Chị Thoan yêu cầu chia đôi tài sản chung và chia đôi công nợ, giao toàn bộ tài sản chung cho anh Duy sử dụng và trả cho chị ½ tài sản bằng giá trị.. Đối với khoản vay Ngân hàng Nông nghi
Trang 1TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 23/2016/HNGĐ-PT
Ngày: 16 /11/2016
V/v tranh chấp chia tài sản chung
sau khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đoàn Thị Huỳnh Hoa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Chế
Ông Nguyễn Văn Dương
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy Hà- Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Phạm Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên toà
Ngày 16 tháng 11 năm 2016, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 34/2016/TLPT-HNGĐ ngày 12/10/2016 về việc: "Chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn"
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 27/2015/HNGĐ-ST ngày 31 tháng
8 năm 2016 của Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng có kháng cáo
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1469/2016/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2016 giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thoan; sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Phương Đôi, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa
2 Bị đơn: Anh Ngô Văn Duy; sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Quế Lâm, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa
3 Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô Văn Đán; sinh năm 1953 và bà Ngô Thị Tại; sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn Quế Lâm, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa
- Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Kiến Thụy; Vắng mặt
Trang 24 Người kháng cáo: Anh Ngô Văn Duy.
NHẬN THẤY:
* Theo án sơ thẩm, nguyên đơn chị Phạm Thị Thoan trình bày:
Chị và anh Duy lấy nhau từ năm 2001, đến ngày 21/9/2015 đã được Tòa án
xử ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản Do không thống nhất được về phân chia tài sản chung nên chị đề nghị Tòa án chia các tài sản bao gồm:
- Đồ dùng sinh hoạt: 01 xe máy Wave BKS 15B1 – 651.33 đỏ đen; 04 quạt điện (02 quạt treo tường và 02 quạt cây không có cánh); 01 tủ lạnh Deawoo; 01
tủ kệ gỗ ô kan; 01 ti vi Sony 21 inch; 01 bộ bàn ghế sắt giả mây; 01 ổn áp Lioa (5000VA); 01 bộ vòi tắm hoa sen; 01 chậu rửa mặt + gương; 01 bình nóng lạnh Picenza; 01 máy giặt Toshiba; 01 bệt nhà WC; điện, ống nước nhà WC
- 01 nhà ở cấp 4 xây dựng năm 2002, công trình phụ (nhà tắm, nhà vệ sinh) xây dựng năm 2009 trên đất của ông Ngô Văn Đán và bà Ngô Thị Tại số thửa
1946 tờ bản đồ số 3 tại thôn Quế Lâm, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy
- Tiền chênh lệch do bán xe máy Vision và mua xe Wave là 5.000.000 đồng; Tài sản chung chị Thoan yêu cầu chia đôi
- Về công nợ:
+ Nợ vay của Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh cả gốc và lãi 12.038.400 đồng Sau khi ly hôn anh Duy đã trả cho Ngân hàng 1.056.000 đồng, chị sẽ có trách nhiệm trả anh Duy ½ số tiền này là 528.000 đồng và trả ½ số nợ còn lại của Ngân hàng chính sách xã hội
+ Nợ vay Ngân hàng Đông Á 20.000.000 đồng, sau khi ly hôn còn nợ gốc
và lãi 9.120.000 đồng, anh Duy đã trả xong nên chị có trach nhiệm trả cho anh Duy ½ là 4.560.000 đồng
+ Đối với khoản vay 40.000.000 đồng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Kiến Thụy, anh chị đã dùng tiền vay của Ngân hàng Đông Á và tiền tiết kiệm trả xong ngày 03/6/2015
Chị Thoan yêu cầu chia đôi tài sản chung và chia đôi công nợ, giao toàn bộ tài sản chung cho anh Duy sử dụng và trả cho chị ½ tài sản bằng giá trị Thửa đất
là của bố mẹ chồng là ông Đán bà Tại nên chị không yêu cầu chia đất và cũng không đòi công sức tu tạo đất
* Bị đơn anh Ngô Văn Duy trình bày:
- Về tài sản chung: Anh thống nhất như chị Thoan nêu và nhất trí chia đôi tài sản chung, ai sử dụng tài sản thì trả cho người kia bằng giá trị Riêng chiếc xe máy Wave anh đang sử dụng để đi lại làm ăn nuôi các con, anh không đồng ý chia
Tiền chia chênh lệch do bán, mua xe máy là 7.000.000 đồng nhưng anh không đồng ý chia vì anh đã chi tiêu trong gia đình và nộp tiền học cho các con hết
Trang 3Công trình phụ (nhà tắm, nhà vệ sinh) là do bố mẹ anh bỏ tiền ra xây, vợ chồng anh chỉ đóng góp công sức và trả tiền công xây dựng là 6.000.000 đồng, anh chỉ đồng ý xét công sức cho chị Thoan
Về công nợ : Anh thống nhất số dư nợ còn lại của Ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng Đông Á và chia trách nhiệm trả nợ các ngân hàng này như chị Thoan nêu
Đối với khoản vay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Kiến Thụy 40.000.000 đồng, anh và chị Thoan đã trả nợ xong ngày 03/6/2015 nhưng vẫn anh yêu cầu chia đôi nghĩa vụ trả khoản nợ này
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Đán và bà Ngô Thị Tại trình bày: Đối với công trình phụ nhà tắm, nhà vệ sinh vợ chồng anh Duy sử
dụng là do ông bà xây dựng từ khoảng năm 2008 – 2009, ông bà đưa cho anh Duy khoảng 58.000.000 đồng, xây hết bao nhiêu ông bà không biết Anh Duy và chị Thoan chỉ có công sức và trả tiền công xây dựng, mua nội thất, thiết bị nhà tắm Do đó anh Duy, chị Thoan chỉ được chia giá trị các thiết bị nội thất còn trả công trình phụ cho ông bà
* Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh huyện Kiến Thụy trình bày: Ngân
hàng xác nhận anh Duy chị Thoan có vay theo chương trình nước sạch và môi trường, đến ngày 31/8/2016 còn nợ số tiền gốc 12.000.000 đồng, tiền lãi là 38.400 đồng Nay Ngân hàng yêu cầu anh Duy chị Thoan phải trả số tiền nợ nêu trên
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 27/2016/HNGĐ-ST ngày 31/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã áp dụng Điều 33, 59, 60, 61 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 219 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản
1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thoan về chia tài sản chung của chị và anh Ngô Văn Duy:
- Về tài sản chung: Giao cho anh Duy sử dụng:
+ Một nhà cấp 4 diện tích 22,34m2 mái lợp prô xi măng và 01 gian bán mái, bịt tôn trước cửa nhà trị giá 43.043.000 đồng trên diện tích đất 365m2 của ông Ngô Văn Đán và bà Ngô Thị Tại số thửa 1946 tờ bản đồ số 3 thôn Quế Lâm,
xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy
+ Tài sản gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Wave BKS 15B1 – 651.33 đỏ đen trị giá 12.000.000 đồng; 04 quạt điện (02 quạt treo tường và 02 quạt cây không có cánh) trị giá 180.000 đồng; 01 tủ lạnh Deawoo trị giá 900.000 đồng; 01 tủ kệ gỗ ô kan trị giá 300.000 đồng; 01 ti vi Sony 21 inch trị giá 500.000 đồng; 01 bộ bàn ghế sắt giả mây ngồi uống nước trị giá 200.000 đồng; 01 ổn áp Lioa (5000VA) trị giá 1.500.000 đồng; 01 bộ vòi tắm hoa sen trị giá 500.000 đồng; 01 chậu rửa mặt + gương trị giá 400.000 đồng; 01 bình nóng lạnh Picenza 300.000 đồng; 01 máy giặt Toshiba trị giá 2.000.000 đồng; 01 bệt nhà WC trị giá 200.000 đồng; điện, ống nước nhà WC trị giá 500.000 đồng.Tổng giá trị 19.480.000 đồng
Trang 4+ Công trình phụ (nhà tắm, nhà WC) trị giá 17.356.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chung giao anh Duy sử dụng có giá trị là 79.879.000 đồng
- Về công nợ chung: Anh Duy có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng chính sách
xã hội chi nhánh huyện Kiến Thụy là 12.038.400 đồng và tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm Anh Duy còn phải trả cho Ngân hàng số tiền lãi trên nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận cho đến khi trả hết nợ gốc đã vay
- Anh Duy phải có trách nhiệm thanh toán trả tiền chênh lệch chia tài sản cho chị Phạm Thị Thoan là 28.832.300 đồng
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 12/9/2016 anh Duy kháng cáo bản án sơ thẩm
* Tại phiên tòa, bị đơn anh Ngô Văn Duy vẫn giữ nguyên kháng cáo với các nội dung:
- Đất ở và công trình phụ là của bố mẹ anh (ông Đán bà Tại) không phải là tài sản chung vợ chồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm định giá và chia là không được Công trình phụ gồm nhà tắm và nhà vệ sinh do bố mẹ anh bỏ tiền ra xây dựng, anh và chị Thoan chỉ có tham gia công sức và mua sắm thiết bị nội thất
- Tài sản chung vợ chồng chỉ có một nhà cấp 4 và các đồ dùng sinh hoạt gia đình, nhưng giá như tòa án cấp sơ thẩm định giá là quá cao, theo anh căn nhà
đã xuống cấp chỉ có giá khoảng 3.000.000 đồng Nhưng anh không kháng cáo yêu cầu định giá lại tài sản
- Về các khoản nợ chung: Anh xác định khoản vay 40.000.000 đồng của Ngân hàng nông nghiệp Kiến Thụy đã trả xong khi vợ chồng còn chung sống nhưng án sơ thẩm không chia đôi khoản nợ này
* Nguyên đơn nêu: Khoản vay của Ngân hàng nông nghiệp được trả xong từ lúc vợ chồng còn chung sống Chị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận như án sơ thẩm đã giải quyết
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đán và bà Tại nêu: Ông bà có tiền tích góp được và giao cho anh Duy 58.000.000 đồng để xây dựng nên công trình nhà tắm và nhà vệ sinh Ông bà vẫn đề nghị anh Duy chị Thoan ly hôn thì trả lại công trình đó cho ông bà
* Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, xác định: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Các đương sự đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự
Về các nội dung kháng cáo của bị đơn anh Ngô Văn Duy là không phù hợp với pháp luật và không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hi đồng xét xử giữ nguyên án
sơ thẩm
Trang 5Sau khi nghe các đương sự trình bày, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ được xem xét, ý kiến tranh luận của các bên, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn anh Ngô Văn Duy, Hội đồng xét xử phúc thẩm,
XÉT THẤY: + Về đất ở và công trình phụ: Thửa đất chị Thoan anh Duy sử dụng là thuộc quyền sử dụng của ông Đán bà Tại, chị Thoan không yêu cầu chia đất và cũng không yêu cầu chia công sức duy trì đất, Tòa án sơ thẩm không định giá đất ở, nên anh Duy kháng cáo nêu án sơ thẩm định giá đất để chia là không đúng
Đối với công trình phụ gồm nhà tắm và nhà vệ sinh: Tại biên bản xác minh tài sản chung của chị Thoan và anh Duy ngày 06/10/2015 anh chị đã thống nhất tài sản chung có nhà ở, công trình phụ, tủ lạnh…Tại cấp sơ thẩm ông Đán bà Tại khai về nguồn tiền xây dựng công trình phụ năm 2009 là tiền đền bù thu hồi đất
để làm đường của xã nhưng qua xác minh tại UBND xã thì đến năm 2010-2011ông bà Đán mới nhận được tiền đền bù Án sơ thẩm xác định không có căn
cứ chứng minh công trình phụ là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đán bà Tại,
vì vậy án sơ thẩm xác định công trình phụ là tài sản chung của anh Duy chị Thoan, định giá để chia là có cơ sở
+ Về tài sản chung gồm nhà ở và các đồ dùng sinh hoạt: Tại cấp sơ thẩm, sau khi nhận được thông báo kết quả định giá tài sản ngày 26/7/2016, anh Duy không có yêu cầu định giá lại tài sản Anh Duy kháng cáo cho rằng việc định giá tài sản chung tại cấp sơ thẩm là quá cao nhưng không có căn cứ chứng minh + Về các khoản nợ vay Ngân hàng:
Nợ của Ngân hàng CSXH: Tiền nợ gốc là 12.000.000 đồng với lãi vay 0,8%/tháng Sau khi ly hôn ngày 21/9/2015 đến ngày 20/8/2016 số tiền lãi là 1.056.000 đồng, anh Duy đã trả, số tiền này chị Thoan đồng ý trả cho anh 528.000 đồng Tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/8/2016 còn nợ Ngân hàng là 12.038.400 đồng, anh Duy chị Thoan mỗi người có trách nhiệm trả 6.019.200 đồng
Nợ của Ngân hàng Đông Á, sau khi ly hôn còn nợ gốc và lãi là 9.120.000 đồng đã được anh Duy thanh toán xong Chị Thoan đồng ý trả lại cho anh Duy ½
số tiền 4.560.000 đồng
Nợ của Ngân hàng NN và PTNT: Anh Duy và chị Thoan ly hôn ngày 21/9/2015 nhưng nợ vay ngân hàng nông nghiệp đã trả xong ngày 03/6/2015 khi hai người còn chung sống Án sơ thẩm xác định khoản vay Ngân hàng nông nghiệp không còn là nợ chung là đúng Anh Duy kháng cáo yêu cầu chia đôi khoản nợ này là không có căn cứ chấp nhận
Toàn bộ tài sản chung anh Duy được nhận có giá trị là 79.879.000 đồng Do anh Duy nhận toàn bộ tài sản chung nên anh Duy có trách nhiệm trả khoản nợ 12.038.400 đồng của Ngân hàng CSXH Khoản nợ này sau khi trừ trong tổng giá trị tài sản chung thì anh Duy chị Thoan mỗi người được nhận giá trị tài sản chung là: (79.879.000 đồng – 12.038.400 đồng) : 2 = 33.920.300 đồng
Trang 6Về số tiền lãi 11 tháng của Ngân hàng CSXH và nợ của Ngân hàng Đông Á
do anh Duy đã trả, nên chị Thoan có trách nhiệm trả ½ cho anh Duy là 528.000 đồng (nợ lãi Ngân hàng CSXH do anh Duy đã trả) và 4.560.000 đồng ( nợ gốc Ngân hàng Đông Á do anh Duy đã trả), tổng cộng 5.088.000 đồng
Vì vậy, án sơ thẩm xác định anh Duy chỉ còn phải trả tiền tài sản cho chị Thoan là: 33.920.300 đồng – 5.088.000 đồng = 28.832.300 đồng
Như vậy về công nợ chung đã được Tòa án sơ thẩm xem xét và chia đôi nghĩa vụ trả nợ cho anh Duy và chị Thoan
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Duy, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Về án phí: Anh Duy phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
QUYẾT ĐỊNH Không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Văn Duy Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Áp dụng Điều 33, 59, 60, 61 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 219 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 28;
Áp dụng Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 148;
Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 27, Khoản 1 Điều 30 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thoan về chia tài sản chung của chị và anh Ngô Văn Duy:
- Về tài sản chung: Giao cho anh Duy sử dụng:
+ Một nhà cấp 4 diện tích 22,34m2 mái lợp prô xi măng và 01 gian bán mái, bịt tôn trước cửa nhà trị giá 43.043.000 đồng trên diện tích đất 365m2 của ông Ngô Văn Đán và bà Ngô Thị Tại số thửa 1946 tờ bản đồ số 3 thôn Quế Lâm,
xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy
+ Tài sản gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Wave BKS 15B1 – 651.33 đỏ đen trị giá 12.000.000 đồng; 04 quạt điện (02 quạt treo tường và 02 quạt cây không có cánh) trị giá 180.000 đồng; 01 tủ lạnh Deawoo trị giá 900.000 đồng; 01 tủ kệ gỗ ô kan trị giá 300.000 đồng; 01 ti vi Sony 21 inch trị giá 500.000 đồng; 01 bộ bàn ghế sắt giả mây ngồi uống nước trị giá 200.000 đồng; 01 ổn áp Lioa (5000VA) trị giá 1.500.000 đồng; 01 bộ vòi tắm hoa sen trị giá 500.000 đồng; 01 chậu rửa mặt + gương trị giá 400.000 đồng; 01 bình nóng lạnh Picenza 300.000 đồng; 01 máy giặt Toshiba trị giá 2.000.000 đồng; 01 bệt nhà WC trị giá 200.000 đồng; điện, ống nước nhà WC trị giá 500.000 đồng.Tổng giá trị 19.480.000 đồng
+ Công trình phụ (nhà tắm, nhà WC) trị giá 17.356.000 đồng
Tổng giá trị tài sản chung giao anh Duy sử dụng có giá trị là 79.879.000 đồng
Trang 7- Về công nợ chung: Anh Duy có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng chính sách
xã hội chi nhánh huyện Kiến Thụy là 12.038.400 đồng và tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm Anh Duy còn phải trả cho Ngân hàng số tiền lãi trên nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận cho đến khi trả hết nợ gốc đã vay
2 Anh Duy phải có trách nhiệm thanh toán trả tiền chênh lệch chia tài sản cho chị Phạm Thị Thoan là 28.832.300 đồng
3 Về án phí:
Chị Phạm Thị Thoan phải chịu 1.996.975 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.250.000 đồng, theo Biên lai thu tiền số 0005770 ngày 25/01/2016 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng Chị Thoan được trả lại số tiền 1.253.025 đồng
Anh Ngô Văn Duy phải chịu 1.996.975 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm Anh Duy được trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp, theo Biên lai thu tiền số 0005906 ngày 28/9/2016 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng Anh Duy còn phải nộp 1.996.975 đồng
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người thi hành án không thanh toán khoản tiền phải thi hành thì phải chịu thêm tiền lãi đối với số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thanh toán
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án đươc quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhận:
-VKS TP Hải Phòng ;
- Toà sơ thẩm;
- Chi cục THADS Kiến Thụy;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, HCTP
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Đoàn Thị Huỳnh Hoa