Đối tượng nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu quy định của của pháp luật tố tụng dân sự về hiệu lực của quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, căn cứ kháng nghị giám đố
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
HIỆU LỰC CỦA QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN SỰ
THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Người thực hiện: Phạm Ngọc Hiếu Thảo
MSSV: 1751101030143
Lớp: QTL42.2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU LỰC CỦA QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 3
1.1 Khái quát về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 3
1.1.1 Khái niệm hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 3
1.1.2 Ý nghĩa hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 4
1.2 Quy định pháp luật về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 4
1.2.1 Về thời điểm phát sinh hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 5
1.2.2 Về thủ tục xét lại quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 6
Kết luận Chương 1 7
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HIỆU LỰC CỦA QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 8
2.1 Một số bất cập trong quy định pháp luật về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 8
2.1.1 Kháng nghị giám đốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 8
2.1.2 Kháng nghị tái thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 10
2.2 Thực tiễn xét xử 11
2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 13
Kết luận Chương 2 14
KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xu thế toàn cầu hóa,
mở rộng hợp tác quốc tế sâu rộng, các quan hệ dân sự phát triển ngày càng đa dạng, phong phú vàphức tạp trên nhiều lĩnh vực Song song với xu thế phát triển đó, những tranh chấp, mâu thuẫn xảy
ra là hiện tượng tất yếu, không thể tránh khỏi Điều đó đòi hỏi cần phải tìm ra một phương thức giảiquyết tranh chấp hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệdân sự, đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng cao trong thời đại mới
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự, phương thức giải quyết bằng công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự tại Tòa án luôn được ưu tiên lựa chọn bởi tính hiệu quả kinh tế, tiếtkiệm thời gian, linh hoạt và phù hợp với truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam Xuất phát từnguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận, bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sựtrong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng luôn khuyến khích, tạo điều kiện để các đương sự hòagiải, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án khi có tranh chấp phát sinh Để góp phần đảm bảocho sự thỏa thuận của các đương sự có giá trị pháp lý, có cơ chế thi hành hiệu quả trong thực tế thìviệc nghiên cứu về vấn đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có ýnghĩa rất quan trọng
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 đã
kế thừa và phát triển các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung bằngLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 nhằm khắc phục những hạnchế, tăng cường tính công bằng, dân chủ trong hoạt động tố tụng, đảm bảo phù hợp với xu thế pháttriển của thời đại mới Tuy nhiên, nhìn chung các quy định của pháp luật hiện hành về hiệu lực củaquyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong thực tiễn
áp dụng
Với mong muốn góp phần xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về hiệu lực của quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và nâng cao hiệu quả thực thi của quyết định này,
tác giả đã chọn đề tài “Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” làm
đề tài tiểu luận kết thúc môn học Luật Tố tụng dân sự
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã được nghiên cứubởi một số tác giả ở những góc độ khác nhau:
- Đỗ Đuc Anh Dung (2006), “Ve hieu luc cua quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua đuong
su theo quy đinh tai Đieu 220 BLTTDS”, Tạp chí Toà án, (08), tr.8-10.
- Nguyen Nam Hung (2018), “Can cu khang nghi giam đoc tham quyet đinh cong nhan su thoa
thuan cua cac đuong su”, Tạp chí Kiểm sát, (21), tr.46-49.
- Pham Thi Thuy (2020), “Khang nghi tai tham đoi voi quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua
cac đuong su”, Tạ̣p chí́ Khoa học phá́p lý, (08), tr.51-59.
Trang 5nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc nghiên cứu dưới góc độ các quy định của BLTTDS 2004sửa đổi, bổ sung năm 2011 Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về vấn
đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của BLTTDS2015
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả sẽ nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn về hiệu lực của quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Qua đó,tác giả nêu lên một số bất cập trong pháp luật tố tụng dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật vềvấn đề này Tác giả mong muốn việc thực hiện đề tài này sẽ đóng góp những nền tảng lý luận vàthực tiễn về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và là tài liệu hữu íchdùng trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học pháp lý
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu:
Tác giả tập trung nghiên cứu quy định của của pháp luật tố tụng dân sự về hiệu lực của quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và kháng nghị táithẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Vì giới hạn về thời gian và khả năng nghiên cứu nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp từ các quy định pháp luật tốtụng dân sự Việt Nam, các tài liệu tham khảo liên quan, các tình huống thực tiễn trong quá trìnhthực hiện đề tài nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu về hiệu lực của quyết định công nhận sựthỏa thuận của các đương sự dưới góc độ lý luận và thực tiễn
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự
Chương 2: Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Trang 6CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU LỰC CỦA QUYẾT ĐỊNH CÔNG
NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 1.1 Khái quát về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
1.1.1 Khá́i niệm hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự
“Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự là hoạt động
do Tòa án tiến hành nhằm thừa nhận việc thống nhất ý chí của các đương sự về việcgiải quyết vụ án dân sự Việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải đượcthể hiện bằng một văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc, theo thủ tục do luật định,được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước”1
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là văn bản pháp lý doThẩm phán hoặc Hội đồng xét xử sơ thẩm ban hành trong quá trình giải quyết vụ ándân sự nhằm ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết toàn bộ vụ
án dân sự trên cơ sở sự thỏa thuận tự do, tự nguyện của các đương sự, không viphạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Nói cách khác, quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đương sự là văn bản pháp lý do Tòa án ban hành nhằmghi nhận về kết quả của quá trình giải quyết vụ án dân sự trên cơ sở sự thỏa thuậncủa các đương sự
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể được ban
hành ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong hai trường hợp: Một là̀, ở giai đoạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm, hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành màkhông có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyếtđịnh công nhận sự thoả thuận của các đương sự2; Hai là̀, tại phiên tòa sơ thẩm, nếu
các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của
họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội thì Hộiđồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giảiquyết vụ án3
Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, mặc dù các đương sự có quyền thỏa thuận vớinhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự nếu thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật vàkhông trái đạo đức xã hội Tuy nhiên, hình thức Tòa án công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự ở giai đoạn xét xử phúc thẩm là bản án phúc thẩm sửa bản
1 Lương Thị Thu Hà (2016), Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận
văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP.HCM, tr.10.
2 Khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015.
3 Khoản 1 Điều 246 BLTTDS 2015.
Trang 7án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chứ không phải bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự4.
Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa năm 1999 và Từđiển Luật học của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp năm 2006 thìhiệu lực pháp luật (của văn bản pháp luật nói chung) được hiểu là “là tính bắt buộcthi hành của văn bản…”, “là giá trị pháp lý của văn bản…, hoặc (giá trị) áp dụngcủa văn bản đó,… thể hiện phạm vi tác động hoặc phạm vi điều chỉnh của văn bản
về thời gian, không gian và về đối tượng áp dụng” Ngoài ra, trong quyển Từ điểnBách khoa pháp luật Hoa Kỳ cũng có đưa ra định nghĩa về ‘hiệu lực’ (valid) nhưsau: “Hiệu lực là sự ràng buộc; sự cưỡng chế pháp lý…5 Như vậy, hiệu lực có thểđược hiểu là giá trị pháp lý, tính bắt buộc thi hành của văn bản do cơ quan nhà nước
Thứ nhất, đảm bảo thực thi hiệu quả quyền quyết định và tự định đoạt của các
đương sự trong quá trình giải quyết vụ án Quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự có hiệu lực pháp luật sẽ giúp các đương sự an tâm hơn khi lựa chọnphương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường thỏa thuận, khuyến khích họthực hiện quyền quyết định và tự định đoạt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình
Thứ hai, là cơ sở để giải quyết vụ án được nhanh chóng, hiệu quả mà không
cần thông qua thủ tục xét xử tại phiên tòa, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm áplực cho các bên đương sự và các chủ thể tiến hành tố tụng
Thứ ba, đảm bảo cho sự thỏa thuận của các đương sự có giá trị pháp lý, có giá
trị bắt buộc thi hành trên thực tế đối với các bên đương sự bằng sức mạnh cưỡngchế của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thi hành án
5 Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của phá́p luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại
học Luật TP.HCM, tr.17.
Trang 81.2 Quy định pháp luật về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Quy định của BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDSnăm 2015 về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về
cơ bản là không khác nhau nhiều Quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 2004 sửađổi, bổ sung năm 2011 và Điều 213 BLTTDS năm 2015 đều quy định về hiệu lựccủa quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo cấu trúc gồm haiđiều khoản: khoản 1 quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đương sự và khoản 2 quy định về thủ tục xét lại quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
1.2.1 Về thời điể̂ ̉m phá́t sinh hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự
Khoản 1 Điều 213 BLTTDS 2015 quy định: “Quyết định công nhận sự thoả
thuận của cá́c đương sự có hiệu lực phá́p luật ngay sau khi được ban hà̀nh và̀ không bị khá́ng cá́o, khá́ng nghị theo thủ tục phúc thẩm”.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì quyết định công nhận sự thỏathuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay kể từ thời điểm ban hành vàkhông là đối tượng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Sở dĩ phápluật quy định quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực thihành ngay xuất phát những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, trước khi ra quyết định, Tòa án đã cho các bên thời gian hợp lý để
họ cân nhắc, lựa chọn về việc thỏa thuận giải quyết vụ án Việc đương sự thỏa thuậnđược với nhau về việc giải quyết vụ án và Tòa án công nhận kết quả thỏa thuận đókhông phải là sự bộc phát, ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình tư duy của đương
sự6 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tại phiên hòa giải khi các bên đã thỏathuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành
và sau 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu các bên không thay đổi ýkiến thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự7.Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ ánthì Hội đồng xét xử mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự,nếu thỏa thuận của họ không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội8
Thứ hai, Tòa án phải tôn trọng ý chí, sự thỏa thuận của các đương sự về việc
giải quyết vụ án Điều 5 BLTTDS 2015 quy định đương sự có quyền quyết địnhviệc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, trong quá trình giải quyết
6 Đỗ Đuc Anh Dung (2006), “Ve hieu luc cua quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua đuong su theo quy đinh
tai Đieu 220 BLTTDS”, Tạp chí Toà án, (08), tr.8-10.
7 Khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015.
8 Khoản 1 Điều 246 BLTTDS 2015.
Trang 9vụ việc dân sự các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mìnhhoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xãhội Về bản chất, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ là vănbản pháp lý của Tòa án nhằm ghi nhận sự thỏa thuận theo đúng ý chí của các đương
sự, còn nội dung giải quyết vụ án là do chính các đương sự tự do, tự nguyện thỏathuận với nhau, Tòa án chỉ được quyền từ chối công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự trong trường hợp nội dung thỏa thuận đó vi phạm điều cấm của luật, tráiđạo đức xã hội Nếu cho phép đương sự có quyền kháng cáo quyết định công nhận
sự thỏa thuận thì các đương sự có thể lạm dụng quyền quyết định và tự định đoạt đểchống lại sự thoả thuận của chính mình, điều này sẽ kéo dài quá trình tố tụng vàkhông đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả thuận của chính mình9
Thứ ba, việc quy định quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
có hiệu lực thi hành ngay giúp cho quá trình giải quyết vụ án, thi hành án nhanhchóng, hiệu quả hơn, góp phần giúp các bên đương sự tiết kiệm được thời gian,công sức, chi phí cho việc giải quyết vụ án, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xãhội và nâng cao hiệu quả trong hoạt động tố tụng của Tòa án Khi các bên đương sựthỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì vụ án đã được giải quyếttheo ý chí của các bên đã thỏa thuận và không cần phải giải quyết lại theo thủ tụcphúc thẩm, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể thi hành ánngay kể từ ngày được ban hành mà không cần phải chờ hết thời hạn kháng cáo,kháng nghị mới phát sinh hiệu lực
1.2.2 Về thủ tục xét lạ̣i quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự Thủ
tục xét lại quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự bao gồm: thủ tụcgiám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm, thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định củaHội đồng thẩm phán TANDTC Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tácgiả chỉ đề cập đến thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm, còn thủ tục đặc biệtxem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao - một thủtục mới được quy định trong BLTTDS 2015 - sẽ được trình bày ở những nghiêncứu khác trong tương lai
Khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 quy định: “Quyết định công nhận sự thỏa
thuận của cá́c đương sự chỉ có thể̂ ̉ bị khá́ng nghị theo thủ tục giá́m đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là̀ do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc vi phạ̣m điều cấm của luật, trá́i đạ̣o đức xã hội”.
Về nguyên tắc, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trên thực tế, bảo
9 Bùi Thị Huyền (2007), “Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự”, Tạ̣p chí́ Luật học,
(08), tr.23-30.
Trang 10đảm tính nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên, nếu quyết định của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục
tố tụng thì người có thẩm quyền kháng nghị xét lại quyết định đó theo các căn cứluật định nhằm bảo đảm việc giải quyết của Tòa án đúng pháp luật, bảo về quyền,lợi ích hợp pháp của các đương sự10 Khoản 2 Điều 213 BLTTDS đã quy định bacăn cứ kháng nghị giám đốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự11:
Thứ nhất, thỏa thuận đó trái với ý chí tự nguyện của đương sự (có căn cứ cho
rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, đe dọa, cưỡng ép) Nhầm lẫn được hiểu làviệc một bên hoặc các bên tham gia quan hệ tố tụng có sự hiểu sai về chủ thể, tínhchất của đối tượng hoặc nội dung của thỏa thuận và kết quả là thỏa thuận đó khôngđạt được mục đích mà một bên hoặc các bên hướng tới Đe dọa, cưỡng ép là hành vi
cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thỏa thuận nhằmtránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mìnhhoặc của người thân thích của mình Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc củangười thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượnghoặc nội dung của thỏa thuận nên đã xác lập thỏa thuận đó12
Thứ hai, thỏa thuận của các đương sự vi phạm điều cấm của luật Điều cấm
của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành
vi nhất định13
Thứ ba, thỏa thuận của các đương sự trái đạo đức xã hội Đạo đức xã hội là
những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận
và tôn trọng14
Tuy nhiên, quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 còn chưa rõ ràng, cóthể được hiểu theo nhiều cách khác nhau Đối với thủ tục giám đốc thẩm: Quanđiểm thứ nhất cho rằng căn cứ ở khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 là quy định riêng
về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ áp dụng đối với quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên phải ưu tiên áp dụng chứ không ápdụng các căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định chung tạikhoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015 Quan điểm thứ hai cho rằng quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đương sự là loại quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
10 Đại học Luật TP.HCM (2019), Giá́o trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia
Việt Nam, tr.440.
11 Nguyen Nam Hung (2018), “Can cu khang nghi giam đoc tham quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua
cac đuong su”, Tạp chí Kiểm sát, (21), tr.46-49.
Trang 11pháp luật và nếu thuộc các trường hợp được quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều
326 BLTTDS 2015 thì vẫn có thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Đối vớithủ tục tái thẩm cũng có hai quan điểm trái chiều: Quan điểm thứ nhất cho rằng quyđịnh tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 chỉ cho phép kháng nghị theo thủ tụcgiám đốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chứkhông được kháng nghị tái thẩm Quan điểm thứ hai cho rằng khoản 2 Điều 213BLTTDS 2015 không quy định rõ cho phép hay không cho phép kháng nghị theothủ tục tái thẩm, tức không có quy định cấm kháng nghị tái thẩm đối với quyết địnhnày nên vẫn có thể kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự nếu có các căn cứ theo Điều 352 BLTTDS 2015.Như vậy, quy định pháp luật còn chưa rõ ràng đã làm phát sinh nhiều vấn đềcần được giải quyết trong thực tiễn xét xử: Một là, chỉ được kháng nghị theo thủ tụcgiám đốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theocác căn cứ ở khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 hay còn có thể kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm theo các căn cứ ở điểm a, b, c khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015;Hai là, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị kháng nghịtheo thủ tục tái thẩm không nếu phát hiện các tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nộidung thỏa thuận của các đương sự
Kết luận Chương 1
Hiệu lực của Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có ý nghĩapháp lý quan trọng trong hoạt động tố tụng Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quyđịnh quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực thi hànhngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng có thể khángnghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn,lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Tuynhiên, quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTDS 2015 còn nhiều cách hiểu khác nhau,chưa thống nhất
Trang 122.1.1 Khá́ng nghị giá́m đốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự
Giám đốc thẩm là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lựcnhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 326 củaBLTTDS15 Về bản chất, kháng nghị giám đốc thẩm khi có vi phạm nghiêm trọngthủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng củamình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quyđịnh của pháp luật Sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng xuất phát từ các cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đãkhông thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, kết luận trongbản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc cósai lầm trong việc áp dụng pháp luật gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, không đảm bảo quá trình giải quyết vụ án đúng pháp luật
Xét về hình thức, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự làquyết định của Tòa án, mang tính chất quyền lực nhà nước, có hiệu lực bắt buộc ápdụng, còn xét về nội dung thì quyết định này ghi sự thỏa thuận của các đương sự,mang bản chất giao dịch dân sự Có lẽ, chính vì bản chất đặc biệt của nó mà các nhàlập pháp đã dành một điều khoản riêng để quy định thủ tục giám đốc thẩm đối vớiloại quyết định này và dường như các nhà lập pháp đang “cố gắng” quy định căn cứkháng nghị giám đốc thẩm theo hướng do sự vi phạm trong nội dung thỏa thuận củacác đương sự làm cho sự thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý để Tòa án có cơ hộixem xét lại sự thỏa thuận đó, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sư chứkhông phải do sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Bởi lẽ, suy cho cùng quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự xuất phát từ chính kết quả do cácđương sự thỏa thuận và thực hiện Như vậy, để thỏa thuận có hiệu lực thì phải tuântheo điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS
201516 BLTTDS 2015 cũng quy định các điều kiện để thỏa thuận của các đương sự
có hiệu lực tương tự như BLDS 2015 dưới hình thức là những nguyên tắc tiến hành
16 Lữ Cẩm Nhung, “Về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm”, [https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/ve-cong-nhan-su-thoa-thuan-cua-cac-duong-su-o-giai-doan-chuan-bi- xet-xu-so-tham] (truy cập ngày 01/11/2021).
Trang 13hòa giải17 Các nhà lập pháp cho rằng đây là những căn cứ vi phạm nghiêm trọngnguyên tắc hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 205 BLTTDS 2015 và là căn cứ
để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏathuận của các đương sự, khoản 2 Điều 213 chính là bộ phận, là một tập hợp connằm trong tổng thể dẫn đến quy định tại khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015 hay nóicách khác, khoản 2 Điều 213 là quy định mở rộng của khoản 1 Điều 326 BLTTDS
201518 Tuy nhiên, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm ở khoản 2 Điều 213 BLTTDS
2015 dường như không phù hợp với tính chất thủ tục giám đốc thẩm Bởi bản chấtcủa thủ tục giám đốc thẩm là do sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, tức viphạm về mặt hình thức, trình tự, thủ tục giải quyết vụ án chứ không phải từ sự viphạm nội dung, các tình tiết, sự kiện trong vụ án Trong quá trình giải quyết vụ án,Tòa án chỉ có vai trò tổ chức, tạo điều kiện để các bên hòa giải và công nhận lại kếtquả sự thỏa thuận của các bên bằng một quyết định có giá trị pháp luật còn việc cácđương sự thỏa thuận như thế nào là do các bên tự quyết định, Tòa án không canthiệp vào ý chí, nội dung thỏa thuận của các bên mà Tòa án chỉ có quyền từ chốicông nhận khi sự thỏa thuận đó vi phạm điều cấm của luật hay trái đạo đức xã hội.Ngoài ra, pháp luật quy định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu cócăn cứ cho rằng sự thỏa thuận bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc vi phạm điều cấmcủa luật, trái đạo đức xã hội thì vấn đề đặt ra là tiêu chí nào xác định đương sự thỏathuận trái với ý chí của họ Hiện nay, pháp luật chưa quy định rõ về điều này nênviệc chứng minh thỏa thuận trái với ý chí tự nguyện của đương sự là rất khó khăn.Nhiều trường hợp quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã đượcban hành đúng pháp luật và đúng tình tiết, sự kiện tại thời điểm thỏa thuận nhưngsau đó đương sự lại cho rằng mình bị ép buộc, không tự nguyện tham gia thỏa thuậnnhằm mục đích gây bất lợi cho đương sự khác trong vụ án, lợi dụng nguyên tắc tựnguyện thỏa thuận để từ chối việc thi hành quyết định, gây khó khăn trong quá trìnhgiải quyết vụ án Bên cạnh đó, việc xác định thế nào điều cấm của luật và trái đạođức xã hội hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều, việc áp dụng pháp luật đốivới vấn đề này vẫn chưa thống nhất19
“Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;
b) Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”
18 Nguyen Nam Hung (2018), “Can cu khang nghi giam đoc tham quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua
cac đuong su”, Tạp chí Kiểm sát, (21), tr.46-49.
19 Lữ Cẩm Nhung, “Về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm”, [https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/ve-cong-nhan-su-thoa-thuan-cua-cac-duong-su-o- giai-doan-chuan-bi-xet-xu-so-tham] (truy cập ngày 01/11/2021).
Trang 14Mặt khác, khi sử dụng từ “chỉ” trong quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS
2015 đã hạn chế quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có các căn cứ tạikhoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015 Quy định này đã giới hạn căn cứ kháng nghị theothủ tục giám đốc thẩm chỉ xuất phát từ sự vi phạm nội dung thỏa thuận chứ khôngđược kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vì lý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng Điều này là không hợp lý bởi lẽ quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự vẫn có thể bị vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình giảiquyết vụ án ngoài những căn cứ ở khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 Ví dụ: trongquá trình giải quyết vụ án, Tòa án không triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan vào tham gia tố tụng hoặc thủ tục hòa giải không đúng pháp luật hoặc quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có nội dung khác với biên bản hòagiải thành,…nhưng Tòa án vẫn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự Nếu chỉ dựa vào cách hiểu theo câu từ khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015thì dường như không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trongtrường hợp này vì thỏa thuận không trái ý chí các bên, không vi phạm điều cấm củaluật, không trái đạo đức xã hội nhưng lại có sai lầm trong giải quyết vụ án, ảnhhưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và quyền, lợi ích hợp pháp củangười thứ ba Do đó, không nên hạn chế căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốcthẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ bao gồmnhững căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015
2.1.2 Khá́ng nghị tá́i thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự
Quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 quy định chỉ kháng nghị giámđốc thẩm mà không quy định rõ về kháng nghị tái thẩm đã làm làm phát sinh nhiềuquan điểm trái chiều về khả năng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Theo quy định của BLTTDS 2015, tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị khi có những tình tiết mới được phát hiệnlàm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sựkhông biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó20 Thủ tục tái thẩm khác giámđốc thẩm ở chỗ̂ ̃ trong trường hợp này các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã làm hết trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án và không có vi phạmpháp luật nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng, các đương sự cũng đã xuất trình đầy
đủ các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, nhưng sau khi bản án, quyếtđịnh của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì mới phát hiện có tình tiết mới có ý
20 Điều 351 BLTTDS 2015.
Trang 15nghĩa quyết định đến việc thay đổi một cách cơ bản nội dung của vụ án mà trước đó
cả Tòa án cũng như các bên đương sự đều không thể biết được21
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự là một loại quyết địnhcủa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và có thể là đối tượng bị kháng nghị tái thẩmnếu sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật thì phát hiện những tình tiết mới làmthay đổi căn bản nội dung của sự thỏa thuận của các đương sự mà đương sự khôngthể biết được khi thỏa thuận giải quyết vụ án Nói cách khác, tại thời điểm cácđương sự thỏa thuận với nhau họ không hề biết có sự tồn tại của tình tiết quan trọngnày nên mới thỏa thuận dựa trên những tình tiết, sự kiện tồn tại ở thời điểm đó Vìvậy, khi đã phát hiện có tình tiết, sự kiện mới phát sinh và quan trọng, nếu cácđương sự tiếp tục thực hiện thỏa thuận cũ thì không còn đúng với bản chất củaquyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và gây ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.Ngoài ra, pháp luật quy định về đối tượng bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ởĐiều 351 BLTTDS 2015 cũng không có quy định nào loại trừ quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự nên quyết định này vẫn được xem là loại quyết định
có thể bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm nếu có những căn cứ theo luật định22
Ví dụ: Trong vụ án dân sự về tranh chấp thừa kế, tại Tòa án những người thừa
kế đã thỏa thuận với nhau về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật của cha là ông
A để lại và Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Tuynhiên, 06 năm sau kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, một người con riêngkhác của của ông A là B xuất hiện và yêu cầu kháng nghị tái thẩm Quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đương sự Sự xuất hiện của B chính là tình tiết quantrọng mới được phát hiện mà các người thừa kế di sản của ông A không thể biếtđược trong quá trình thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Trong trường hợp này nếu cho rằng chỉ có thể kháng nghị theo thủ tục giámđốc thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì khôngthể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của B được Bởi lẽ, quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đồng thừa kế không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tốtụng, không vi phạm sự thỏa thuận tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội thì không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốcthẩm đối với quyết định này Mặt khác, sau 06 năm kể từ ngày quyết định có hiệulực pháp luật, B mới phát hiện mình không có tên trong danh sách thừa kế dẫn đến
21 Nguyễn Minh Hùng, “Bàn thêm về thẩm quyền xét xử tái thẩm trong vụ án dân sự”,
[https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-them-ve-tham-quyen-xet-xu-tai-tham-trong-vu-an-dan-su? fbclid=IwAR0cDQzssf5U64_1CkE9Ch4h5LWhEGToNoD7WbkCtgYcwPvfhsU8RWfiBMQ] (truy cập ngày 01/11/2021).
22 Pham Thi Thuy (2020), “Khang nghi tai tham đoi voi quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua cac đuong
su”, Tạ̣p chí́ Khoa học phá́p lý, (08), tr.51-59.
Trang 16quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại nghiêm trọng nhưng đã hết thời hạnkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì chỉ có thủ tục tái thẩm mới bảo vệ đượcquyền, lợi ích hợp pháp cho B.
Như vậy, việc cho phép kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp Đối với các trường hợp phátsinh tình tiết mới nhưng thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đã hết thìchỉ có thủ tục tái thẩm mới khôi phục lại được quyền lợi cho họ Mặt khác, đối vớicác thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội thì không phảiđương sự nào cũng có điều kiện để nhận biết vi phạm và khiếu nại, do đó, dẫn đếnrất lâu sau khi quyết định công nhận trên có hiệu lực mới phát sinh tranh chấp vàkhông thi hành án được nên thủ tục tái thẩm có thể được coi là “cứu cánh” trongtrường hợp này23 Do đó, không nên hạn chế quyền kháng nghị tái thẩm đối vớiquyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
2.2 Thực tiễn xét xử
Thực tiễn xét xử, Tòa án đã theo hướng chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm
do có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giải quyết vụ án dân sự chứkhông chỉ cho phép kháng nghị giám đốc thẩm dựa vào các căn cứ tại khoản 2 Điều
213 BLTTDS 2015 Bên cạnh đó, Tòa án cũng chấp nhận kháng nghị tái thẩm đốivới quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự do có tình tiết mới phátsinh làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà các đương sự không thể biết được trongquá trình thỏa thuận giải quyết vụ án
Vụ án thứ nhất24:
Ông Nguyễn Xuân T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bàBùi Thị U Ông T, bà U không yêu cầu giải quyết con chung và tài sản chung Tòa
án đã ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
Tòa Giám đốc thẩm nhận định: “Tòa á́n nhân dân huyện H, tỉnh HT thụ lý,
giải quyết vụ á́n đến phiên hòa giải lần 2 ngà̀y 16/01/2017 lập biên bản ghi nhận sự
tự nguyện ly hôn và̀ hòa giải thà̀nh của cá́c đương sự đúng theo trình tự, thủ tục quy định tạ̣i Bộ luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, ngà̀y 18/01/2017 (03 ngà̀y kể̂ ̉ từ ngà̀y lập biên bản hòa giải thà̀nh) bà̀ U có đơn xin thay đổi ý kiến về việc thuận tình ly hôn, bà̀ không đồng ý ly hôn với ông T Tòa á́n nhân dân huyện H đã nhận đơn thay đổi
ý kiến của bà̀ và̀o ngà̀y 19/01/2017 nhưng vẫn căn cứ biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và̀ hòa giải thà̀nh của cá́c đương sự lập ngà̀y 16/01/2017 để̂ ̉ ban hà̀nh Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và̀ sự thỏa thuận của cá́c đương sự số
23 Nguyen Nam Hung (2018), “Can cu khang nghi giam đoc tham quyet đinh cong nhan su thoa thuan cua cac
đuong su”, Tạp chí Kiểm sát, (21), tr.46-49.
24 Quyết định giám đốc thẩm số 26/2017/HNGĐ-GĐT ngày 24/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Trang 1704/2017/QĐST-HNGĐ ngà̀y 24/01/2017 là̀ vi phạ̣m nghiêm trọng thủ tục tố tụn g…
Vi phạ̣m của Tòa á́n đã là̀m cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình dẫn đến quyền, lợi í́ch hợp phá́p của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của phá́p luật”.
Trong vụ án này, Tòa án đã chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm do có sự viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể Tòa sơ thẩm đã ra quyết định công nhậncủa các đương sự không đúng với ý chí của đương sự, vi phạm thủ tục hòa giải làmcho bà U không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà U
Tòa Giám đốc thẩm nhận định: “Quá́ trình giải quyết tranh chấp Hợp đồng
hợp tá́c đầu tư kinh doanh - khai thá́c giữa Công ty T với Công ty N, Tòa á́n nhân dân quận H chưa là̀m rõ cá́c tà̀i sản trên của Công ty N có bị cầm cố, thế chấp hay không, không phá́t hiện được việc Công ty N đã thế chấp cho Ngân hà̀ng, từ đó không đưa Ngân hà̀ng và̀o tham gia tố tụng là̀ vi phạ̣m nghiêm trọng thủ tục tố tụng, là̀m ảnh hưởng đến quyền, lợi í́ch hợp phá́p của Ngân hà̀ng”.
Trong vụ án này, Tòa án đã chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm do có sự viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể Tòa sơ thẩm đã không đưa Ngân hàngvào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làm ảnhhưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng
Vụ án thứ ba26:
Bà Huỳnh Thị Thu N khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phan Phước V Tòa án đã
ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
Tòa Tái thẩm nhận định: “Tạ̣i Phiếu kết quả xét nghiệm ADN ngà̀y 27/7/2018,
Trung tâm công nghệ di truyền Việt Nam kết luận: "Mẫu ADN ký hiệu của Nguyễn Ngọc T và̀ mẫu ADN ký hiệu Huỳnh Ái Ng có quan hệ huyết thống Cha – Con, với tần suất 99,9999965%" Đây là̀ chứng cứ chứa đựng tình tiết mới mà̀ trong quá́ trình
tố tụng vụ á́n “Xin ly hôn” nêu trên, Tòa á́n cấp sơ thẩm và̀ cá́c đương sự không biết, nên đã xá́c định chá́u Phan Huỳnh Ái Ng (Huỳnh Ái Ng) là̀ con ruột của Ông Phan Phước V Do đó, cần hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly
25 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2021/KDTM-GĐT Ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
26 Quyết định tái thẩm số 02/2021/HNGĐ-TT ngày 12/01/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh.
Trang 18hôn và̀ thỏa thuận của cá́c đương sự số 330/2013/QĐST-HNGĐ ngà̀y 29/11/2013 của Tòa á́n nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An để̂ ̉ giải quyết lạ̣i sơ thẩm theo đúng quy định của phá́p luật, đối với phần xá́c định chá́u Phan Huỳnh Ái Ng là̀ con chung của bà̀ N, ông V”.
Trong vụ án này, Tòa án đã chấp nhận kháng nghị tái thẩm do phát hiện tìnhtiết mới là cháu Ng không phải con ruột của ông V nhưng tại thời điểm các đương
sự thỏa thuận ly hôn không phát hiện được, tình tiết này làm thay đổi cơ bản vụ ánnên cần phải giải quyết vụ án lại đối với phần xác định cháu Phan Huỳnh Ái Ng làcon chung của bà N, ông V
Vụ án thứ tư27:
Ông Phan Văn H vay Ngân hàng, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 07 thửađất cấp cho ông Phan Văn H Do ông H không trả nợ đúng hạn nên Ngân hàng Vkhởi kiện Tòa án đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: ÔngPhan Văn H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V Trường hợp ông H khôngthanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng cóquyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp
Tòa Tái thẩm nhận định: “Xét thấy, khi Tòa á́n nhân dân huyện C giải quyết
vụ á́n “Tranh chấp hợp đồng tí́n dụng” giữa Ngân hà̀ng V với ông Phan Văn H và̀ ban hà̀nh Quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự số 03/2019/QĐST-
DS ngà̀y 25/01/2019 thì không biết 07 thửa đất mà̀ ông Phan Văn H thế chấp vay tiền V - Chi nhá́nh C không phải tà̀i sản của ông H mà̀ do Hà̀ Thị T lừa đảo chiếm đoạ̣t của vợ chồng cụ Siu Ch nhờ H đứng tên thế chấp vay tiền cho T (H sau nà̀y thừa nhận quyền sử dụng đất 07 thửa đất không phải của mình) Do đó, nội dung Cá́o trạ̣ng số 54/CT-VKS-P1 ngà̀y 22/6/2020 của Viện trưởng Viện Kiể̂ ̉m sá́t nhân dân tỉnh Gia Lai là̀ tình tiết mới được phá́t hiện là̀ căn cứ để̂ ̉ khá́ng nghị, xét xử theo thủ tục tá́i thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự
số 03/2019/QĐST-DS ngà̀y 25/01/2019 của Tòa á́n nhân dân huyện C”.
Trong vụ án này, Tòa án đã chấp nhận kháng nghị tái thẩm do phát hiện tìnhtiết mới là cáo trạng của Viện kiểm sát xác định quyền sử dụng đất thế chấp khôngphải của H mà do T lừa đảo chiếm đoạt của cụ Siu Ch nhưng tại thời điểm thỏathuận giải quyết vụ án, do Ngân hàng V bị ông H lừa dối nên đã thỏa thuận với ông
H Tình tiết mới này đã làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, làm cho thỏa thuận cácbên không còn đúng với bản chất của vụ việc, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi íchhợp pháp của Ngân hàng V và cụ Siu Ch Tòa án đã xác định đây là căn cứ khángnghị theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự
Quyết định tái thẩm số 24/2021/DS-TT Ngày 01/6/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Trang 192.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự
Thứ nhất, sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 theo hướng
bỏ từ “chỉ” để tránh gây hiểu nhầm rằng quyết định công nhận sự thỏa thuận chỉ cóthể bị kháng nghị theo các căn cứ do sự thỏa thuận trái với ý chí của các đương sự,
vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội đồng thời mở rộng căn cứ khángnghị giám đốc thẩm đối với quyết định này trong trường hợp có sự vi phạm nghiêm trọngthủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và người thứba
Khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015 được sửa lại như sau: “Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của cá́c đương sự có thể̂ ̉ bị khá́ng nghị theo thủ tục giá́m đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là̀ do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc vi phạ̣m điều cấm của luật, trá́i đạ̣o đức xã hội hoặc vi phạ̣m nghiêm trọng thủ tục tố tụng là̀m cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi í́ch hợp phá́p của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của phá́p luật.”
Thứ hai, cần có các văn bản dưới luật quy định rõ về kháng nghị tái thẩm đối
với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự để góp phần tạo sự thốngnhất áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử Tòa án, tránh gây ra các cách hiểukhác nhau dựa vào câu chữ quy định tại khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015
Thứ ba, kiến nghị TANDTC ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về xác định
rõ ràng sự tự nguyện thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, quyđịnh thời hạn hợp lý để các đương sự có quyền khiếu nại nếu cho rằng thỏa thuận viphạm sự tự do, tự nguyện, tránh trường hợp các đương sự lạm dụng quyền quyếtđịnh và tự định đoạt để chống lại sự thỏa thuận chính mình, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp của các đương sự khác và người thứ ba trong vụ án dân sự, gây khókhăn cho quá trình giải quyết vụ án
Thứ tư, kiến nghị TANDTC ban hành văn bản hướng dẫn về xác định hành vi
vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội để tránh gây ra các quan điểm tráichiều, nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án và ápdụng pháp luật thống nhất trong thực tiễn xét xử
Kết luận Chương 2
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chưa quy định rõ về căn cứ kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm và khả năng xét lại theo thủ tục tái thẩm đối với quyếtđịnh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên còn nhiều bất cập, vướng mắctrong áp dụng pháp luật Thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án vẫn chấp nhận kháng