Tài sản của ông Hòa, bà Mai gồm: 01 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và một lán bán hàng xây dựng năm 2006, trên diện tích đất 169,5m2 trong đó, diện tích được cấp giấy chứng nhận qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
v
KHOA LUẬ T HÀ̀NH CHÍ́NH BỘ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬ T DÂN SỰ, TÀ̀I SẢN VÀ̀
QUYỀN THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ̀
Buổi thảo luận thứ tư: Bảo vệ quyền sở hữu
Thực hiện: nhóm 3
TP.HCM, THÁ́NG 4 NĂM 2022
Trang 2Bài làm
Vấn đề 1: DI SẢN THỪA KẾ
TÓM TẮT BẢN Á́N SỐ́ 08/2020/DSST NGÀ̀Y 28/08/2020 CỦA TÒA Á́N NHÂN DÂN THÀ̀NH PHỐ́ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hòa
Bị đơn: Anh Trần Hoài Nam, Chị Trần Thanh Hương
Nội dung: Bà Cao Thị Mai và ông Trần Văn Hòa kết hôn với nhau năm 1980 Quá trình hôn nhân, hai ông bà có hai con chung là anh Nam và chị Hương Ngoài ra, không có con
đẻ con nuôi nào khác Tài sản của ông Hòa, bà Mai gồm: 01 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và một lán bán hàng xây dựng năm 2006, trên diện tích đất 169,5m2 (trong đó, diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hòa là 84m2, còn lại 85,5m2 còn lại ông Hòa sử dụng ổn định và không có tranh chấp), địa chỉ thửa đất tại
số nhà 257 đường Nguyễn Viết Xuân, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Theo biên bản thẩm định tài sản và định giá tài sản ngày 21/02/2020, tổng tài sản
có trị giá là 6.127.665.000đ Tài sản các đương sự có tranh chấp: tiền cho thuê nhà và lán bán hàng từ tháng 3/2018 đến thời điểm xét xử do ông Hòa đang quản lý; tiền cho thuê lán bán hàng của năm 2017, 2018 do chị Hương quản lý Đối với đề nghị của anh Nam
và chị Hương, yêu cầu xác định diện tích đất 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của gia đình, đề nghị này không được Hội đồng xét xử chấp nhận Đối với diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề để quyết định Từ các lập luận, tổng giá trị tài sản chung của ông Hòa và bà Mai là 6.151.614.500đ Tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và được hình thành từ tài sản của hôn nhân nên được chia đôi cho ông Hòa và bà Mai mỗi người ½ giá trị Ngày 31/07/2017, bà Mai chết và không để lại di chúc nên di sản của bà Mai được phân chia theo pháp luật Hiện ông Hòa đã lấy vợ mới,
và đăng ký hộ khẩu tạm trú tại huyện Phú Ninh, tỉnh Phú Thọ, nhà đất tranh chấp chủ yếu
là cho thuê
Vì các lẽ trên, Tòa án quyết định chia cho ông Hòa số tài sản tổng trị giá 2.220.664.000đ; diện tích đất 38,4 m2 ông Hòa có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế; chia cho anh Nam số tài sản tổng trị giá 4.207.001.000đ; diện tích đất 47,1 m2 anh Nam có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế; ông Hòa quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chia cho chị Hương quyền sở hữu số tiền thuê 30.000.000đ; buộc anh Nam thanh toán chênh lệch về tài sản cho ông Hòa số tiền 1.880.412.000đ
Trang 31 1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lí khi trả lời.
Theo Điều 612 Bộ luật dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”
Di sản không bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố Di sản bằng tổng tài sản trừ đi tổng nghĩa vụ
Căn cứ pháp lí: Đ658 Bộ luật dân sự 2015
1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao
Đối với những di sản bị thay thế, xuất hiện sau thời điểm mở thừa kế BLDS các năm không có quy định nào về vấn đề tài sản thay thế có được xem là di sản hay không “Thực tiễn, tài sản thay thế di sản là “di sản thừa kế” Hướng giải quyết này chưa quy định trong văn bản nhưng rất thuyết phục (án lệ của Pháp cũng giải quyết theo hướng này và ngày nayán lệ này đã được luật hóa tại Điều 815-10 Bộ luật Dân
sự Pháp) và được áp dụng đối với trường hợp di sản được thay thế bằng một khoản tiền như tiền đền bù (đây là hướng giảiquyết của Bản án số 98/2006/DSPT ngày 20-1-2006 của Tòa án nhân dân Thành phố HồChí Minh), tiền bảo hiểm tài sản được bảo hiểm…Thực tế con cho thấy khi di sản bị bán cho người khác, Tòa án nhân dân tối cao cũng giải quyết theo hướng tiền từ việc bán (chuyển nhượng) là di sản (Quyết định số 02/2011 ngày 23-02-2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
và, trong trường hợp Tòa án đã giao di sản cho một người không được hưởng (và bản
án đã có hiệu lực pháp luật), người được giao sở hữu tài sản phải thanh toán giá trị tài sản và giá trị này cũng được chia di sản (Quyết định số 141/DS- GĐTngày 19-3-2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân tối cao) Tương tự như vậy khi Tòa án quyết định bán đấu giá di sản và di sản đã được bán hợp pháp cho người khác (Quyết định
số31/2014/DS-GĐT ngày 10-07-2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết theo hướng vừa nêu) hay Tòa án giao di sản cho cho một người thừa kế
và người thừa kế chuyển nhượng di sản cho người khác nhưng sau đó quyết định giao
di sản bị hủy thì di sản được chuyển thành tiền và người nhận tiền phải chia cho những người thừa kế tiền đã nhận (Hướng giải quyết tại Quyết định số 03/2011/ DS-GĐT ngày 23-2-2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định
số 129/2011/DS-GĐT ngày 22-2-2012 củaTòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao) (Đỗ Văn Đại- Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 8-10, trang 113)
Trang 41.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá
cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Điều 612, Bộ Luật Dân Sự 2015: “ Di sản bao gồm tài sản riêng của
người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Đất Đai 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý
để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.” Như vậy, để xác định quyền sử dụng đất của người sử dụng đất cần có chứng thư pháp lí của Nhà nước
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 168, Luật Đất Đai 2013: “ Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất
Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.”
Như vậy, chỉ khi có giấy chứng nhận sử dụng đất thì người sử dụng đất mới được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và trong trường hợp người sử dụng đất muốn để lại di sản thừa kế thì người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Vì vậy để được coi là di sản, theo quy định của pháp luật cần phải đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 51.4 Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy quyền sử dụng đất là di sản hay không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?
Trong bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy quyền
sử dụng đất là di sản nhưng phải kèm theo thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước ở đoạn:
Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng không được coi là di sản thành kế, cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo sơ đồ hiện trạng được công ty do đạc, khảo sát thực tế ngày 21/02/2020 thể hiện, ngôi nhà và lán bán hàng được làm và xây dựng trên cả diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận và diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận Kết quả xác minh tại UBND phường Đống Đa (nơi có diện tích đất tranh chấp): Gia đình ông Hòa đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng, sân và lán bán hàng trên một phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận; diện tích đất này hộ ông Hòa đã quản lý, sử dụng ổn định nhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp, không thuộc diện đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất tăng nằm tiếp giáp với phía trước ngôi nhà và lán bán hàng của hộ ông Hòa, giáp đường Nguyễn Viết Xuân, đất thuộc diện được cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tiền thuế là 19.000.000đ/m2 Do đó, đây vẫn là tài sản của ông Hòa, ba Mai, chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Phần đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận
1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08
về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án là có căn cứ vì theo Nghị quyết số 02/2004 NQ-HĐTP, tại Mục II: “Về thừa kế, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”, điểm b,
Khoản 1.3 có nêu rõ: “Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân
cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm
Trang 6quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất.”
Ngoài ra, tại khoản 5, điều 50, Luật đất đai 2003 có nêu: “Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của
cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.”
Tóm tắt án lệ số 16/2017 AL
Ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G là vợ chồng Tài sản chung của ông Phùng Văn N
và bà Phùng Thị G là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m2 Ngày 07- 7-1984 ông Phùng Văn N chết (trước khi chết không để lại di chúc) bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng nhà đất trên Năm 1991 bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K một phần diện tích đất trên với diện tích đất là 131m2 , còn lại diện tích 267m2, năm 1999 bà Phùng Thị G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Năm 1991 bà G đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2, khi chuyển nhượng các chị đều biết việc này, mẹ chị đã dùng số tiền đó để trang trải nợ nần và nuôi các con
Bà Phùng Thị G muốn cho con gái là chị Phùng Thị H1 một phần diện tích đất của bà để làm nhà ở nhưng anh Phùng Văn T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà Phùng Thị G không tách đất cho chị Phùng Thị H1 được Tháng 3-2010 bà Phùng Thị G
đã lập di chúc với nội dung: Để lại cho chị Phùng Thị H1 diện tích đất 90m 2 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích đất Khi lập di chúc bà Phùng Thị G hoàn toàn minh mẫn khỏe mạnh, có người làm chứng và di chúc đó đã được Ủy ban nhân dân phường M chứng thực Ngày 19-12-2010 bà Phùng Thị G chết, toàn bộ khối tài sản trên vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng
Nay các chị em trong gia đình khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, quan điểm của anh Phùng Văn T không đồng ý vì bố mẹ anh chỉ có một mình anh là con trai nên anh sử dụng để ở và thờ cúng tổ tiên, không đồng ý phân chia thừa kế Các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc bà Phùng Thị G để lại cho chị Phùng Thị H1 là 90m2, phần còn lại là 177m2 đề nghị chia theo pháp luật, kỷ phần thừa kế của chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị H2 nhường cho chị Phùng Thị H1 sử dụng
NỘ I DUNG Á́N LỆ
“Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2
Trang 7Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ
sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn
cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất
đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng.”
1.6 Ở Á́n lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn
N là bao nhiêu? Vì sao?
Phần di sản của ông Phùng Văn N tại thời điểm mở thừa kế là 199m2 Vì mảnh đất này được hình thành trong thời gian hôn nhân giữa ông N và bà G còn hiệu lực nên sẽ được chia đôi theo Luật Hôn nhân và gia đình Còn thời điểm bà G bán cho ông K dựa trên hợp đồng thừa kế là của khoảng thời gian sau này, không liên quan đến phần di sản mà ông N để lại
1.7 Theo Á́n lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K
có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Theo án lệ thì phần diện tích đất của ông Phùng Văn K không được coi là di sản để chia
vì lúc bà G chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông K thì các con bà đều biết và đồng ý, bà G cũng đã dùng số tiền đó để lo cho gia đình Nay ông K cũng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan nhà nước cấp nên phần đất đó là của ông K
Ở thời điểm mở thừa kế thì phần đất đó là di sản nhưng nó đã được chuyển nhượng dưới
sự đồng ý của các thừa kế nên không được coi là di sản để chia thừa kế nữa
1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Á́n lệ trên liên quan đến
phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Hướng giải quyết của án lệ là hoàn toàn hợp lý Bà G và anh T là người quản lý phần di sản, bà G bán đất cho ông K là một hợp đồng chuyển nhượng được công nhận về mặt pháp
lý Đồng thời khi chuyển nhượng đất thì các con của bà G tức những người đồng hưởng thừa kế đã biết và đồng ý Theo Điều 223 Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó” Sau khi xác nhập chuyển nhượng thì phần đất đó không được tính chung vào
Trang 8phần di sản là hợp lý, đảm bảo hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực, không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông K Bên cạnh đó ông K cũng đã được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất nên phần đất đó hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của ông K
1.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Nếu bà G đã sử dụng hết số tiền đó cho riêng mình thì nó vẫn được tính vào di sản Phần tiền thu được do chuyển nhượng đất cho ông K phải được thêm vào phần di sản để chia thừa kế Hoặc phần đất đã chuyển nhượng sẽ trừ vào tài sản riêng của bà G trong phần tài sản chung, tức là 131m2 sẽ trừ vào 199m2 đất của bà G nên bà G còn lại 68m2
1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và
bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G
để lại là 1/2 khối tài sản (133,5m 2) được chia theo di chúc cho chị Phùng Thị H1 (con gái
bà Phùng Thị G) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại
1.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Á́n lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 là hoàn toàn thuyết phục trước hết tại Khoản 1 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“ Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản
lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.” vậy
bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T tiếp tục quản lý
Năm 1991, bà G chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất nên phần diện tích còn lại của thửa đất là 267,4m2 Như trong phần Nhận định của Tòa án thì “việc mà bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con của bà đều biết và không ai có ý kiến phản đối gì và các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cho cuộc sống của bà và các con” Nên đã đủ cơ sở xác định các người con của bà đồng ý cho bà xác lập hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông K
Ngày 19- 12-2010 bà Phùng Thị G chết, trước khi chết bà đã để lại di chúc lập ngày 05-3-2009 có nội dung để lại cho chị Phùng Thị H1 (con gái bà Phùng Thị G) diện tích 90m2 đất trong tổng diện tích 267m2 đất trên, di chúc có chứng thực của Ủy ban
Trang 9nhân dân phường M ngày 7-3-2009 Cùng với đó bà G được xác định lập di chúc khi còn minh mẫn và nội dung di chúc theo ý nguyện của bà Nhưng đây thực chất bà Phùng Thị G chỉ có thể để lại 90m2 đất trong tổng số 133,5m2 đất dưới sự định đoạt của bà
Do 133,5m2 đất còn lại vẫn còn dưới sự quản lý của anh Phùng Văn T Vì theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày
10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Trường hợp trong thời hạn
mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của
các thừa kế.” thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này
ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng
Khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di
sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều
236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
Vậy phần tài sản còn lại của bà G là 43,5m2 và sẽ tiếp tục được chia thừa kế theo quy định của pháp luật
1.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Á́n lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5 m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại”
là hoàn toàn thuyết phục và hợp lý
Bởi khi ông Phùng Văn N (là chồng bà G) chết không để lại di chúc nên bà G và anh
T đã quản lý và sử dụng, thừa hưởng đất trên là đúng theo quy định của pháp luật do mảnh đất trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông N và bà G Năm 1991, bà G chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất nên phần diện tích còn lại của thửa đất là 267,4m2 Như trong phần Nhận định của Tòa án thì “việc mà bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con của bà đều biết và không ai
có ý kiến phản đối gì và các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để
lo cho cuộc sống của bà và các con” Nên đã đủ cơ sở xác định các người con của bà đồng ý cho bà xác lập hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông K Sau đó chị H1 được bà G để lại di chúc là 90m2 diện tích đất sau khi bà chết (lúc lập bà hoàn
Trang 10toàn minh mẫn, có người làm chứng) và di chúc cũng có đầy đủ các chứng thực của Ủy ban nhân dân dân phường M nên di chúc có đủ điều kiện để thực hiện Việc chia một nửa diện tích đất là 267m2 theo Tòa án là hoàn toàn toàn có cơ sở Bởi như đã nêu trên thì phần diện tích đất này là tài sản chung của 2 vợ chồng Thế nên sau khi chia thì phần di sản còn lại của bà G là 133,5m2 đất, sau khi trừ đi 90m 2 đất mà bà G chia cho chị H1 thừa kế trong di chúc thì còn 43,5m2 đất được chia cho năm kỷ phần còn lại là 5 người con là hoàn toàn hợp lý
Vấn đề 2: QUẢN LÝ DI SẢN
Tóm tắt bản số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La:
- Nguyên đơn: anh H có quan hệ họ hàng với T,
- Bị đơn: N;
- T là anh ruột của H
- Nội dung: Khi bố mẹ H còn sống thì có ngôi nhà gỗ nằm trên diện tích đất 311m2 và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Đoàn Thị T Khi chết bố mẹ H đều không để lại di chúc Các thành viên trong gia đình thay nhau trông coi, quản lý khối di sản của ông Đ, bà T Nay anh H có ý định tu sửa lại ngôi nhà và quản lý đất đai của bố
mẹ để lại để làm nơi thờ cúng bố mẹ chứ không phân chia, tuy nhiên khi anh có ý định sửa thì cháu N cản trở Anh H đề nghị Tòa án giải quyết buộc cháu N và anh T không được cản trở việc anh tu sửa ngôi nhà, cháu N không được xâm phạm đến tài sản của bố,
mẹ anh Tòa án đã Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H Giao cho anh H được quyền quản lý di sản thừa kế của ông Phạm Tiến Đ và bà Đoàn Thị T
2 1 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không? Vì sao?
- Trong Bản án số 11, Toà án xác định ông H là người có quyền quản lý di sản của ông Đ
và bà T
- Việc xác định như vậy theo em nghĩ là hợp lý Căn cứ vào Khoản 1 Điều 616 BLDS
2015 quy định: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra’’ Trong trường hợp này anh H đã được anh chị em
trong nhà thỏa thuận cử ra nên anh H có quyền quản lý di sản do bố mẹ anh để lại nên Toà án xác định như vậy là hợp lý
2.2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án là người quản lý di sản
- Cơ sở pháp lý: Khoản 2, Điều 616 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp di chúc không chỉ
định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản