Với quan điểm cho rằng Minh Trị Duy tân là nền quân chủ chuyên chế mọi quyền lực nằm dưới tay của Thiên Hoàng, theo ý kiến của cá nhân thì quan điểm nay chưa toàn diện vì đây là góc nhìn
Trang 1KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
- -CÁC GIAI ĐOẠN LỚN CỦA LỊCH SỬ
PHƯƠNG ĐÔNG MINH TRỊ DUY TÂN: LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
GVHD: PGS.TS Nguyễn Tiến Lực HVCH: Dương Thị Hương Ly MSHV: 19831060110
LỚP: CA1901
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
1
Trang 31 Lời mở đầu
Kết luận
3
Trang 41 Lời mở đầu
Từ đầu thế kỉ XIX ở các nước Châu Âu và Mỹ đã diễn ra phong trào xâm chiếm thuộc địa nhằm vơ vét tài nguyên phục vụ cho cuộc cách mạng sản xuất và các nước Châu Á trở thành miếng mồi béo bở của các nước Âu-Mỹ Do đó, đến giữa thế kỉ XIX cũng giống như hầu hết các nước Châu Á khác, Nhật Bản cũng đang đứng trước nguy
cơ trở thành thuộc địa của thực dân Âu-Mĩ Triều đại Tokugawa ở Nhật Bản sau một thời gian khá dài thành công trong việc xây dựng chế độ phong kiến và phát triển kinh
tế thì cho đến giữa thế kỉ 19, bắt đầu đi vào con đường suy vong Trước sự suy tàn của chế độ phong kiến cũng như nguy cơ đất nước trở thành thuộc địa của thực dân Âu-Mĩ,
ở Nhật Bản đã diễn ra cuộc cách mạng nhằm thay đổi đất nước Và kết quả thu được là Nhật Bản đã trở thành cường quốc ở Châu Á Và chính công cuộc Minh Trị Duy tân đã đem lại thành quả lớn lao đó
2 Về thuật ngữ Minh Trị Duy tân (明明明明)
Minh Trị Duy tân là khái niệm dịch từ cụm từ Meiji Ishin của tiếng Nhật Minh Trị là niên hiệu của Thiên Hoàng Mutsuhito, vị Thiên Hoàng thứ 122 của Nhật, trị vì từ
1867 đến 1912 “Duy”() trong chữ Hán có nghĩa là ràng buộc, là duy trì, và cũng có nghĩa là là bảo vệ, là ủng hộ “Tân”() có nghĩa là mới Duy tân có nghĩa là ủng hộ cái mới, thực thi cái mới, bảo vệ cái mới
Tuy các nước trong khu vực văn hoá Hán hiểu nghĩa Duy tân giống nhau nhưng gặp khó khăn trong công tác dịch thuật sang tiếng Anh Do đó các học giả Âu-Mỹ, Nga, Trung Quốc…đề nghị giữ nguyên cách viết Meiji Ishin như trong tiếng Nhật là
Xu hướng dùng nguyên từ Meiji Ishin cũng bắt đầu phổ biến trong giới nghiên cứu Minh Trị Duy tân trên thế giới từ những năm 1980
Theo wikipedia cũng như việc phân tích thuật ngữ nói trên, nói tóm lại Minh Trị Duy tân là chuỗi các sự kiện hay cách mạng dẫn đến sự chuyển biến trên phạm vi rộng
Trang 5lớn, đánh dấu bước chuyển giao từ chế độ phong kiến theo chế độ bakuhan thành cường quốc duy nhất ngoài Âu - Mỹ
3 Tính chất của Minh Trị Duy Tân
Minh Trị Duy tân là sự kiện lớn được người dân Nhật yêu thích và sự quan tâm của giới nghiên cứu không chỉ ở Nhật mà trên thế giới Nhưng cho đến nay về các vấn
đề như khái niệm, tính chất, phân kỳ vẫn chưa đi đến sự thống nhất Dựa trên Minh Trị Duy tân và Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Tiến Lực có ít nhất 3 trường phái lớn : Phục cổ, cách mạng, chuỗi cải cách
Trường phái thứ nhất coi Minh Trị Duy tân là phục cổ Tiêu biểu cho trường phái
này là Katsubunsha, Inoue Kiyoshi và Hattori Shiso cũng đều cho rằng Minh Trị Duy tân là nền chuyên chế tuyệt đối của Thiên Hoàng Inoue gọi đó là “chính quyền chuyên chế tuyệt đối”, còn Hattori thì coi Minh Trị Duy tân là quá trình chuyển biến từ “một chế độ phong kiến thuần tuý” sang “chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối”
Với quan điểm cho rằng Minh Trị Duy tân là nền quân chủ chuyên chế mọi quyền lực nằm dưới tay của Thiên Hoàng, theo ý kiến của cá nhân thì quan điểm nay chưa toàn diện vì đây là góc nhìn một phía về mặt chính trị, chưa nhắc đến vai trò của các nhân tố khác
Trường phái thứ hai coi Minh Trị Duy tân là một cuộc cách mạng Vẫn chưa có
sự thống nhất về tính chất của các cuộc cách mạng này Có một vài ý kiến tiêu biểu đó là: Minh Trị Duy tân mang tính chất là Cách mạng dân tộc; Cách mạng văn hóa nguyên hình (cách mạng toàn diện đầu tiên); Cách mạng tư sản chưa hoàn thành (chưa triệt để)
Cách mạng dân tộc: Nhà sử học Anh W.G Beasley cho rằng Minh Trị Duy tân cuộc cách mạng dân tộc có nhiệm vụ là thi hành chính sách mở cửa và duy tân đất nước Minh Trị Duy tân, về đối ngoại là bảo vệ độc lập dân tộc và về đối nội là cải cách, cải biến xã hội
Trang 6Cách mạng toàn diện: Nếu F.B.Gibney cho rằng đây là cuộc cách mạng văn hoá nguyên hình và là cuộc cách mạng toàn diện đầu tiên vì là lần đầu tiên từ cuộc cách mạng về chính trị đã làm chuyển biến về văn hoá, dẫn tới cận đại hoá đất nước Thì Kuwabata Takeo lại cho rằng đây là cuộc cách mạng văn hóa do Nhật bản đã chủ động tiếp nhận nền văn minh phương Tây dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc Còn Piotr Fedoseev, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ), phê phán quan điểm chỉ coi Minh Trị Duy tân là cách mạng văn hoá, cho là cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá
Cách mạng tư sản chưa hoàn thành: Igor Latishev, Takeda Kiyoko, Tanaka Akira, Chu Nhất Lương hay ở Việt Nam đều có quan điểm rằng đây là cuộc cách mạng tư sản chưa hoàn thành hay chưa triệt để
Dù vẫn chưa có sự thống nhất về tính chất của các cuộc cách mạng nhưng các ý kiến trên đều có chung quan điểm chỉ ra bản chất của Minh Trị Duy tân đã làm chuyển biến về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa
Ở đây có hai ý kiến là triệt để và không triệt để hay toàn diện và chưa hoàn thành
Sở dĩ có ý kiến trái ngược nhau là do tuy góc nhìn và sự ảnh hưởng của từng người Đối với ý kiến Minh Trị Duy tân chưa triệt để là bởi vì do ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác xít, nếu người đứng đầu (Vua) hay chế độ lúc bấy giờ chưa bị lật đổ hoàn toàn thì
đó là chưa triệt để
Trường phái thứ ba coi Minh Trị Duy tân là chuỗi cải cách Vào những năm 1980
giới nghiên cứu Nhật bản không dùng từ cách mạng mà dùng từ duy tân hay cách tân (kasshin) để chỉ chuỗi cải cách thời Minh Trị Cải cách ở đây là sự kế thừa của những cải cách vào cuối thời Tokugawa bakufu, đặc biệt là những cải cách thời Tempo (1830-1844).Các nhà nghiên cứu hàng đầu về Minh Trị Duy tân của Nhật Bản hiện nay như Toyama Shigeki, Ishii Kanji, Tanaka Akira, Nakamura Satoru sử dụng công thức là
“vương chính phục cổ” + một chuỗi những cải cách = “phú quốc cường binh”
Trang 7Còn trường phái thứ tư coi Minh Trị Duy tân là vừa cách mạng vừa là cải cách.
Minh Trị Duy tân có nhiều giai đoạn, trước hết là cách mạng lật đổ thể chế bakufu và sau đó là chuỗi những cải cách nhằm biến Nhật từ một nước phong kiến sang một nước
tư bản chủ nghĩa
4 Vấn đề phân kỳ Minh Trị Duy tân
4.1 Bắt đầu cải cách Minh Trị Duy tân
Về vấn đề phân kỳ Minh Trị Duy tân, quan điểm cho rằng thời kỳ này bắt đầu bằng cải cách thời Tempo (Thiên Bảo) vào những năm 1830-40 và quan điểm cho rằng bắt đầu bằng việc mở cửa (kaikoku) vào năm 1853
Toyama trong Minh Trị Duy tân và Hiện đại (1968) và cuốn Minh Trị Duy tân, bản mới (1972), đã tự phê phán quan điểm của mình về thời điểm bắt đầu của Minh Trị Duy tân trong cuốn Minh Trị Duy tân, bản 1952 và đính chính rằng Minh Trị Duy tân khởi đầu vào năm 1853
Mori Toshihiko cho rằng Minh Trị Duy tân là quá trình chuyển biến từ xã hội phong kiến (XHPK) lên xã hội tư bản (XHTB) mà trung tâm là quá trình cải biến từ một nhà nước Baku Han thành quốc gia tư bản theo chế độ Thiên Hoàng Mori coi Minh Trị Duy tân bắt đầu từ 1853, năm Nhật Bản “mở cửa” đến năm 1889, năm ban hành Hiến pháp Minh Trị
Từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, chế độ Tokugawa Bakufu rơi vào khủng hoảng toàn diện và ngày càng sâu sắc Biểu hiện đầu tiên của sự khủng hoảng đó là nền kinh tế phong kiến sụp đổ - võ sỹ ở nông thôn và sự nổi dậy của nông dân ở khắp nơi + Trong nông nghiệp: Chế độ ruộng đất theo kiểu phong kiến - võ sĩ ở các địa phương suy yếu, chế độ tô thuế nặng nề khiến người nông dân phụ thuộc vào thương nhân, nộp tô thuế 50-60% sản phẩm Hiện tượng mua bán ruộng đất gia tăng bất chấp lệnh cấm mua bán ruộng đất của Bakufu
Trang 8+ Kinh tế hàng hóa của các đô thị Nhật Bản phát triển mạnh: Dân số sống ở thành thị khoảng 5 triệu người, chiếm khoảng 16 -17% tổng dân số Các thành phố liên kết chặt chẽ với nhau bằng đường bộ lẫn đường biển Trong đó 3 thành phố lớn Edo – Kyoto - Osaka phát triển mang tính toàn quốc Các ngành kinh tế như thương nghiệp, thủ công nghiệp giữ vai trò chủ đạo Hình thành tầng lớp thị dân (chomin) bao gồm 2 đẳng cấp: thợ thủ công và thương nhân
+ Mâu thuẫn giữa Tokugawa Bakufu với 3 đẳng cấp nông, công và thương: Sự phát triển của đẳng cấp công thương cùng với nền kinh tế hàng hóa mang tính chuyên môn hóa đã làm nảy sinh mầm mống tư bản chủ nghĩa trong lòng phong kiến Nhật Bản Chính quyền Baufu kiểm soát gắt gao hoạt động, sử dụng quyền lực để tước đoạt tài sản Tầng lớp phú nông là tầng lớp địa chủ mới, vừa kinh doanh mang tính chất phong kiến vừa có khuynh hướng phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa cũng chịu sự chèn ép, kìm hãm từ phía chính quyền Bakufu Những cuộc bạo động của người dân thành thị cùng với những cuộc khởi nghĩa của nông dân đã giáng một đòn mạnh mẽ vào bộ máy thống trị Bakufu, làm nảy sinh những biến đổi lớn trong xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ
+ Thoái hóa và bần cùng của đẳng cấp sĩ: Đầu thế kỉ XIX, do nguồn lực tài chính của Bakufu bị suy yếu, bổng lộc võ sỹ ngày càng thấp so với mức sống phát triển lúc bấy giờ Võ sĩ không đủ chi tiêu, nghèo túng, nợ nần (võ sỹ phải bán lúa gạo, đồ gia bảo, kiếm) Không ít võ sỹ phải bỏ chủ đi lang thang và trở thành ronin, các Han phải ban tước võ sỹ cho thương nhân Việc này dẫn đến giảm sự tôn quý của các võ sỹ và mất dần giá trị của nó
Chính quyền Tokugawa Bakufu cũng đã tiến hành các cuộc cải cách để phục lại
uy tín của mình, trong đó có cuộc cải cách Tempo (Thiên Bảo) kéo dài 2 năm 1841 đến
1843, đã khuyến khích tầng lớp võ sỹ lối sống tiết kiệm, khôi phục làng mạc nông nghiệp, chống sự nhập cư ồ ạt lên thành thị, giải tán các phường hội của thương nhân
và thợ thủ công… Tuy nhiên, cải cách bị thất bại thảm hại
Trang 9Từ cuối TK XVIII đến đầu TK XIX, Nhật Bản rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc, diễn ra tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội,… do sự suy yếu của chính quyền Bakufu cũng như sự bất lực của nó trong việc giải quyết mâu thuẫn sâu sắc giữa nó và các tầng lớp trong xã hội Đó là mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất cũ - phong kiến với quan hệ sản xuất mới – tư bản chủ nghĩa Sau thất bại của cuộc cải cách Tempo chứng
tỏ sự bất lực của chính quyền Bakufu trong giải quyết khủng hoảng toàn diện và báo hiệu sự thay đổi lớn lao trong Nhật Bản Xã hội lúc đó chưa có sự cải biến vì Nhật Bản
và các nước phương Đông vẫn thực thi chính sách “đóng cửa” Mặc dù Nhật Bản được các nước phương Tây như Anh, Hà Lan, Nga cử phái đoàn đòi chính quyền Bakufu
mở cửa cho các thương thuyền của họ vào Nhật Bản buôn bán, nhưng chính quyền lại tăng cường phòng thủ ven biển bảo vệ đất nước Chính vì vậy, các nước phương Tây buộc phải dùng biện pháp quân sự để buộc chính quyền Bakufu Togawa phải mở cửa đất nước Và từ sau cải cách Tempo mới chỉ bước kết thúc của khủng hoảng xã hội Nhật Bản, chưa thể là cột mốc để khởi đầu Minh Trị Duy tân mà suy từ các điều kiện quốc tế thì cột mốc ấy mới mở đầu từ việc chiến hạm M.Perry đến Nhật năm 1853
4.2 Sự kết thúc của Minh Trị Duy tân
Thời điểm kết thúc thì có nhiều quan điểm khác nhau từ thời kỳ “ phế Han lập Ken (1871) đến chiến tranh Nhật – Thanh (1894 -1895)
Toyama trong cuốn Minh Trị Duy tân (bản 1951) cũng cho rằng Minh Trị Duy tân
mở đầu bằng cải cách Tempo nhưng kết thúc bằng chiến tranh Tây Nam năm 1877 Horie trong cuốn Cơ cấu xã hội của Minh Trị Duy tân cho rằng Minh Trị Duy tân
mở đầu bằng năm Tempo thứ 8 và kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa nông dân Chichibu Nakamura trong cuốn Chủ nghĩa tư bản thế giới và Minh Trị Duy tân thì cho rằng khởi đầu bằng cải cách Tempo và kết thúc bằng việc ban hành Hiến pháp và triệu tập Quốc hội, tức vào khoảng 1889 – 1890
Trang 10Cuốn Lịch sử Duy tân, tác phẩm tiêu biểu cho quan điểm Vương chính phục cổ coi Minh Trị Duy tân khởi đầu vào năm 1853 và kết thúc vào năm 1871, sau khi phát lệnh “phế Han lập Ken”
Nhà sử học người Anh W.G Beasley trong cuốn The Meiji Restoration cũng có chung cách phân kì này
Osatake Takeki thì cho rằng phải đến khi những ảnh hưởng của chế độ phong kiến bị tiêu diệt hoàn toàn, tức là vào năm Minh Trị 18 (1885), khi chế độ nội các thành lập thì Duy tân mới kết thúc
Hattori coi Minh Trị Duy tân là sự kết hợp của hai quá trình: quá trình hình thành chủ nghĩa quân chủ chuyên chế và quá trình cách mạng dân chủ chủ nghĩa và thời gian
mở đầu là 1853 và kết thúc là 1889, khi ban hành Hiến pháp Minh Trị
Sự kiện chính quyền Bakufu kí hiệp ước với Mĩ và các nước đế quốc khác đã dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ không chỉ từ các Daimyo mà cả từ phía triều đình Và đây cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phong trào “Tôn Vương nhương Di” Việc Bakufu kí kết các hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc phương Tây, đánh dấu bắt đầu thời kì mở cửa của Nhật Bản sau hơn 2 thế kỉ đóng cửa không chỉ do các yếu tố bên ngoài Sự nhượng bộ của Bakufu trước các thế lực phương Tây cũng là kết quả của những thất bại trong việc giải quyết những khủng hoảng đang ngày càng gia tăng trong nước Khi các nước phương Tây chiếm được một số nước trong khu vực châu Á Chính sự suy yếu về uy thế chính trị, về thực lực tài chính và quân sự đã dẫn đến sự do dự, thiếu dứt khoát của Bakufu trước mối đe doạ từ phương Tây Trước sự thách thức của phương Tây, ngay trong chính quyền Bakufu đã có sự phân chia làm hai phe: phe chủ chiến và phe nghị hoà Do không tìm ra được cách giải quyết nào thích hợp hơn nên cuối cùng Bakufu đã phải hỏi ý kiến của triều đình Thiên Hoàng và các Daimyo Điều này thể hiện sự bất lực của chính quyền Tokugawa về khả năng giải quyết vấn đề đối nội và đối ngoại, là tiếng chuông báo cho sự cáo chung Do
áp lực của các nước phương Tây, chính quyền Tokugawa đã phải kí các hiệp ước bất
Trang 11bình đẳng và phải mở các hải cảng quan trọng của Nhật Bản để người nước ngoài tự do buôn bán Những việc làm này của chính quyền Tokugawa khiến người dân Nhật và những người thuộc phe “nhương Di” cảm thấy tinh thần dân tộc bị xúc phạm và nền độc lập dân tộc bị đe doạ nghiêm trọng Chính vì thế họ chủ trương đánh đuổi phương Tây bằng mọi cách để bảo vệ nền độc lập tự chủ cho đất nước Điều này đã làm dấy lên lòng yêu nước và tinh thần dân tộc mạnh mẽ của người Nhật
Sau khi Satsuma và Choshu bị thất bại nặng nề trong trận chiến với các nước phương Tây thì các Han này đã nhận ra rằng việc trục xuất người nước ngoài ra khỏi đất nước là một điều không dễ gì làm được và tư tưởng “nhương Di” là hoàn toàn không thực tế Có thể nói, từ thời điểm khi chính quyền Tokugawa kí các hiệp ước bất bình đẳng với các nước phương Tây cho đến các cuộc chiến vào năm 1863 thì các Han
ở Tây Nam vẫn chưa thấy được sức mạnh áp đảo của các nước phương Tây và vẫn tin tưởng vào sức mạnh quân sự của mình Nhưng những tổn thất nặng nề về người và của
mà Satsuma và Choshu phải gánh chịu trong trận chiến ở Kagoshima và Shimonoseki
đã khiến các Han này bừng tỉnh và nhận thấy chênh lệch khá xa về kĩ thuật quân sự lẫn
vũ khí chiến đấu giữa các Han này với phương Tây Từ năm 1864, Satsuma và Choshu
đã chuyển từ lập trường chống đối sang thái độ hoà hiếu, thân thiện, và tích cực học tập phương Tây Sau thất bại của Choshu ở Shomonoseki thì tất cả những chí sĩ “tôn Vương nhương Di”, kể cả những người có thái độ cực đoan nhất đối với phương Tây cũng phải thừa nhận rằng khả năng đánh đuổi phương Tây là một điều không có thực Việc thay đổi tư tưởng của các Han Tây Nam không chỉ đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách đối với phương Tây mà còn thể hiện lối tư duy mới của người Nhật trước sự biến đổi của tình hình Từ việc nhận thức được tính không thực tế của tư tưởng “nhương Di”, các Han Tây Nam đã phát hiện ra sự cần thiết phải cải cách Duy tân đất nước để đưa Nhật Bản tiến kịp với các nước phương Tây Tuy nhiên lúc này Nhật Bản không thể thực hiện được điều đó bởi sự tồn tại của chính quyền Tokugawa
Do đó, việc cần làm lúc này là phải lật đổ chính quyền Tokugawa, vật cản chính trong