi; về nghĩa vụ và quyền lợi, về điều kiện và mức đóng góp cho từng trường hợp
Trang 17BHXH cụ thể Chế độ BHXH được cụ thể hoá dưới dạng các văn bản pháp luật Vì thế, khi thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH để đảm bảo sự đúng đắn và tính nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế ILO đã nêu trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống chế độ BHXH bao gồm 9 chế độ sau đây:
1 Chăm sóc y tế; 2 Trợ cấp ốm đau; 3 Trợ cấp thất nghiệp; 4 Trợ cấp tuổi già; 5 Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 6 Trợ cấp gia đình; 7 Trợ cấp sinh đẻ; 8 Trợ cấp khi tàn phế; 9 Trợ cấp tiền tuất trợ cấp mất người nuôi dưỡng Chín chế độ trên hình thành 1 hệ thống chế độ BHXH Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất là phải thực hiện được 3 chế độ [31]
Vì vậy có thể đưa ra định nghĩa về bảo hiểm xã hội thai sản như sau:
“BHXH thai sản là chế độ BHXH nhằm đảm bảo hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập liên quan đến thai sản trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH, do Nhà nước tổ chức thực hiện.”
Người lao động được hưởng BHXHTS ở đây không có nghĩa chỉ là lao động nữ mà có thể còn là lao động nam Sự kiện thai sản ở đây bao gồm mang thai, sinh con hoặc có các sự kiện thai sản khác như thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình Tùy thuộc vào từng điều kiện, trường hợp cụ thể mà lao động nữ hoặc lao động nam sẽ được hưởng chế độ thai sản theo quy định [11, tr.26]
So với các chế độ khác, đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu
là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai; còn lao động nam đang đóng bảo hiểm mà có vợ sinh con cũng
Trang 18được hưởng trợ cấp này Thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên, mục đích trợ giúp, giữ cân bằng về thu nhập, góp phần tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ và người lao động Hiện nay, chế
độ thai sản được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới nhưng tuỳ vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ này quy định khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng,…
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa bảo hiểm xã hội thai sản
Trong hệ thống các chế độ BHXH, bảo hiểm xã hội thai sản là chế độ bảo hiểm được áp dụng chủ yếu là đối với lao động nữ
Chính sách thai sản thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và của cộng đồng xã hội đối với thế hệ tương lai, đồng thời cũng thể hiện sự bình đẳng xã hội ngày càng nâng cao Chính vì thế mà Nhà nước cần phải đề ra những chính sách đối với đối tượng quan trọng này với mục đích thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động nữ phải nghỉ việc trong thời gian sinh con nhằm đảm bảo cho họ có một cuộc sống bình thường để chăm con và hồi phục sức khoẻ
Bảo hiểm xã hội thai sản là sự đảm bảo thu nhập và ổn định cuộc sống đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hoặc nuôi con trong một thời gian ngắn Nó có vị trí quan trọng đối với người lao động nữ, nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh
đẻ và nuôi con sơ sinh
Người phụ nữ ngày nay đã tự lao động để đảm bảo cuộc sống và cống hiến cho xã hội qua đó họ ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của bản thân trong xã hội, họ đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề và đã thể hiện một cách xuất sắc năng lực của mình Khác với nam giới họ còn có nhiệm vụ quan trọng là tái sản xuất con người, do đó khi mang thai và sinh con là giai đoạn khó khăn nhất của họ nên họ cần được sự quan tâm ngược lại
Trang 19từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp phù hợp với công sức mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động
Như vậy, BHXH thai sản là một chế độ mang tính xã hội hoá cao, nó được thực hiện thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Nói cách khác, nó diễn ra một cách liên tục vì sự sống luôn phát triển vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn, thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người với người
Bảo hiểm xã hội thai sản có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống BHXH của mỗi quốc gia vì chế độ này ảnh hưởng đến một bộ phận lớn lao động trong xã hội và đến tương lai của một đất nước Một đất nước muốn tồn tại và phát triển phải chăm lo chu đáo đến thế hệ tương lai Bảo hiểm xã hội thai sản là một chế độ ngắn hạn trong hệ thống các chế độ BHXH nhưng
đó là một trong năm chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của BHXH ở nước ta Cùng với các chế độ BHXH khác, chế độ trợ cấp thai sản đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của hàng triệu người lao động và gia đình họ, khuyến khích người lao động hăng hái, yên tâm lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử
BHXH đã được thực hiện hàng trăm năm nay và chế độ trợ cấp thai sản
là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất Theo quy định của ILO, một quốc gia được coi là có hệ thống BHXH chỉ khi có ít nhất 1 trong 3 chế
độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được thiết lập
Theo thống kê, trong tổng số 173 nước tính đến năm 2002 có hệ thống BHXH thì có 112 nước thực hiện BHXH thai sản (chiếm 64%) [34]
Bảo hiểm xã hội thai sản là chế độ có vai trò to lớn trong hệ thống BHXH của mỗi quốc gia, bởi lẽ đó là chế độ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc
Trang 20đời của những người tham gia BHXH Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi nguồn thu nhập chính của người lao động là thu nhập từ các hoạt động tu nghiệp Khi nghỉ thai sản, nguồn thu nhập chủ yếu của họ lại
là khoản trợ cấp BHXH
Trong hệ thống chính sách xã hội có những loại chính sách xã hội phổ biến, có ảnh hưởng, có tác động đến đại bộ phận các tầng lớp dân cư trong xã hội Đồng thời, có những loại chính sách xã hội có tính đặc thù, chỉ có những ảnh hưởng, những tác động đến một bộ phận, một giai tầng xã hội nào đó mà thôi Nói cách khác, mỗi một loại chính sách xã hội có một loại đối tượng tác động nhất định nhằm đạt một mục tiêu nhất định Là một bộ phận của chính sách xã hội, chính sách thai sản đối với người lao động giữ một vai trò rất to lớn Thứ nhất, đối tượng của chính sách là những người lao động nữ, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong dân cư và trong lực lượng lao động của xã hội Những người này đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước
Thứ hai, mục tiêu của chính sách đối với người nghỉ thai sản là nhằm góp phần đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần cho họ trong thời gian nghỉ sinh con không có nguồn thu nhập nào khác
- Đối với người lao động
Chế độ thai sản có vai trò bù đắp một phần thiếu hụt về thu nhập của người lao động Trong thời kỳ thai sản, người lao động phải nghỉ việc, không
có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm Chế độ thai sản trợ cấp cho người lao động một mặt bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ được các khoản chi phí tăng thêm như: mua sắm dụng cụ, tã lót, sữa, … cho em bé, tăng cường dinh dưỡng cho mẹ Đồng thời, giúp thực hiện tốt chức năng và bảo vệ quyền làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ Bên cạnh đó, giúp cho tâm lý của người lao động ổn định, đặc biệt là người lao động khi họ có nhu cầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái, bảo vệ sức khoẻ của cả
Trang 21mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao động
Đối với lao động nam đang đóng bảo hiểm có vợ sinh con, trợ cấp thai sản đóng góp một phần khá lớn để cuộc sống gia đình được ổn định, hơn nữa lao động nam có thể bên cạnh chăm sóc vợ, con mình sau sinh Đặc biệt trong thời kỳ thai sản, người lao động bị giảm thu nhập do không có thời gian tập trung nhiều cho công việc mà phải dành thời gian trong thời kỳ khám thai, chăm sóc con sơ sinh… nên nhờ có chế độ thai sản đã hỗ trợ một phần lớn chi phí của lao động trong thời kỳ thai sản
- Đối với người sử dụng lao động: Thực hiện tốt chế độ thai sản sẽ góp
phần thu hút lao động vào các doanh nghiệp Thông qua chính sách này người
sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với người lao động và đối với toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động, đặc biệt là lao động nữ đã và đang ngày càng tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội
- Đối với Nhà nước
Thực hiện tốt chế độ thai sản góp phần ổn định cuộc sống cho xã hội, đảm bảo thực hiện chính sách xã hội của mỗi quốc gia Chế độ thai sản còn mang ý nghĩa góp phần tái tạo lực lượng lao động lớn cho nền kinh tế trong tương lai, góp phần dung hoà mối quan hệ người sử dụng lao động và người lao động giúp cho việc sản xuất diễn ra liên tục giúp tăng trưởng kinh tế
Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động, nên về lâu dài nó góp phần nâng cao năng suất lao động vì cuộc sống của người lao động được đảm bảo ổn định, do đó họ quan tâm hơn trong lao động sản xuất và cảm thấy phấn khởi, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển
Đồng thời đảm bảo an toàn xã hội và văn minh xã hội
Ngoài ra, nguồn quỹ của bảo hiểm xã hội còn nhàn rỗi thường rất lớn, trong khi đó nó luôn được bổ sung liên tục, vì vậy phần quỹ nhàn rỗi chưa sử
Trang 22dụng được đầu tư để tăng trưởng, nên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển, giảm bớt khó khăn về vốn đầu tư cho Nhà nước
Vì vậy bảo hiểm xã hội có vai trò là gắn với lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước với nhau, tạo thành một mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy xã hội phát triển
1.2 Một số vấn đền lý luận về pháp luật BHXH thai sản
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc của pháp luật BHXH thai sản
Pháp luật bảo hiểm thai sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp khác nhau Pháp luật
về bảo hiểm thai sản điều chỉnh các quan hệ pháp luật liên quan đến đối tượng tham gia bảo hiểm thai sản; điều kiện hưởng, thời gian hưởng và mức hưởng bảo hiểm thai sản; nguồn quỹ để thực hiện bảo hiểm thai sản và việc xử phạt
vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thai sản, cũng như các vấn đề có liên quan khác
Pháp luật bảo hiểm thai sản là cơ sở pháp lý để người lao động được thụ hưởng trợ cấp khi sự kiện thai sản xảy ra Dựa trên những quy định của pháp luật, người lao động và cơ quan bảo hiểm mới có căn cứ để thực hiện đúng và thụ hưởng đầy đủ các quyền lợi của mình Pháp luật bảo hiểm thai sản còn góp phần thực hiện chính sách xã hội của quốc gia (đặc biệt là chính sách về dân số) Bởi lẽ, pháp luật là công cụ mà Nhà nước sử dụng đề điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, thông qua đó để thực hiện các chính sách của quốc gia, nhằm mục đích bảo vệ và chăm lo đời sống cho người dân Các chính sách về bảo hiểm thai sản đã góp phần đảm bảo sự ổn định cuộc sống
của người dân, góp phần tái tạo lực lượng lao động trong tương lai
Theo từ điển tiếng việt, nguyên tắc được hiểu là những điều cơ bản nhất phải tuân the Với cách hiểu như vậy trong bất kỳ một ngành khoa học hay lĩnh vực hoạt động cụ thể nào đều cần phải có những nguyên tắc chung
Trang 23thống nhất, xuyên suốt toàn bộ hoạt động, là “xương sống” đảm bảo đúng mục đích đề ra ngay khi bắt đầu hoạt động [39]
Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội thai sản nói riêng, trong khoa học pháp lý được xác định là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động bảo hiểm xã hội, xuất phát từ bản chất của các chế độ bảo hiểm xã hội, thực tiễn hoạt động cũng như chính nguyên tắc bảo hiểm xã hội và được coi là cơ sở nền tảng cho việc tổ chức quản lý và thực thi chính sách BHXH thai sản
Nguyên tắc 1: Mức hưởng của bảo hiểm xã hội thai sản được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH thai sản [42]
Cơ sở hình thành nguyên tắc: BHXH thai sản, là loại bảo hiểm vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội Tính kinh tế của BHXH thai sản thể hiện ở chức năng phân phối thu nhập, đảm bảo đời sống cá nhân cũng như của gia đình người lao động Để thực hiện việc phân phối đó một cách có hiệu quả, BHXH thai sản trong quá trình triển khai phải có sự kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ và sự tương xứng tương đối giữa mức đóng và mức hưởng
Đảm bảo sự hợp lý giữa mức đóng và mức hưởng thụ Cần căn cứ vào
sự cống hiến của người lao động như mức hưởng thụ Cần căn cứ vào sự cống hiến của người lao động như mức đóng góp, thời gian đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội… để dựa vào đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng sao cho phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động
Mức trợ cấp được hưởng phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng góp và sự kiện pháp lý kèm theo (tỷ lệ suy giảm hay mất khả năng lao động, thai sản) tỷ lệ đóng góp bảo hiểm xã hội và mức trợ cấp của người lao động
có mối liên hệ chặt chẽ với thu nhập của người được bảo hiểm Nguyên tắc bảo hiểm xã hội trên cơ sở phân phối theo lao động luôn đảm bảo yếu tố công
Trang 24bằng hợp lý Người lao động phải tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội thai sản mới được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội thai sản Nguyên tắc này thể hiện hai nội dung cơ bản
Một là, mức hưởng bảo hiểm xã hội thai sản được tính trên cơ sở mức đóng góp và thời gian đóng góp Mức đóng góp và thời gian đóng góp được
sử dụng làm căn cứ để đối tượng đóng bảo hiểm được hưởng bảo hiểm xã hội thai sản, tức đóng góp đến đâu thì mức thụ hưởng tới đó Bảo hiểm xã hội thai sản là một hình thức phân phối phổ biến tổng thu nhập quốc dân bảo hiểm xã hội phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ (nguyên tắc phân phối theo lao động) Những người lao động có thời gian và phí đóng như nhau thì được hưởng bảo hiểm như nhau Nghĩa là phải đảm bảo hợp lý giữa đóng góp và hưởng thụ, tức là căn cứ vào mức đóng góp của người lao động cho xã hội thể hiện thông qua mức đóng, thời gian đóng góp vào quỹ xã hội… để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng trợ cấp phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động Vì vậy rất khó chấp nhận
về mặt kinh tế khi một người lao động vừa tham gia bảo hiểm xã hội thai sản trong thời gian ngắn lại được hưởng ngay mức bảo hiểm xã hội thai sản suốt thời gian nghỉ thai sản [43]
Hai là, ở một khía cạnh khác nguyên tắc này thể hiện sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội, điều này có nghĩa là không phải bất
kỳ người lao động nào tham gia đóng bảo hiểm xã hội đều được hưởng bảo hiểm xã hội thai sản Người lao động cùng với người sử dụng lao động và nhà nước cùng tạo lập hình thành một quỹ bảo hiểm xã hội độc lập và tập trung trong đó đa số những người đóng góp bảo hiểm xã hội sẽ hỗ trợ cho số những người có đủ điều kiện để hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội thai sản theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” Nghĩa là chỉ những người đang trong thời gian nghỉ sau sinh, không có khả năng lao động, không có nguồn thu nhập khi nghỉ thai
Trang 25sản, những khó khăn lớn vượt xa so với khả năng kinh tế của người lao động, trên cơ sở chia sẻ của những người cùng tham gia đóng bảo hiểm xã hội thì khoản phí của những người tham gia bảo hiểm xã hội mà không gặp phải hoàn cảnh như vậy sẽ được bù đắp cho những người khó khăn hơn về mặt tài chính khi không thể duy trì công việc hằng ngày [43]
Thu nhập từ BHXH thực tế là phần thu nhập của NLĐ tham gia bảo hiểm mà nếu có biến động giảm hoặc mất do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc bù đắp Theo đó, tại nước ta, mức đóng BHXH tự nguyện dựa trên cơ sở mức thu nhập của họ nhưng không thấp hơn mức tối thiểu chung
Như vậy, mới có thể đảm bảo NLĐ khi xảy ra sự kiện thai sản, được cung cấp một nguồn tài chính ổn định, bằng với mức sống tối thiểu
Nguyên tắc 2: Nhà nước thống nhất quản lý chính sách quỹ BHXH nói chung và quỹ BHXH thai sản nói riêng, theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch [42]
Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành
Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và NLĐ thuộc khu vực kinh tế quan trọng của đất nước Ở nước ta do những điều kiện kinh tế - xã hội Nhà nước Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tùy tiện, tính cục bộ, những mâu thuẫn nảy sinh Đồng thời cũng phải có cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để có thể bù đắp,bổ sung những
ưu điểm cho nhau
Bên cạnh đó, qũy BHXH là hạt nhân của chính sách BHXH nói chung
và BHXH thai sản nói riêng, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện, vừa là cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn hệ thống BHXH tồn tại phát triển
Trang 26Do đó, quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để điều chỉnh chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân bằng thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi các quỹ thành phần mất cân đối, không ảnh hưởng đến người quyền lợi người tham gia BHXH
Có như vậy,mới đảm bảo cuộc sống của NLĐ và gia đình họ khi gặp biến cố, rủi ro hoặc sự kiện thai sản làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp
lý Để đảm bảo thực hiện hài hòa các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu
mà bảo hiểm xã hội đặt ra thì việc thực hiện bảo hiểm xã hội trước hết là trách nhiệm của Nhà nước Bởi nhà nước là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội thông qua việc ban hành các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội và kiểm tra thực hiện các quy định đó Mặt khác, quỹ bảo hiểm xã hội với ý nghĩa là một quỹ tích lũy hình thành trên cơ
sở đóng góp của ba bên (Nhà nước – người sử dụng lao động – người lao động), nhằm giúp đỡ về mặt vật chất cho người lao động khi họ gặp rủi ro, khó khăn không chỉ khi đang tham gia quan hệ lao động Do đó bên cạnh nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động thì Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội và trong trường hợp cần thiết Nhà nước có các biện pháp để bảo toàn giá trị quỹ, đảm bảo sự an toàn
về tài chính cho quỹ bảo hiểm xã hội
Để hạn chế được thất thoát cho quỹ và nâng cao tính hiệu quả trong quản lý quỹ bảo hiểm xã hội thì cần phải thực hiện được đầy đủ nguyên tắc này Trong quản lý nhà nước về tài chính bảo hiểm xã hội cần quy định và hướng dẫn cụ thể về các hạng mục thu, chi; quy chế quản lý đầu tư quỹ bảo
Trang 27hiểm xã hội cũng cần phải rõ ràng, minh bạch…; đồng thời phải có cơ chế kiểm tra, giám sát, chế độ báo cáo, kiểm toán… Bên cạnh đó, bảo hiểm xã hội là cơ quan quản lý quỹ cần có chiến lược về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng để hình thành được một đội ngũ cán bộ có đầy đủ chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ năng về quản lý tài chính nhằm đáo ứng tốt nhiệm vụ được giao
Nguyên tắc mang ý nghĩa đảm bảo tính hiệu quả của an sinh xã hội;
tính thống nhất, công khai và minh bạch nhằm tránh sự chồng chéo trong hệ thống bảo hiểm xã hội, tạo diều kiện thuận lợi cho các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Nguyên tắc 3: Việc thực hiện BHXH thai sản phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH [42]
Với nguyên tắc này việc thực hiện BHXH thai sản đối với NLĐ phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ, người sử dụng lao động khi tham gia BHXH và khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH
Nguyên tắc 4: Các quy định về BHXH thai sản phải đảm bảo quyền lợi về vật chất và tinh thần của NLĐ cũng như trẻ sơ sinh [42]
Đặc điểm của kỳ thai sản là một khoảng thời gian kéo dài và liên tục từ lúc mang thai, quá trình nghỉ sinh con, chăm sóc trẻ sơ sinh đến khi ổn định lại sức khỏe trở lại lao động bình thường, nên việc khám thai đều đặn để phát hiện các sự cố, quá trình nghỉ sinh con, nuôi con sơ sinh…phải có chính sách phù hợp cụ thể và nhất quán nhằm đảm bảo người phụ nữ phải được chăm sóc chu đáo, liên tục Các chính sách chế định BHXH thai sản cũng phải đảm bảo
đủ thời gian để người mẹ ổn định và phục hồi sức khỏe sau khi sinh con và chăm sóc con trong thời gian ban đầu cũng như tạo điều kiện cho trẻ sơ sinh thích nghi và phát triển trong moi trường mới
Trang 281.2.2 Nội dung pháp luật bảo hiểm xã hội thai sản
1.2.2.1 Đối tượng và điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội thai sản
- Về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm thai sản
Đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong
độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai, bên cạnh đó có những đối tượng khác như lao động nam và người lao động nhận nuôi con nuôi…
Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, năm 1952 chỉ rõ:
Trường hợp bảo vệ bao gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, và sự gián đoạn thu nhập nảy sinh như pháp luật
của quốc gia quy định Đồng thời Công ước cũng quy đinh những
người được hưởng chế độ thai sản phải bao gồm: Mọi phụ nữ thuộc làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ người làm công ăn lương, hoặc mọi phụ nữ được quy định trong dân số hoạt động kinh tế, và tổng số ít nhất chiếm 20% toàn bộ người thường trú; hoặc bao gồm mọi phụ nữ thuộc những loại làm công ăn lương được quy định, và tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ người làm công ăn lương làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên; trong trường hợp trợ cấp y tế về thai sản thì bao gồm cả vợ của những người thuộc các loại này [31]
Theo Công ước số 103 - Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định thì chế độ thai sản “áp dụng cho những phụ nữ làm việc trong các cơ
sở công nghiệp và trong các công việc phi công nghiệp và nông nghiệp, kể cả
những phụ nữ làm công ăn lương, làm việc tại nhà” Và từ “phụ nữ” ở đây là
Trang 29chỉ nữ giới, ở bất kỳ độ tuổi, quốc tịch, chủng tộc, hoặc tín ngưỡng tôn giáo nào, có kết hôn hay không, và từ “con” là chỉ mọi đứa con sinh ra trong hoặc
ngoài giá thú Với mục đích của Công ước là nhằm đảm bảo cho mọi lao động
nữ, trẻ sơ sinh đều được chăm sóc cần thiết và được bảo vệ mức sống đủ cho
mẹ con trong thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc mà không hề có sự phân biệt đối xử nào về tôn giáo, chủng tộc, nghề nghiệp, độ tuổi… [32]
Và trong Công ước số 156 - Công ước về bình đẳng cơ may và đối xử với lao động nam và lao động nữ: những người có trách nhiệm gia đình, năm
1981 thì đối tượng được bảo vệ không chỉ là lao động nữ mà cả lao động nam
và nữ, những người có trách nhiệm trong gia đình, đây được xem là điểm tiến
bộ nhất của Công ước này, nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới [55]
- Về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản
Điều kiện hưởng chế độ thai sản yêu cầu hai điều kiện cơ bản đó là:
những người đang mang thai hoặc sinh đẻ có tham gia BHXH và phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh Thời gian này được quy định theo điều kiện của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, thông thường các nước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến 12 tháng
Cụ thể, ở Argentina, điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh là 10 tháng liên tục trước khi nghỉ thai sản hoặc đã có 6 tháng trước khi sinh trong đó có 1 tháng làm việc ngay trước khi sinh Hay ở Đức, thời gian này là 12 tuần tham gia bảo hiểm hoặc có thời gian làm việc liên tục 4 đến 10 tháng trước khi sinh Tại Pháp là 200 giờ làm việc trong 3 tháng cuối cùng tước khi sinh Với mục đích là tránh việc người chủ sử dụng lao động chấm dứt HĐLĐ khi người lao động sinh con và tránh thâm hụt quỹ tài chính BHXH [14]
Sở dĩ, cần quy định cụ thể về điều kiện hưởng chế độ thai sản là NLĐ tham gia BHXH và có thời gian đóng góp tối thiểu trước sinh nhằm
Trang 30đảm bảo về mặt tài chính cho quỹ BHXH khi chi trả các chế độ bảo hiểm thai sản và mặt khác, nhằm ngăn chặn những tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội
Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong điều kiện nhận trợ cấp thai sản
họ đều yêu cầu hai điều kiện chủ yếu đó là:
+ Những người đang mang thai hoặc sinh đẻ có tham gia BHXH
+ Phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh, thông thường các nước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến 12 tháng cuối cùng trước khi sinh
Bảng 1.1: Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh ở một
số nước trên thế giới
có 6 tháng đóng góp trong 12 tháng trước khi sinh trong đó
có 1 tháng làm việc ngay trước khi sinh
liên tục từ 4 đến 10 tháng trước khi sinh
phạm vi tham gia bảo hiểm xã hội
hạn trong 2 lần sinh)
(Nguồn: Bảo đảm xã hội của các nước trên thế giới - Xuất bản năm 1999)
Trang 311.2.2.2 Thời gian hưởng và mức hưởng bảo hiểm xã hội thai sản
Thời gian hưởng bảo hiểm thai sản
Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản bao gồm thời gian khi thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo sau sinh
“Độ dài thời gian nghỉ thai sản ít nhất là 12 tuần, trong đó một phần thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ” theo Khoản 2 Điều 3, Công ước
số 103 - Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định [32]
Độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau sinh đẻ sẽ do pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy định, nhưng bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 6 tuần; phần còn lại, tùy theo pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy định, nhưng có thể nghỉ vào trước thời điểm dự tính sinh đẻ, hoặc sau thời điểm đã hết thời gian nghỉ bắt buộc, hoặc
là chia ra một phần nghỉ trước thời điểm thứ nhất và một phần nghỉ sau thời điểm thứ hai nói trên, Khoản 3, Điều 3 Công ước 103 về bảo vệ thai sản năm 1952 quy định [33]
Thông thường, các nước sẽ quy định cả thời gian nghỉ cả trước khi sinh
và sau khi sinh để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và trẻ sơ sinh được ổn định
Hay theo Công ước số 183 - Công ước Công ước về sửa đổi Công ước Bảo vệ thai sản (đã sửa đổi) quy định “Để bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh, thời gian nghỉ thai sản bao gồm 6 tuần nghỉ bắt buộc sau sinh” và “Thời gian nghỉ mang thai được nới rộng bằng thời gian giữa ngày sinh dự kiến và
ngày sinh thức tế mà không bị giảm thời gian nghỉ bắt buộc sau sinh” [33]
Và theo Khuyến nghị 191 - Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo
vệ thai sản năm 1952:
Các Nước thành viên cần cố gắng tăng thời gian nghỉ thai sản theo Điều 3 của Công ước 103 lên ít nhất là 18 tuần Cần có quy định kéo dài thời gian nghỉ thai sản trong trường hợp đa sinh Cần có các
Trang 32biện pháp đảm bảo rằng người phụ nữ có quyền tự do chọn lựa thời
gian nghỉ thai sản trước hoặc sau khi sinh nở [12]
Ngoài ra, nếu sinh đẻ sau thời điểm đã dự tính, thì trong mọi trường hợp, thời gian đã nghỉ trước đó sẽ được kéo dài cho tới thời điểm sinh đẻ thực
tế và độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ sẽ không được vì thế
mà giảm bớt, đảm bảo đủ thời gian đủ thời gian nghỉ sau sinh bắt buộc ít nhất
là 6 tuần Sở dĩ, các Công ước đều quy định thời gian nghỉ bắt buộc sau sinh ít nhất là 6 tuần, vì đây là thời gian tối thiểu đảm bảo khả năng phục hồi sức
khỏe cho mẹ và cả trẻ sơ sinh
Khuyến nghị 191 - Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo vệ thai sản năm 1952 cũng quy định thêm về trường hợp hưởng chế độ của người cha như sau:
Trong trường hợp người mẹ tử vong trước khi hết thời gian nghỉ sau sinh thì người cha đang làm việc phải được quyền nghỉ với thời gian tương đương với thời gian mà người mẹ chưa nghỉ hết; trong trường hợp người mẹ ốm đau hoặc nằm viện sau khi sinh và trước khi hết thời gian nghỉ sau khi sinh mà người mẹ không thể chăm sóc được trẻ thì người cha phải được quyền nghỉ một thời gian tương đương với thời gian nghỉ sau sinh mà người mẹ chưa nghỉ hết
để chăm sóc trẻ theo luật định và thông lệ ở nước đó; người mẹ hay người cha của trẻ phải có quyền nghỉ chăm sóc con sau khi hết thời
gian nghỉ thai sản [12]
Thực tế, các quốc gia trên thế giới đã có những quy định khác nhau và linh hoạt về thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản của người cha Cụ thể, Iceland - một trong những quốc gia có chế độ ưu đãi tuyệt vời nhất dành cho các bà mẹ Chế độ nghỉ thai sản đã có ở quốc gia này đã có từ những năm
1970, và năm 2012 một chính sách mới mang tên 5-2-5 đã được ra đời Chính
Trang 33sách này cho phép các bà mẹ và ông bố mỗi người được nghỉ 5 tháng khi có con Thêm 2 tháng nghỉ nữa hai người có thể tự thỏa thuận phân chia với nhau Ngoài ra, các vị phụ huynh cũng có đến 2 năm để sử dụng thời gian nghỉ này và được hưởng 80% thu nhập trong thời gian đó Hay ở Đan Mạch, mỗi cặp vợ chồng ở đây khi sinh con sẽ được nghỉ tổng cộng 1 năm, trong đó, thời gian nghỉ của các bà mẹ là 18 tuần, các ông bố là 2 tuần, và 32 tuần còn lại sẽ được chia cho cả bố và mẹ Ở Singapore, từ năm 2013 người chồng có thể nghỉ một tuần có lương để giúp đỡ người vợ mới sinh Trường hợp người
vợ sẵn sàng chia sẻ một tuần trong 4 tháng nghỉ thai sản của mình cho chồng thì người chồng có thể hưởng thêm một tuần nghỉ nữa Lương trong 2 tuần nghỉ phép này của người chồng sẽ do Chính phủ chi trả Số tiền cao nhất mỗi tuần là khoảng 38 triệu VND [14]
Ngoài ra trong thời gian nuôi con nhỏ, phụ nữ có quyền nghỉ một hoặc một số lần hay giảm thời gian làm việc để cho con bú Thời gian nghỉ, số lần nghỉ hoặc giảm giờ làm việc được quy định cụ thể tùy theo mỗi quốc gia
Nhưng thời gian này tính vào thời gian làm việc và do đó, người lao động nữ vẫn được tính lương đầy đủ Khuyến nghị số 191 còn quy định các hình thức nghỉ liên quan như sau: trường hợp người mẹ tử vong trước khi hết thời gian nghỉ sau khi sinh thì người cha đang làm việc phải được quyền nghỉ một thời gian tương đương với thời gian nghỉ sau sinh mà người mẹ chưa nghỉ hết để chăm sóc trẻ sau khi sinh của quy luật hiện hành [12]
Mức hưởng bảo hiểm thai sản
Trợ cấp chế độ thai sản có hai phương thức thực hiện là trợ cấp bằng tiền và chăm sóc y tế:
+ Đối với chăm sóc y tế:
Đối với trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả của sự kiện này (nếu có), người lao động nữ sẽ được hưởng trợ cấp y tế về thai sản, trợ giúp
Trang 34về y tế bao gồm sự chăm sóc trước khi đẻ, trong khi đẻ và sau khi đẻ, do một người đỡ đẻ có bằng cấp hoặc một thầy thuốc phụ trách và cả việc nằm viện nếu cần thiết, các dịch vụ hỗ trợ y, dược, khám thử, chăm sóc răng, kể cả giải phẫu và nằm viện khi cần thiết
Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
đã quy định rõ:
Chăm sóc y tế phải nhằm bảo toàn, phục hồi hoặc cải thiện sức khỏe của người phụ nữ được bảo vệ, và cả khả năng làm việc, khả
năng ứng phó với nhu cầu cá nhân của họ Các cơ quan chính phủ
hoặc thể chế quản lý trợ cấp y tế về thai sản phải khuyến khích những người phụ nữ được bảo vệ, bằng mọi cách được coi là thích đáng, để họ sử dụng các dịch vụ y tế chung của cơ quan hoặc của
cơ quan được thừa nhận, dành cho họ [31]
Ngoài ra Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định cụ thể về các trường hợp được chăm sóc y tế tại Khoản 3 Điều 4 là:
Trợ giúp về y tế bao gồm sự chăm sóc trước khi đẻ, trong khi đẻ và sau khi đẻ, do một người đỡ đẻ có bằng cấp hoặc một thầy thuốc phụ trách và cả việc nằm viện nếu cần thiết [32]
Khuyến nghị 191 - Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo vệ thai sản năm 1952 quy định cụ thể hơn về chế độ y tế nên bao gồm:
Khám tại phòng khám, tại nhà hoặc tại bệnh viện hoặc cơ quan y tế khác do chuyên gia hoặc chuyên viên đa khoa; chăm sóc thai sản do một bác sỹ sản khoa đủ trình độ hoặc các dịch vụ chăm sóc thai sản tại nhà, bệnh viện hay các cơ quan y tế khác; duy trì chế độ thai sản tại bệnh viện và các sở y tế; bất kỳ dịch vụ hỗ trợ y, dược, khám, thử do bác sỹ hoặc chuyên gia y tế có trình độ kê đơn; chăm sóc răng và giải phẫu [12]
Trang 35Ngoài ra, Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm
1952 cũng quy định “quyền tự do lựa chọn thầy thuốc và tự do lựa chọn bệnh
viện công hay tư sẽ được tôn trọng” Tuy nhiên, các quốc gia đều khuyến
khích lao động nữ sử dụng các dịch vụ y tế chung của cơ quan và dịch vụ y tế công cộng Đặc biệt ở một số nước có thực hiện cả trợ cấp chi phí đi lại, dịch
vụ chăm sóc tại nhà [32]
- Đối với trợ cấp thai sản bằng tiền:
Trong trường hợp gián đoạn thu nhập do thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, lao động nữ sẽ được trợ cấp bằng tiền theo định kỳ Mức trợ cấp phải đảm bảo nuôi sống chính mình và con mình trong điều kiện sức
khỏe đảm bảo và mức sống phù hợp
Công ước số 103 về bảo vệ thai sản (xét lại) năm 1952 quy định, mức trợ cấp bằng tiền sẽ do pháp luật hoặc pháp quy quốc gia ấn định, sao cho có thể bảo đảm đầy đủ việc nuôi dưỡng cả người mẹ và đứa con trong những
điều kiện vệ sinh tốt và ở một mức sống thỏa đáng
Theo Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, tỷ lệ trợ cấp thai sản tối thiểu là 45%, nhưng Công ước 183 mở rộng quy định mức trợ cấp không được thấp hơn 2/3 thu nhập trước đó của người lao động nữ Bổ sung cho Công ước 183, Khuyến nghị 191 yêu cầu nâng mức trợ cấp lên bằng mức lương trước đó của họ Mức chi trả định kỳ có thể thay đổi trong thời gian hưởng trợ cấp [31, 32, 12]
Mức hưởng trợ cấp thai sản của các nước rất khác nhau, thông thường mức trợ cấp thai sản là 100% lương và thời gian trợ cấp thường là 6 tuần trước khi sinh và 6 – 8 tuần sau khi sinh Ngoài trợ cấp kể trên thì mỗi lần sinh con người mẹ còn được cấp nuôi con với mức từ 20 đến 25% mức trợ cấp thai sản trong thời gian từ 6 tháng trở lên Cũng có một số nước thực hiện
hỗ trợ tiền sắm tả lót và trợ cấp thai sản một lần
Trang 36Những khoản trợ cấp bằng tiền và trợ giúp về y tế sẽ được cấp trong khuôn khổ một hệ thống bảo hiểm bắt buộc, hoặc được lấy từ các quỹ công;
và trong cả hai trường hợp, bất kỳ người phụ nữ nào có đủ điều kiện đã quy định đều đương nhiên có quyền được hưởng Những người phụ nữ nào không
có đủ điều kiện hưởng quyền trợ cấp, trợ giúp nói trên, thì sẽ được nhận những khoản trợ cấp thích đáng lấy từ các quỹ trợ giúp xã hội, nếu thỏa mãn các điều kiện về phương tiện sinh sống để hưởng trợ cấp đó
Bảng 1.2: Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản ở một số
nước trên thế giới
100% thu nhập của tháng trước khi sinh (người lao động có thể tự lựa chọn thời gian nghỉ thích hợp: 30 ngày trước khi sinh và 60 ngày sau khi sinh hoặc 45 ngày trước khi sinh và
45 ngày sau khi sinh)
phí này do chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm) Những trường hợp nạo, phá thai được nhận trợ cấp trong vòng 42 ngày với mức trợ cấp bằng 100% thu nhập
cấp là 6 tuần trước khi sinh và 10 tuần sau khi sinh đối với đứa con thứ nhất và thứ hai Đối với đứa con thứ ba được nghỉ
8 tuần trước khi sinh và 18 tuần sau khi sinh Trường hợp song thai, người mẹ được nghỉ 12 tuần trước khi sinh và 22 tuần sau khi sinh Nếu thai ba, người mẹ được nghỉ 24 tuần trước khi sinh và 22 tuần sau khi sinh
Trang 37Stt Tên nước Thời gian và mức trợ cấp
khi sinh và 8 tuần sau khi sinh
Đối với những người không đủ điều kiện nhận trợ cấp như trên thì nhân trợ cấp một lần bằng 150 DM cho một lần sinh
ngày trước khi sinh (98 ngày trong những trường hợp đa thai)
và 56 ngày sau khi sinh
nhận trợ cấp là 42 ngày trước khi sinh và 42 ngày sau khi sinh (nếu sau khi sinh 42 ngày mà người mẹ không thể trở lại làm việc bình thường được thì họ sẽ được nhận trợ cấp ốm đau)
sản là 16 tuần đối với lần sinh thứ nhất, 18 tuần đối với lần sinh thứ hai trở đi và 26 tuần đối với những trường hợp sinh đôi, sinh ba trở lên
tuần trước khi sinh và 10 – 16 tuần sau khi sinh Những người nghỉ việc để trông con dưới 18 tháng tuổi được nhận mức trợ cấp hàng tháng bằng 200% mức lương tối thiểu
trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh
ngày cho một lần sinh Chỉ thực hiện trợ cấp cho những người lao động nữ có tham gia bảo hiểm
Thực hiện trợ cấp một lần là 4 000 bạt cho một lần sinh
(Nguồn: Bảo đảm xã hội của các nước trên thế giới - Xuất bản năm 1999)
Trang 381.2.2.3 Thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội thai sản
Phụ nữ thuộc đối tượng được nghỉ thai sản, phải xuất trình một giấy chứng nhận y tế dự tính thời điểm sinh đẻ của mình Khi lập giấy chứng nhận
y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật pháp và thực tiễn, phải nêu rõ ngày sinh dự kiến
Điều 3, Công ước số 103 - Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm
1952 quy đinh: “Phụ nữ thuộc đối tượng được áp dụng Công ước này đều có quyền được nghỉ thai sản, khi xuất trình một giấy chứng nhận y tế dự tính thời điểm sinh đẻ của mình” [32]
Tại Điều 4, Công ước số 183 - Công ước Công ước về sửa đổi Công ước Bảo vệ thai sản (đã sửa đổi) quy định “Khi lập giấy chứng nhận y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật pháp và thực tiễn, nêu rõ ngày sinh dự kiến, người phụ nữ thuộc phạm quy áp dụng của Công ước này
sẽ được hưởng một thời gian nghỉ thai sản không dưới 14 tuần” [33]
Trang 39Kết luận chương 1
Bảo hiểm xã hội thai sản là một trong những điều mà người lao động rất quan tâm Rất nhiều điều người lao động chưa biết có thể tìm đến dịch vụ bảo hiểm xã hội để có thể đảm bảo có được thông tin chính xác nhất cho mình
Ở nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển thì chế độ thai sản
có nhiều ưu đãi hơn rất nhiều Chế độ thai sản ở nước ngoài sẽ có sự ưu tiên
hỗ trợ rất nhiều cho người lao động khi họ sinh con Với các nước phát triển như Đức, Singapore, Canada, Thụy Điển, Pháp thì việc lao động nữ sinh con
sẽ có được rất nhiều ưu đãi Thậm chí là Đức có chế độ thai sản cho người lao động có thể nghỉ chăm con đến khi con 03 tuổi mà người sử dụng lao động không được phép sa thải người lao động khi nghỉ thai sản để chăm con.Hay như Canada có chế độ thai sản vô cùng ưu đãi khi Chính phủ nước này sẽ hỗ trợ thai sản cho đến khi con của người lao động tròn 18 tuổi
Tuy nhiên thì không phải chế độ thai sản ở nước ngoài của nước nào cũng giống nhau Có một số nước thì thời gian nghỉ thai sản chỉ khoảng 3-4 tháng Và mức lượng hưởng thai sản cũng không phải là 100% so với lương trước khi sinh mà khoảng 60% -80% Thậm chí chế độ thai sản ở Mỹ còn có nhiều hà khắc hơn khi người lao động không chỉ là chỉ được nghỉ thai sản có
3 tháng mà trong thời gian nghỉ thai sản thì họ cũng không được hưởng bất cứ một sự hỗ trợ về lương nào từ người sử dụng lao động hay Chính phủ Điều này cho thấy là đối với các nước đang phát triển thì còn tùy vào chế độ an sinh xã hội của mỗi nước như thế nào để có thể có được sự hỗ trợ tốt nhất cho người lao động
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM
XÃ HỘI THAI SẢN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI TỈNH HÀ GIANG 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã hội thai sản
2.1.1 Đối tượng áp dụng và điều kiện hưởng BHXH thai sản
Đối tượng áp dụng bảo hiểm thai sản được quy định tại khoản 1 Điều
30 Luật BHXH 2014, là người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm các trường hợp sau: [22]
Một là, người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Hai là, người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
Ba là, Cán bộ, công chức, viên chức;
Bốn là, Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
Năm là, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan,
hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
Sáu là, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác
xã có hưởng tiền lương;
So với Luật BHXH 2006, Luật BHXH 2014 đã mở rộng phạm vi áp