Chu Xuân Minh Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Tài liệu tập huấn chuyên đề GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Phần thứ nhất GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TRANH.
Trang 1Tài liệu tập huấn chuyên đề GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Phần thứ nhất
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1.1 Phân biệt vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình và việc dân sự về hôn nhân và gia đình
Các tranh chấp về hôn nhân và gia đình (HN-GĐ) được quy định tại Điều 28
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) Các yêu cầu về HN-GĐ được quyđịnh tại Điều 29 BLTTDS Đặc trưng của yêu cầu về HN-GĐ làcác bên đương sựkhông tranh chấp về quyền và nghĩa vụ mà chỉ yêu cầu Toà án công nhận hoặckhông công nhận một sự kiện pháp lý nào đó về HN-GĐ.Phạm vi của chuyên đềnày là kỹ năng giải quyết các tranh chấp HN-GĐ, cũng có nghĩa là kỹ năng giảiquyết vụ án dân sự về HN-GĐ
Theo quy định tại Điều 28 BLTTDS thì những tranh chấp HN-GĐ thuộcthẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm:
1.1.1 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn (Khoản 1 Điều 28 BLTTDS).
Vụ án ly hôn đồng thời có tranh chấp cả về việc nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn là loại vụ án HN-GĐ điển hình Loại tranh chấp này là việc do một bênyêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời cả 3 mối quan hệ phát sinh từ quan hệ hôn
nhân hợp pháp, đó là quan hệ về hôn nhân, quan hệ về nuôi con chung và quan
hệ về chia tài sản
Trong quan hệ tranh chấp này, tranh chấp về hôn nhân là một bên yêu cầuđược ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng, còn một bên không chấp nhận việc
ly hôn mà có yêu cầu được đoàn tụ
Tranh chấp về nuôi con là việc các bên không thống nhất được ai làngười có trách nhiệm trực tiếp nuôi con, ai là người có nghĩa vụ cấp dưỡng,mức cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn Ngoài ra, đương
sự không có sự thống nhất về việc chia tài sản, phân chia các quyền hoặcnghĩa vụ về tài sản
Vụ án ly hôn điển hình là có tranh chấp đối với cả 3 quan hệ Tuynhiên, nếu đương sự yêu cầu giải quyết đồng thời các quan hệ thì chỉ cần cótranh chấp đối với một quan hệ thì cũng phải xác định là vụ án hôn nhân vàgia đình
Việc tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn cũng là vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án Khi ly hôn, đương sự không bắt buộc phải yêucầu giải quyết về chia tài sản chung hoặc chỉ yêu cầu giải quyết một phần
Do đó, sau khi đã ly hôn, nếu có tranh chấp về tài sản chung, đương sự cóquyền khởi kiện những vụ án về chia tài sản sau khi ly hôn
Trang 21.1.2 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân(Khoản 2 Điều 28 BLTTDS).
Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhânđược hiểu là mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng vẫn đang tồn tại Giữa họkhông có yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn mà chỉ yêu cầu phân chia tàisản chung của vợ chồng xuất phát từ nhu cầu chính đáng của họ như để thựchiện nghĩa vụ về tài sản riêng hoặc để thuận tiện cho các giao dịch riêng vềtài sản Do vậy, nếu không thỏa thuận phân chia đượcthì trường hợp này phápluật quy định là có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân và cũng là loại vụ án về HN-GĐ
Nếu giữa vợ chồng không có sự tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng
mà đã tự nguyện, thống nhất phân chia bằng văn bản và có yêu cầu Tòa án côngnhận sự phân chia của họ về khối tài sản chung đó thì không thuộc thẩm quyềngiải quyết của Tòa án Trong trường hợp họ yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏathuận đó thì Tòa án không thụ lý vì không phải vụ án HN-GĐ quy định ở Điều
28 và cũng không phải việc HN-GĐ quy định tại Điều 29 Do vậy, cần hướngdẫn đương sự để họ liên hệ với cơ quan công chứng hoặc cơ quan hành chínhnhà nước có thẩm quyền để xác nhận Cần lưu ý là tranh chấp về chia tài sảnchung trong thời kỳ hôn nhân đã được giải quyết bằng bản án, quyết định củaTòa án nếu sau này có thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sảnchung thì được giải quyết theo trình tự việc HN-GĐ theo quy định tại Khoản
1.1.4 Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ (Khoản 4 Điều 28 BLTTDS).
Tranh chấp này bao gồm cả yêu cầu không thừa nhận người nào đó là con,
là cha, là mẹ của họ hoặc xin được xác định mình là cha, là mẹ, là con của mộtngười nào đó
Đối với những trường hợp mà yêu cầu xác định việc xác định cha, mẹ chocon hoặc xác định con cho cha, mẹ không có tranh chấp mà tự nguyện thỏathuận thì thuộc thẩm quyền của UBND theo pháp luật về hộ tịch mà khôngthuộc thẩm quyền của Tòa án
Trang 3Trường hợp không có tranh chấp nhưng cũng không có thỏa thuận thì đượcgiải quyết theo thủ tục việc dân sự quy định tại Khoản 10 Điều 29 BLTTDS Đó
là trường hợp chủ thể được yêu cầu xác định là cha, là mẹ, là con đã chết
1.1.5 Tranh chấp về cấp dưỡng(Khoản 5 Điều 28 BLTTDS).
Đây là trường hợp chỉ có một yêu cầu về cấp dưỡng của những người đượccấp dưỡng và những người có nghĩa vụ cấp dưỡng như cha, mẹ, con, anh chị emvới nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ chồng việc cấpdưỡng xuất phát có thể từ việc người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh nghĩa vụhoặc có sự thay đổi về mức cấp dưỡng khi có căn cứ cho rằng mức cấp dưỡng
đó không còn phù hợp với người được cấp dưỡng nữa Tuy nhiên, yêu cầu cấpdưỡng này chỉ được Tòa án thụ lý để giải quyết là vụ án tranh chấp khi có căn
cứ cho rằng giữa họ không thỏa thuận được mức cấp dưỡng, thời gian cấpdưỡng, cấp dưỡng một lần hay theo định kỳ và giữa họ đã xảy ra tranh chấpvới nhau Ngoài người được cấp dưỡng có yêu cầu thì còn có cơ quan, tổ chức
xã hội cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu về cấp dưỡng cho ngườiđược cấp dưỡng như Cơ quan dân số - gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ
1.1.6 Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai
+ Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn mà bên mang thai
hộ không nhận nuôi đứa trẻ, thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho đứa trẻ theoquy định của Bộ luật dân sự;
+ Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không nhận con và bên mangthai hộ không tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ, thì Tòa án chỉ địnhngười giám hộ cho đứa trẻ, bên nhờ mang thai hộ có trách nhiệm thực hiệnnghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Cần lưu ý là Khoản 6 Điều 29 BLTTDS cũng quy định về “Yêu cầu liênquan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình”.Đây là trường hợp không có tranh chấp, được giải quyết theo thủ tục việc HN-GĐ
1.1.7 Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật (Khoản 7 Điều 28 BLTTDS).
Hủy kết hôn trái pháp luật là một yêu cầu về HN-GĐ, được giải quyếttheo trình tự việc dân sự Tuy vậy, nếu cùng với việc xin hủy kết hôn trái phápluật mà có tranh chấp về việc nuôi con chung hoặc chia tài sản thì phải giảiquyết theo thủ tục vụ án HN-GĐ
Trang 4Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn thì không được công nhận quan hệ hôn nhân nhưng nếu có tranh chấp
về chia tài sản chung, nuôi con chung thì thuộc trường hợp vụ án HN-GĐ chứkhông phải vụ án dân sự thông thường
1.1.8 Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật (Khoản 8 Điều 28 BLTTDS).
Đây là một quy định mở về những tranh chấp về HN-GĐ khác mà chưa đượcnêu tại Điều 28 BLTTDS nhưng nếu chưa có quy định cơ quan khác giải quyết thìđều do Tòa án giải quyết
Sau khi Tòa án đã thụ lý theo trình tự việc dân sự, một trong hai bên hoặc cảhai bên có sự thay đổi yêu cầu Nếu hai bên đạt được thỏa thuận mới, kể cả thỏathuận chưa yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản, thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyếttheo thủ tục việc dân sự (Ra Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuậnnuôi con, chia tài sản khi ly hôn) Nếu các đương sự không thỏa thuận được về việcchia tài sản, hoặc việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa ánphải đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôicon, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết (Khoản 5 Điều 397BLTTDS)
Khi chuyển từ thủ tục giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn,thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn sang thủ tục giải quyết vụ án, Tòa ánkhông phải thông báo việc thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giảiquyết vụ án
Thỏa thuận nuôi con không bao gồm thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giảiquyết về con cái Do vậy, không có được thỏa thuận cụ thể về việc trông nom, nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục con là phải chuyển từ thủ tục việc dân sự sang vụ ándân sự
Có trường hợp vợ chồng thỏa thuận về tất cả các quan hệ về hôn nhân, nuôicon, tài sản nhưng một bên không có mặt để tiến hành hòa giải thì không đủ cơ sở
để ra quyết định “Công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con,chia tài sản khi
ly hôn” theo trình tự quy định tại Điều 397 và Điều 212 BLTTDS Như vậy, trườnghợp không hòa giải được thì cũng phải chuyển từ thủ tục giải quyết việc dân sựsang thủ tục vụ án dân sự
1.2.2.Chuyển việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật thành vụ án ly hôn.
Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật là một yêu cầu HN-GĐ được giải quyếttheo thủ tục việc dân sự (Khoản 1 Điều 29 BLTTDS) Sau khi đã thụ lý việc dân sự
về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, có những trường hợp do đương sự thay đổi ý
Trang 5kiến mà dẫn đến không thể tiếp tục giải quyết theo trình tự việc dân sự, phải chuyểnsang giải quyết theo trình tự vụ án dân sự Cụ thể là một số trường hợp sau:
- Có đương sự yêu cầu được ly hôn (Xác định hôn nhân của họ là hợp pháp vàxin chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp) Đây là trường hợp được giải đáp ở mục
số 10, Phần IV, Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của TAND tối cao
- Bổ sung yêu cầu giải quyết tranh chấp về nuôi con chung hoặc tranh chấp
về chia tài sản đồng thời với việc giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật hoặc đồngthời với việc ly hôn (trường hợp đến thời điểm giải quyết thì hôn nhân đã đủ điềukiện hợp pháp)
Trong các trường hợp này, Tòa án cũng phải đình chỉ giải quyết việc dân sự vềyêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và thụ lý vụ án dân sự về HN-GĐ
1.3 Một số đặc thù của vụ án hôn nhân và gia đình.
1.3.1 Thường có 3 quan hệ tranh chấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Đó là quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi con chung, quan hệ chia tài sản Quan
hệ tranh chấp về hôn nhân giữ vai trò chi phối vì có ly hôn mới có chia tài sản khi
ly hôn; có ly hôn mới phải giải quyết việc nuôi con sau khi ly hôn
Có quan hệ chặt chẽ nhưng không có nghĩa đều phải giải quyết đồng thời.Trường hợp cấp sơ thẩm bác yêu cầu xin ly hôn thì cũng không giải quyết về việcnuôi con hay chia tài sản Cấp phúc thẩm vẫn có thể sửa bản án sơ thẩm và cho lyhôn; giành quyền cho đương sự khởi kiện vụ án khác về việc nuôi con hoặc chia tàisản
Ba quan hệ tranh chấp thường phải được xem xét đồng thời nên cũng thườngxuất hiện đồng thời trong các văn bản tố tụng, thậm chí trong từng phần của mộtvăn bản tố tụng Điều cần lưu ý là việc gọi tên các quan hệ này đang không thốngnhất Cần phải gọi tên theo văn bản quy phạm pháp luật
1.3.2 Đương sự trong vụ án là những người có quan hệ gia đình với nhau.
Ngoài vợ, chồng, con cái của họ, những đương sự khác cũng thường có nhiềungười có quan hệ gia đình, họ hàng Cách dùng đại từ chỉ người cần phù hợp vớiphong tục, văn hóa, có thứ bậc phù hợp Do đó, khi tiến hành tố tụng, cần phảilựa chọn đại từ nhân xưng (ông, bà, anh, chị) của từng đương sự một cách hợp
lý về thứ bậc và quan hệ gia đình
Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, nguyên đơn và bị đơn dưới 40 tuổi thì nên gọi làanh, chị, để có thể gọi cha, mẹ họ là ông, bà, gọi các con đương sự là cháu; tránhtình trạng con cái và cha mẹ cùng được gọi là ông, bà hay anh, chị như nhau
1.3.3.Quan hệ giữa các đương sự trong vụ án thường diễn ra trong thời gian dài.
Quan hệ giữa các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình thường diễn
ra trong một thời gian dài Do đó, sẽ có những sự kiện pháp lý ở những thờiđiểm nhất định tuy là có liên quan đến các đương sự nhưng không phải là sựkiện có ý nghĩa quyết định trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự thì khôngcần thiết phải đề cập đến trong quá trình tố tụng Cần phải biết chọn lọc, xácđịnh đúng và đủ những sự kiện pháp lý liên quan đến mối quan hệ cần giải quyết
để đưa vào các văn bản tố tụng cũng như điều hành tranh tụng
Trang 6Ví dụ: Chị B khởi kiện yêu cầu ly hôn anh A thì không cần thiết phải nêu cả
sự kiện trước khi lấy chị B, anh A đã có vợ là chị C, do chị C không sinh đượccon nên phải nhờ chị B mang thai hộ; sau đó, tranh chấp con, rồi anh A lại cótình cảm với chị B, bỏ chị C lấy chị B…
1.3.4 Nguyên nhân xảy ra tranh chấp, những sự kiện pháp lý trong quan hệ HN-GĐ có nhiều vấn đề có tính chất tế nhị.
Đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, trong nhiều trường hợp,nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là những nguyên nhân tế nhị Do đó, phải chọnngôn ngữ, cách thể hiện, diễn đạt làm sao để giữ gìn danh dự cho đương sự Vìthế, tránh viết lại cụ thể những từ thô tục, những đánh giá có tính chất mạt sátlẫn nhau, những hành vi thể hiện lối sống đồi trụy, sa đọa… Tránh trích dẫnnguyên văn những lời khai của đương sự làm ảnh hưởng đến danh dự, nhânphẩm của họ
1.3.5 Vụ án HN-GĐ thường có nhiều vấn đề liên quan đến cá nhân cần giữ bí mật trước công chúng.
Trong vụ án hôn nhân và gia đình, có những vấn đề liên quan đến danh dự,
uy tín và có tính chất riêng tư của cá nhân cần giữ bí mật trước công chúng Bímật cá nhân, bí mật nghề nghiệp, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật làTòa án không được phép công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thường cónhiều vấn đề cần giữ bí mật hơn các vụ án dân sự khác Tuy vậy, tùy từng trườnghợp cụ thể, từng loại phạm vi giữ bí mật mà Tòa án xác định là bí mật cá nhân,
bí mật gia đình, không phải cứ đương sự đề nghị là chấp nhận
Ở nhiều nước, án kiện hôn nhân gia đình đều được xử kín
2 MỘT SỐ LƯU Ý VỀ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH.
2.1.Nguyên tắc chung về áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình
Cũng như các lĩnh vực chuyên ngành khác, pháp luật HN-GD là pháp luậtchuyên ngành nên chỉ trong trường hợp pháp luật HN-GĐ không quy định thì mới
áp dụng pháp luật chung là pháp luật dân sự Do đó, nghiên cứu về kỹ năng giảiquyết vụ án HN-GĐ phải bao gồm nghiên cứu về pháp luật HN-GĐ, là căn cứ địnhhướng để tiến hành các hoạt động tố tụng như thu thập chứng cứ, điều hành tranhtụng, quyết định các vấn đề của vụ án
Nguyên tắc áp dụng pháp luật HN-GĐ cũng theo nguyên tắc chung được quyđịnh theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Khoản 1 Điều 156 Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
“1 Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm
mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạmpháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.”
Quan hệ HN-GĐ lại thường diễn ra trong thời gian rất dài Vì vậy, giải quyết vụ
án HN-GĐ cũng thường phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật không còn hiệulực ở thời điểm xét xử Ví dụ: Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ở thờiđiểm thi hành Luật HN-GĐ năm 1986 phải do Tòa án quyết định (Điều 18 và Điều
42 Luật HN-GĐ năm 1986) nhưng trong thời kỳ thi hành Luật HN-GĐ năm 2000
Trang 7thì vợ chồng có thể tự chia theo quy định (Điều 29 Luật HN-GĐ năm 2000) cũng cóhiệu lực hợp pháp Do đó, nắm vững pháp luật HN-GĐ để giải quyết vụ việc HN-
GĐ bao gồm toàn bộ hệ thống pháp luật HN-GĐ chứ không phải chỉ gồm những vănbản đang có hiệu lực thi hành Tuy nhiện, nội dung nghiên cứu về pháp luật HN-GĐdưới đây chỉ tập trung vào những vấn đề phải áp dụng thường xuyên tại Tòa án
2.2 Khái quát chung về hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình
Từ khi giành độc lập, thành lập nước Việt Nam 1945 đến nay, Nhà nước
ta đã 04 lần ban hành Luật Hôn nhân và gia đình:
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, có hiệu lực từ ngày 13/01/1960đối với miền Bắc, từ 25/3/1977 đối với miền Nam;
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, có hiệu lực từ ngày 03/01/1987;
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực từ ngày 01/01/2001;
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.Sau đây Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là Luật hiện hành nên chỉ viết
là Luật Hôn nhân và gia đình, viết tắt là Luật HN-GĐ
Ở mỗi giai đoạn thi hành luật hôn nhân và gia đình, tại các thời kỳ khácnhau, Nhà nước lại ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn Khi xét xử
các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cần lưu ý những văn bản quy phạm
pháp luật hướng dẫn Luật sau:
Văn bản hướng dẫn Luật HN-GĐ năm 1959 bao gồm:
- Thông tư số 01-TTg/NC ngày 04/01/1966 của Thủ tướng chính phủ vềviệc các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, đơn vị quân đội giúp đỡ thi hànhnhững bản án về hôn nhân và gia đình xử người công nhân, viên chức, quânnhân phải cấp tiền nuôi dưỡng vợ con;
- Nghị quyết số 76-CP ngày 25/3/1977 của Hội đồng Chính phủ về việchướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất trong cả nước
- Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ,
bộ đội có vợ, có chồng trong Nam tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác
Văn bản hướng dẫn Luật HN-GĐ năm 1986 bao gồm:
Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN-
GĐ năm 1986
Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế
Văn bản hướng dẫn Luật HN-GĐ năm 2000 bao gồm:
- Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thihành Luật HN-GĐ năm 2000;
- Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg ngày 09/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc thi hành Luật HN-GĐ năm 2000;
- Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành Luật HN-GĐ năm 2000;
- Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định
về đăng ký kết hôn
Trang 8- Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình;
- Thông tư số 07/2001/TT-BTP ngày 10/12/2001 của Bộ Tư pháp hướngdẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghịquyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội;
- Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy địnhviệc áp dụng Luật HN-GĐ đối với các dân tộc thiểu số;
- Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ về quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài;
- Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 của Bộ Tư pháp hướngdẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN-GĐ năm
2000 có yếu tố nước ngoài;
- Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao;
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày03-01-2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000của Quốc hội về việc thi hành Luật HN-GĐ năm 2000;
- Công văn số 112/2001 -KHXX ngày 14/9/2001 của Toà án nhân dân tốicao;
- Kết luận số 84a/UBTVQH 11 ngày 29/4/2003 của Uỷ ban Thường vụQuốc hội;
- Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Tòa án nhân dântối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loạitranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình
- Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP ngày 14/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
về việc tiếp tục đăng ký kết hôn cho các trường hợp nam và nữ chung sốngvới nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001;
- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giảiquyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;
- Công văn số 77/2003/HĐTP ngày 27/6/2003 của Tòa án nhân dân tốicao thông báo việc tiếp tục giải quyết các vụ án nêu tại điểm b mục 1 phần IIcủa Nghị quyết số 01/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao
Văn bản hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật GĐ)
HN Nghị định số 126/2014/NĐHN CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quyđịnh chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN-GĐ;
Trang 9- Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định
về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai
có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn
Nam nữ có quan hệ hôn nhân hợp pháp được Nhà nước thừa nhận và bảo
vệ, luôn có điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý khi tham gia các giao dịch dân
sự cũng như được bảo đảm quyền lợi phát sinh từ việc xác lập quan hệ hônnhân này
Hôn nhân hợp pháp còn bao gồm những trường hợp tuy có vi phạm một
số quy định khi kết hôn nhưng sau đó đã đủ điều kiện được công nhận hônnhân theo quy định của pháp luật
Trong vụ án HN-GĐ hay các tranh chấp dân sự khác có liên quan đếnquan hệ hôn nhân, việc xác định tính chất của quan hệ hôn có ý nghĩa rấtquan trọng Từ việc xác định được tính chất của quan hệ hôn nhân mới xácđịnh đúng được các quyền, nghĩa vụ cụ thể
Ví dụ: Quan hệ giữa Ông A, và bà B được xác định là quan hệ hôn nhânhợp pháp thì khi ông A chết trước, bà B có quyền hưởng thừa kế của ông A,
và việc chia tài sản chung của ông A và bà B tuân theo pháp luật hôn nhân vàgia đình; nếu giữa hai người không được công nhận là hôn nhân hợp pháp thì
bà B không được hưởng thừa kế của ông A và việc chia tài sản chung tuântheo quy định của pháp luật dân sự
2.3.2 Hôn nhân thực tế:
Hôn nhân thực tế một quan hệ được xác lập giữa hai người, một nam vàmột nữ, có đủ các điều kiện để kết hôn, chung sống với nhau như vợ chồngnhưng lại không đăng ký kết hôn
Có một thời kỳ dài hôn nhân thực tế được thừa nhận trong thực tiễn giaodịch, như là một chế định bổ khuyết có tác dụng khắc phục những khó khăntrong việc thiết lập hệ thống hộ tịch trên phạm vi cả nước (khó khăn do chiếntranh), cũng như việc hạn chế nhận thức của một bộ phận dân cư về hôn nhân
và gia đình
Từ trước ngày 03/01/1987, Nhà nước ta vẫn thừa nhận giá trị của hônnhân thực tế, nếu các bên cư xử với nhau như vợ chồng, sống chung và gánhvác công việc gia đình, được gia đình hai bên và xã hội thừa nhận Từ sau khiLuật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực (03/01/1987), thì chỉ có cáctrường hợp hai người chung sống với nhau như vợ chồng, có tài sản chunghoặc có con chung mới được coi là hôn nhân thực tế và mới được Nhà nướcthừa nhận là hôn nhân hợp pháp
Trang 10Từ ngày 01/01/2001 (ngày Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực) thì cáctiêu chí xác định “khái niệm chung sống với nhau như vợ chồng” để đượcthừa nhận là hôn nhân thực tế được mở rộng hơn nhiều, không đòi hỏi họphải "có con chung, có tài sản chung", "sống chung công khai được họ hàng,
xã hội thừa nhận" như hướng dẫn trước đây
Cần lưu ý là từ thời điểm thi hành Luật HN-GĐ năm 2000 thì văn bảnpháp quy và thực tiễn xét xử không sử dụng thuật ngữ “hôn nhân thực tế”
nữa mà sử dụng thuật ngữ “chung sống như vợ chồng” Từ việc chung sống
như vợ chồng sẽ được “công nhận quan hệ hôn nhân” hay “không công nhậnquan hệ vợ chồng” (sẽ trình bày cụ thể ở phần sau)
Tuy nhiên, thời điểm xác định “chung sống như vợ chồng” cũng có ý
nghĩa rất quan trọng Nghị quyết số 35/2000/QH10 quy định hậu quả pháp lýrất khác nhau đối với các mối quan hệ có thời điểm chung sống như vợchồng khác nhau Có quan hệ ở mức độ nào được coi là “chung sống như vợchồng” cũng cần phải có tiêu chí thống nhất Theo quy định tại Điểm d Mục
2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày03/01/2001 thì chung sống như vợ phải thuộc một trong những trườnghợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên)chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứngkiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhauxây dựng gia đình
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày
họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (mộthoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được ngườikhác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống vớinhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình
2.3.3 Kết hôn trái pháp luật:
Kết hôn trái pháp luật là tình trạng hôn nhân có đăng ký kết hôn nhưng vi
phạm một hoặc một số điều kiện kết hôn hợp pháp; hoặc thủ tục kết hônkhông đúng quy định của pháp luật
Trường hợp kết hôn trái pháp luật thì mới là đối tượng của việc yêu cầuhủy hôn nhân trái pháp luật Cần phân biệt trường hợp kết hôn trái pháp luậtvới trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kếthôn
Chung sống với nhau như vợ chồng cũng là một tình trạng hôn nhân bấthợp pháp (nếu một bên đã có vợ hoặc có chồng), thậm chí có thể bị xử lýbằng biện pháp hình sự nhưng không thuộc đối tượng của yêu cầu hủy kếthôn trái pháp luật Việc giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại các điều 14, 15, 16 Luật GĐ
Trang 11Luật HN-GĐ có một quy định mới là có thể công nhận hôn nhân khigiải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật.
Khoản 2 Điều 11 Luật HN-GĐ quy định: “Trong trường hợp Tòa án giảiquyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủcác điều kiện theo quy định của Điều 8 Luật này và hai bên yêu cầu côngnhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó Trongtrường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điềukiện kết hôn theo quy định của Luật này.”
2.3.4 Ly thân:
Ly thân là trạng thái hôn nhân mà nam nữ không còn chung sống như vợchồng nhưng họ chưa chính thức chấm dứt hôn nhân, vì nhiều lý do khácnhau họ vẫn muốn duy trì mối quan hệ, nghĩa vụ với nhau
Ở Việt Nam, ly thân đã từng được quy định trong Bộ Dân luật giản yếuNam kỳ 1883, trong án lệ ở Bắc Kỳ trước năm 1945 và trong pháp luật về giađình của chế độ cũ ở miền Nam (Luật Gia đình năm 1959, Bộ luật Dân sựnăm 1972)
Trên thế giới, ly thân cũng đã được nhiều nước thừa nhận như: Cộng hòaPháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Thái Lan, Philippin, Singapore,một số bang của Hoa Kỳ
Tuy nhiên, Luật HN-GĐ hiện hành không ghi nhận ly thân là một chếđịnh pháp lý của pháp luật hôn nhân và gia đình Luật hiện hành không cóquy định nào buộc vợ chồng nhất thiết phải sống chung nên đương nhiên họ
có quyền sống riêng mà không cần có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.Với quy định hiện hành thì thời kỳ ly thân vẫn là thời kỳ hôn nhân hợp pháp,các quan hệ về tài sản cũng như các quyền và nghĩa vụ vẫn có giá trị pháp lýnhư trong thời kỳ hôn nhân Ví dụ: tài sản do một bên làm ra trong thời kỳ lythân cũng vẫn là tài sản chung
2.4 Một số trường hợp có vi phạm nhưng vẫn được công nhận hôn nhân hợp pháp
2.4.1 Vi phạm chế độ một vợ, một chồng
Một trong những nguyên tắc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình ViệtNam là hôn nhân một vợ một chồng (Khoản 1 Điều 2 Luật HN-GĐ) LuậtHôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000 đều quy định nguyên tắc “một
vợ, một chồng” Do đó, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chungsống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kếthôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ là viphạm chế độ một vợ, một chồng và bị pháp luật cấm Các trường hợp kết hônnày bị coi là hôn nhân không hợp pháp
Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn củachiến tranh và có thời kỳ đất nước bị chia cắt, do đó pháp luật Việt Nam vẫnthừa nhận một số trường hợp hôn nhân vi phạm chế độ một vợ, một chồng làhôn nhân hợp pháp, cụ thể như sau:
Trang 122.4.1.1 Trường hợp kết hôn trước ngày 13/01/1960 ở miền Bắc (ngày Luật Hôn nhân và gia đình 1959 có hiệu lực):
Theo quy định của Luật HN-GĐ năm 1959 thì kể từ ngày 13/01/1960,những trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng là hôn nhânkhông hợp pháp Các quan hệ hôn nhân xác lập trước thời điểm 13/01/1960không bị điều chỉnh bởi nguyên tắc của Luật HN-GĐ năm 1959 nên dù cóquan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng vẫn được coi là hợp pháp Nhữngquan hệ hôn nhân này là hợp pháp nên các chủ thể (vợ hoặc chồng) có quyền
và nghĩa vụ theo quan hệ hôn nhân hợp pháp Cụ thể như họ có quyền thừa
kế tài sản của nhau, nhưng nếu họ không được Tòa án cho ly hôn mà đã kếthôn với người khác (kể từ thời điểm 13/01/1960) là trái pháp luật; hôn nhânsau không được công nhận
Cũng cần lưu ý là, quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng trước LuậtHN-GĐ 1959 có thể có đăng ký, cũng có thể không có đăng ký Do tồn tạilịch sử, chúng ta không chỉ thừa nhận những quan hệ hôn nhân có đăng ký làhợp pháp mà cả những quan hệ hôn nhân thực tế cũng được coi là hợp pháp
2.4.1.2 Trường hợp kết hôn trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam (ngày ban hành Nghị quyết số 76/CP)
Do đặc điểm lịch sử của nước ta, Luật HN-GĐ năm 1959 sau khi banhành, mới chỉ có hiệu lực ở miền Bắc Ở miền Nam, thời điểm áp dụng LuậtHN-GĐ năm 1959 là ngày 25/3/1977 (ngày ban hành Nghị quyết 76/CP công
bố danh mục văn bản pháp luật áp dụng trong cả nước, trong đó có luật Hônnhân và gia đình năm 1959) Tương tự như ở miền Bắc, những quan hệ hônnhân xác lập trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam không tuân theo nguyên tắcmột vợ một chồng vẫn được công nhận hợp pháp
2.4.1.3 Trường hợp công nhận hôn nhân hợp pháp theo Thông tư 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao.
Theo quy định tại Thông tư 60 nêu trên thì bộ đội, cán bộ có vợ, có chồng
ở miền Nam tập kết ra miền Bắc, lấy vợ, chồng khác Nay nếu vợ hoặc chồng
ở miền Nam vẫn không có quan hệ hôn nhân mới và vẫn muốn duy trì quan
hệ hôn nhân trước đây thì công nhận cả hôn nhân trước đây và hôn nhân mới
là hôn nhân hợp pháp
Cần chú ý là Thông tư 60 quy định hướng giải quyết khá cụ thể cho từngloại quan hệ hôn nhân và chỉ với những quan hệ hôn nhân được xác lập trongthời gian từ sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ đến ngày Luật Hôn nhân và giađình áp dụng trong cả nước (từ ngày 20/7/1954 đến 25/3/1977)
Quy định của Thông tư 60 là trường hợp công nhận hôn nhân hợp phápđặc biệt trên cơ sở xét đến hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh, yêu cầu ổnđịnh quan hệ gia đình phù hợp đạo lý và giải quyết hậu quả đặc biệt củachiến tranh
Vấn đề đặt ra là, trường hợp cán bộ, bộ đội đã có quan hệ hôn nhân ởmiền Bắc, vào miền Nam chiến đấu, công tác lại có quan hệ hôn nhân mới ởmiền Nam có được công nhận hôn nhân mới ở miền Nam là hợp pháp theoquy định của Thông tư 60 hay không? Trước hết, phải xác định các đối tượng
Trang 13này không phải là các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư 60.Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt do hoàn cảnh đặc biệt của chiếntranh và yêu cầu nhiệm vụ công tác mà có cơ sở xem xét giống như quy địnhtại Thông tư 60 thì cũng cần công nhận quan hệ hôn nhân mới của họ là hợppháp (cùng với quan hệ hôn nhân đã có trước ở miền Bắc) Ví dụ: Do điềukiện công tác mà cơ quan, tổ chức của một người đồng ý cho họ kết hôn, mặc
dù họ đang có quan hệ hôn nhân ở miền Bắc
Riêng với trường hợp đang có quan hệ hôn nhân ở miền Bắc lại kết hôn ởmiền Nam trong khoảng thời gian từ 01/5/1975 đến trước 25/3/1977 (thờigian mà đất nước đã thống nhất nhưng Luật Hôn nhân và gia đình chưa ápdụng ở miền Nam) thì không thể công nhận quan hệ hôn nhân sau là hợppháp Người đang có quan hệ hôn nhân ở miền Bắc biết rõ quan hệ hôn nhân
mà họ đang có là hợp pháp và việc họ chưa được ly hôn lại kết hôn với ngườikhác là trái pháp luât; điều kiện đất nước đã giải phóng, đã thống nhất nênkhông còn cơ sở để chấp nhận việc họ không thực hiện Luật HN-GĐ năm1959
2.4.2 Vi phạm do không đăng ký kết hôn
Việc đăng ký kết hôn được Nhà nước ta quy định từ Luật HN-GĐ năm
1959 Điều 11 quy định: “Việc kết hôn phải được Uỷ ban hành chính cơ sởnơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghivào sổ kết hôn” Luật HN-GĐ năm 1986 cũng quy định tại Điều8: “Việc kếthôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một tronghai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhànước quy định….Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý”.Tuy nhiên, do nhiều yếu tố về lịch sử, kinh tế, xã hội mà quy định về đăng kýkết hôn của cả Luật HN-GĐ năm 1959 và Luật HN-GĐ năm 1986 khôngđược thi hành nghiêm chỉnh Để khắc phục thực tế tồn tại, tại Nghị quyết số01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, có nội dung: đối với việckết hôn không có đăng ký, tuy vi phạm về thủ tục kết hôn nhưng không coi làkết hôn trái pháp luật, trong trường hợp này nếu có một hoặc hai bên xin lyhôn, thì Tòa án không hủy việc kết hôn mà xử như ly hôn
Từ ngày Luật HN-GĐ năm 2000 có hiệu lực (01/01/2001) và theo quyđịnh tại Luật HN-GĐ hiện hành (2014), thì việc đăng ký kết hôn tại Cơ quan
có thẩm quyền là bắt buộc Nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn thì hôn nhân không được pháp luật thừa nhận,việc kết hôn không có giá trị pháp lý
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2001 thì nam nữ muốn trở thành vợ chồnghợp pháp của nhau phải đăng ký kết hôn Đăng ký kết hôn là một nghi thứcbắt buộc, chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc kết hôn cho
họ thì giữa họ mới phát sinh quan hệ vợ chồng Về thẩm quyền đăng ký kếthôn cũng được quy định rõ theo Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP củaChính phủ: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữthực hiện việc đăng ký kết hôn
Trang 14Quy định về đăng ký kết hôn chỉ mang tính bắt buộc từ ngày01/01/2001, do đó Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 ngày 09/6/2000 củaQuốc hội và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTPngày 18/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Bộ Tư pháp về thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định một
số trường hợp hôn nhân không đăng ký kết hôn vẫn là hôn nhân hợp pháp, cụthể là:
2.4.2.1 Hôn nhân xác lập trước ngày 03/01/1987
Theo Điểm a Muc 3 Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 thì: Đối với quan
hệ vợ chồng được xác lập trước khi Luật HN-GĐ năm 1986 có hiệu lực(trước ngày 03/01/1987) thì không bắt buộc phải đăng ký kết hôn mà chỉkhuyến khích đăng ký kết hôn Nếu họ đăng ký kết hôn thì việc tham gia cácgiao dịch có căn cứ pháp lý và thuận lợi hơn, Nhà nước tạo điều kiện để họđăng ký kết hôn được dễ dàng nhưng dù họ có đăng ký kết hôn hay khôngđăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng vẫn được công nhận là hợp pháp vàthời kỳ hôn nhân hợp pháp bắt đầu kể từ ngày xác lập
2.4.2.2 Hôn nhân xác lập trong thời gian có hiệu lực của Luật HN-GĐ năm 1986 (từ 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001), được coi là hợp pháp đến ngày 01/01/2003:
Theo quy định tại Điểm b Mục 3 Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 vàMục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì:Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật thì có nghĩa
vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật có hiệu lực chođến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn,nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của LuậtHN-GĐ năm 2000 để giải quyết Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng
ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưađăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà ánthụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật HN-GĐ năm 2000 đểgiải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung Cần chú ý trong trường hợp họthực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Nghị quyết
số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể
từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ
ngày đăng ký kết hôn
Đặc trưng quy định cho trường hợp tại Điểm b Khoản 3 Nghị quyết35/2000 khác với trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước Luật HN-GĐnăm 1986 có hiệu lực (trước 03/01/1987) và sau Luật HN-GĐ năm 1986 cóhiệu lực (từ 01/01/2001) là quy định một thời hạn để họ đi đăng kí kết hôn.Thời hạn "đăng kí chậm" 2 năm này để giành quyền cho họ hợp pháp hoáquan hệ vợ chồng Và như vậy, có thể có các khả năng như sau:
- Trường hợp 1: Họ xin ly hôn trong thời gian "đăng kí chậm" Trong thờihạn này, họ không đăng kí kết hôn mà yêu cầu xin ly hôn thì "Toà án áp dụng
Trang 15các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết" Có nghĩa
là hôn nhân đã có của họ được công nhận là hợp pháp từ thời điểm xác lập đếnthời điểm cho ly hôn: các quyền và nghĩa vụ pháp lý xuất hiện trong thời kì hônnhân này giống như các quan hệ hôn nhân hợp pháp khác
Ví dụ: Ông A và và B chung sống với nhau như vợ chồng từ 01/01/1988không có đăng kí kết hôn Năm 1995, ông A mua được một ngôi nhà (không
có công sức của bà B) Năm 1999, ông A bán nhà cho ông C (bà B khôngđồng ý bán nhà) Ngày 2/1/2001, ông A xin ly hôn bà B Tòa án có cơ sở xácđịnh cho ly hôn và xác định ngôi nhà mua năm 1995 là tài sản chung để phânchia cho ông A và bà B; hợp đồng mua bán nhà giữa ông A với ông C là vôhiệu
- Trường hợp 2: Họ đăng kí kết hôn trong thời gian "đăng kí chậm" Quan
hệ hôn nhân của họ được công nhận hợp pháp kể từ thời điểm xác lập Trong
ví dụ nêu trên, nếu ông A và bà B đi đăng kí kết hôn vào ngày 02/01/2001,sau đó mới xin ly hôn và đến ngày 1/1/2004 mới được xét cho ly hôn thì thời
kỳ hôn nhân hợp pháp của ông A và B là từ 1/1/1988 đến 1/1/2004 chứ khôngphải chỉ từ 2/1/2001 (ngày đăng kí kết hôn) đến ngày cho ly hôn Và như vậy,ngôi nhà tạo lập năm 1995 vẫn là tài sản chung của vợ chồng
- Trường hợp 3: Đến 15/01/2003, ông A và bà B mới đăng kí kết hôn.Trường hợp này, quan hệ hôn nhân hợp pháp của ông A và bà B chỉ được tính
kể từ thời điểm kết hôn (15/01/2003) Và như vậy, ngôi nhà tạo lập năm 1995
là tài sản có trước hôn nhân, nó đương nhiên là tài sản riêng của ông A Quangày 01/01/2003 họ không đăng kí kết hôn là họ đã tự xoá khả năng côngnhận thời kỳ hôn nhân hợp pháp của toàn bộ quá trình chung sống trước đó
- Trường hợp 4: Sau ngày 01/01/2003, ông A và bà B không đăng kí kết
hôn và một trong hai người xin ly hôn thì phải xử không công nhận là vợ
chồng Thậm chí, họ không được Toà án xử cho ly hôn mà tự đi kết hôn với
người khác thì hôn nhân mới không bị coi là vi phạm chế độ một vợ mộtchồng (vì sau ngày 01/01/2003 quan hệ chung sống trước đó giữa ông A và
bà B đương nhiên bị coi là không hợp pháp)
2.4.3 Vi phạm về tuổi kết hôn
Vi phạm về độ tuổi kết hôn là trường hợp một trong hai bên hoặc cả haibên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độtuổi còn được gọi là tảo hôn
Luật HN-GĐ năm 1959, 1986 và 2000 đều quy định độ tuổi kết hôn là:
“Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên" Đến Luật
HN-GĐ hiện nay thì quy định về độ tuổi có sửa đổi Theo Điều 8 Luật HN- HN-GĐthì“nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” Như vậy, Luật HN-
GĐ hiện hành nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành đủ 18 tuổi thay vì vừa bước
qua tuổi 18 như quy định tại các Luật HN-GĐ trước đây; độ tuổi kết hôn củanam là đủ 20 tuổi thay cho vừa bước qua tuổi 20 Sự sửa đổi này để phù hợpvới quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự Đó là, theo Bộluật Dân sự người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thựchiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, còn
Trang 16theo Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới
có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
Như vậy, nếu từ trước ngày 01/01/2015 mà nam chưa bước qua tuổi 20,
nữ chưa bước qua tuổi 18; từ ngày 01/01/2015 nam chưa đủ 20, nữ chưa đủ
18 tuổi mà kết hôn thì việc kết hôn giữa họ là trái quy định pháp luật và cầnđược hủy bỏ Tuy nhiên, tại Điểm d1, Mục D, Phần 2 Nghị quyết số02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tốicao có quy định hướng dẫn: đối với trường hợp nếu đến thời điểm có yêu cầuhuỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian
đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì khôngquyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và
có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết
ly hôn theo thủ tục chung Đây là quy định cho trường hợp kết hôn trước01/01/2015 Trường hợp tảo hôn trong thời kỳ thi hành Luật HN-GĐ hiệnhành có quy định cụ thể là quan hệ hôn nhân được công nhận xác lập “từ thờiđiểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định” (Khoản 2 Điều 11 LuậtHN-GĐ) Do đó, đối với việc tảo hôn trước 01/01/2015 thì khi xác định thờiđiểm xác lập hôn nhân hợp pháp vẫn phải theo quy định của Luật HN-GĐ là
từ thời điểm đủ tuổi kết hôn theo quy định tương ứng (trước 01/01/2015 họ
đủ tuổi theo Luật HN-GĐ năm 2000 thì công nhận hôn nhân từ ngày đó,chưa đủ tuổi theo Luật HN-GĐ năm 2000 thì sau 01/01/2015 phải tính theoquy định về tuổi của Luật mới)
2.5 Ly hôn
2.5.1 Về chủ thể và điều kiện xin ly hôn
Luật HN-GĐ hiện hành quy định về chế định ly hôn đã bổ sung thêm cácđối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồnghoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì từngày 01/01/2015, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giảiquyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác
mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạnnhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọngđến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ Trường hợp này thì Tòa án giảiquyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đìnhlàm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của ngườikia
Cần lưu ý là:
- Pháp luật quy định thêm một số chủ thể có quyền yêu cầu ly hôn thìchính người vợ hoặc chồng vẫn là nguyên đơn như hướng dẫn tại Nghị quyết05/2012/ NQ-HĐTP
- Việc bị bác yêu cầu xin ly hôn thì sau một năm, kể từ ngày bản án bácyêu cầu xin ly hôn có hiệu lực pháp luật mới lại được yêu cầu Tòa án giảiquyết việc ly hôn quy định tại Điểm c Mục 10 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP vẫn được thi hành
2.5.2 Căn cứ cho ly hôn
Trang 17Theo quy định tại Điều 56 Luật HN-GĐ thì các căn cứ để Tòa án cho lyhôn bao gồm một trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chungkhông thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được (Khoản 1);
- Thứ hai, bị đơn đã bị Toà án tuyên bố mất tích (Khoản 2);
- Thứ ba, bị đơn là người có hành vi bạo lực gia đình với người vợ hoặcchồng có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần (Khoản 3)
Tất cả các luật hôn nhân và gia đình (1959, 1986, 2000, 2014) đều có quy
định giống nhau về một căn cứ cho ly hôn khi xét thấy hôn nhân đã ở “tình trang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Do quy định của Luật giống nhau nên có thể áp
dụng hướng dẫn của Mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành LuậtHN-GĐ năm 2000 về căn cứ trên Cụ thể là:
Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi (Điểm a.1):
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhưngười nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồngmuốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổchức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thườngxuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và
uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức,đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đãđược người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơquan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoạitình
Cơ sở nhận định đời sống chung không thể kéo dài (Điểm a.2.): Thực tế
phải cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục cóquan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếptục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận địnhrằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được
Mục đích của hôn nhân không đạt được (Điểm a.3.):Là tình trạng không
có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ,chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạođiều kiện cho nhau phát triển mọi mặt
Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố ngườichồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho lyhôn thì trong trường hợp nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyếtcho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thìbác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng (Điểm b.1 Mục 8 Nghịquyết 02/2000/NQ-HĐTP)
Trang 18Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầucủa người có quyền, lợi ích liên quan Sau khi có quyết định của Toà ántuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thìngười chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó.Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn (Điểm b.2 Mục 8 Nghịquyết 02/2000/NQ-HĐTP.
3 KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 3.1 Thụ lý vụ án
3.1.1 Xác định các điều kiện thụ lý vụ án
3.1.1.1 Xác định điều kiện về chủ thể khởi kiện
Chủ thể khởi kiện trong các vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình cónhững đặc trưng khác biệt với vụ án dân sự thông thường căn cứ vào từng loạitranh chấp về hôn nhân và gia đình mà Tòa án giải quyết
Thông thường, các vụ án về ly hôn thì chủ thể khởi kiện chỉ có thể là vợ,chồng mới có quyền khởi kiện vì quan hệ hôn nhân là quyền nhân thân của họ
mà không thể chuyển giao cho người khác Tuy nhiên, theo Điều 51 Luật
HN-GĐ thì cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn chobên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình dochồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe,tinh thần của họ (Khoản 2 Điều 51) Quy định này là một quy định mới và là baogồm các yếu tố quy định ở Khoản 2 chứ không phải là một trong các yếu tố củaKhoản 2
Đối với các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình như tranh chấp vềthay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng, sau khi đã có bản án, quyết định có hiệulực pháp luật, nếu điều kiện nuôi con, cấp dưỡng thay đổi, thì người cha hoặc
mẹ có quyền khởi kiện tại Toà án để yêu cầu thay đổi người nuôi con, thay đổi
về mức cấp dưỡng Chủ thể khởi kiện cũng không nhất thiết phải là người vợhoặc người chồng trong quan hệ hôn nhân mà có thể là người thân thích, các cơquan, tổ chức xã hội khác cũng có quyền khởi kiện Theo quy định tại Khoản 1,
2 Điều 119 Luật HN-GĐ thì:
“1 Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.”
Trang 19Bên cạnh đó, Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra về những điều kiện hạnchế khởi kiện vụ án HN-GĐ Đó là trường hợp người vợ đang có thai, sinh conhoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyềnkhởi kiện xin ly hôn (Khoản 3 Điều 51 Luật HN-GĐ); trường hợpđối với người
có đơn yêu cầu xin ly hôn mà bị Toà án bác đơn xin ly hôn thì sau một năm, kể
từ ngày bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật,người đó mới lại được yêu cầu Toà án giải quyết việc xin ly hôn (Điểm c Mục
10 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩmphán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN-
GĐ năm 2000)
Trong thực tế, việc giả mạo tư cách đương sự trong vụ án ly hôn xảy ranhiều hơn các vụ án dân sự thông thường Do vậy, việc kiểm tra giấy tờ tùy thâncũng như các loại giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người khởi kiện cầnđược lưu ý
3.1.1.2 Xác định điều kiện về thẩm quyền của Toà án
Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án tranh chấp là một trong những yêucầu quan trọng khi kiểm tra điều kiện thụ lý vụ án Việc kiểm tra điều kiện thẩmquyền giải quyết vụ án tranh chấp theo loại việc, thẩm quyền theo cấp xét xử,thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn đối với
vụ án HN-GĐ cần lưu ý những vấn đề sau
Thẩm quyền theo loại việc:
Các tranh chấp về HN-GĐ đã được xác định theo quy định tại Điều 28 củaBLTTDS Đặc trưng phân biệt vụ án và việc dân sự là có tranh chấp hay không
có tranh chấp Không rõ là thỏa thuận thì cũng phải coi là có tranh chấp Nếuđơn khởi kiện do một bên yêu cầu ký tên ở mục người khởi kiện mà không biếtđương sự phía bên kia có đồng ý hay không thì phải xác định đó là vụ án tranhchấp
Thẩm quyền theo cấp Toà án:
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp được xác định theo quy định tạicác Điều 35 và 37 của BLTTDS.Đối với vụ án HN-GĐ cần lưu ý thêm các vấn
đề sau:
- Quy định về “đương sự ở nước ngoài” hay bị nhầm lẫn với trường hợpđương sự là “người nước ngoài” Vợ hoặc chồng (hoặc đương sự khác trong vụán) là người nước ngoài nhưng cư trú ở Việt Nam thì vẫn thuộc thẩm quyền củaTòa án cấp huyện
- Trường hợp không thay đổi thẩm quyền quy định ở Điều 471 là trườnghợp thường xảy ra trong vụ án ly hôn Khi thụ lý, hai vợ chồng và các đương sựkhác đều ở trong nước nhưng trong quá trình giải quyết mới có đương sự ranước ngoài, và ngược lại Cần lưu ý đến quy định “ở nước ngoài” chứ khôngphải chỉ tạm thời ra nước ngoài
Ngoài ra, cần lưu ý quy định riêng biệt tại Khoản 3 Điều 123 Luật HN-GĐ
về thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện đối với các tranh chấp
về ly hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ,con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên
Trang 20giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với ViệtNam Khoản 3 Điều 123 Luật HN-GĐ quy định:
“3 Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám
hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam”
Khu vực biên giới quy định ở Khoản 3 nêu trên là các xã, phường, thị trấngiáp biên giới Hiện tại cần xác định theo Danh sách các xã, phường, thị trấnthuộc khu vực biên giới đất liền kèm theo Thông tư 179/2001/TT-BQP ngày22/01/2001 của Bộ Quốc phòng Theo danh sách này thì có 400 đơn vị cấp xãthuộc 93 huyện của 23 tỉnh biên giới đất liền
Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ
Xác định thẩm quyền giải quyết của Toà án theo lãnh thổ, về nguyên tắc,phải căn cứ vào Điều 39, Điều 40 của BLTTDS và tham khảo hướng dẫn trướcđây tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP Đối với các vụ án tranh chấp hônnhân và gia đình nói chung thì Toà án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơthẩm là Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc Trong trường hợp bị đơn cư trú ở mộtnơi nhưng làm việc ở một nơi thì phải xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa
án là nơi bị đơn cư trú Trong một số trường hợp bị đơn ở một nơi, hộ khẩu mộtnơi, làm việc một nơi thậm chí có trường hợp tạm trú một nơi nên việc xác địnhthẩm quyền của Tòa án cũng gặp khó khăn Trường hợp này chúng ta phải căn
cứ vào Điều 40 BLDS 2015 để xác định nơi cư trú là nơi người đó thường xuyênsinh sống Trong trường hợp không xác định được nơi người đó thường xuyên
sinh sống thì nơi cư trú là nơi người đó đang sống để xác định thẩm quyền của
Tòa án theo lãnh thổ
Trong vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn khi nơi
cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản tranh chấp khác nhau thì Tòa án cóthẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi cư trú của bị đơn chứ không phải nơi có bấtđộng sản như vụ án dân sự thông thường (Mục 1 Phần IV Giải đáp số01/2017/GĐ-TANDTC) Trường hợp chia tài sản sau khi ly hôn thì do không cóquan hệ tranh chấp về hôn nhân và nuôi con chung nên thẩm quyền giải quyết lànơi có bất động sản tranh chấp
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Khi giải quyết vụ án HN-GĐ, việc xác định thẩm quyền Tòa án theo sự lựachọn của nguyên đơn, vấn đề xác định “nơi cư trú, làm việc, có trụ sở cuốicùng”, vấn đề dấu địa chỉ được giải quyết như quy định đối với vụ án dân sựthông thường và Nghị quyết 04/2017/NQ0-HĐTP
Đối với việc tranh chấp về cấp dưỡng thì nguyên đơn có thế yêu cầu Tòa ánnơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết (Điểm c Khoản 1 Điều 40BLTTDS)
3.1.1.3 Về nộp tiền tạm ứng án phí:
Trang 21Tạm ứng án phí là khoản tiền mà người khởi kiện có nghĩa vụ phải nộp đểToà án thụ lý giải quyết vụ án Toà án chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện xuấttrình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Sau khi kiểm tra các điều kiện thụ lý vụ
án xét thấy đương sự đáp ứng được đầy đủ thì Thẩm phán tiến hành thông báonộp tạm ứng án phí sơ thẩm cho người khởi kiện biết, trừ trường hợp họ đượcmiễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định
Trong các tranh chấp về Hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28BLTTDS thì chỉ có trường hợp người yêu cầu về cấp dưỡng, xin xác định cha,
mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự làđược miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí (Điều 12 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí và lệ phí tòa án); mức nộp tạm ứng án phí trong các tranh chấp vềHôn nhân và gia đình thường là loại không có giá ngạch, còn nếu có tranh chấp
về tài sản thì ngoài việc phải nộp tạm ứng án phí không có giá ngạch thì đương
sự còn phải nộp tạm ứng án phí đối với giá trị tài sản tranh chấp theo loại có giángạch Thông báo nộp tạm ứng án phí được soạn thảo theo mẫu số 29-DS banhành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
Mức tạm nộp án phí được dự tính theo mức án phí mà mỗi đương sự phảinộp Đối với vụ án HN-GĐ, có một số quy định khác với vụ án dân sự thôngthường cần lưu ý là:
- Nguyên đơn xin ly hôn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn
- Đương sự phải chịu án phí với phần tài sản tranh chấp tương ứng với giátrị phần tài sản mà họ được chia
- Đương sự không phải chịu án phí đối với phần tài sản mà họ đã thỏathuận trước khi Tòa án tiến hành hòa giải và chỉ yêu cầu Tòa án ghi nhận trongbản án, quyết định
- Sau khi Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự thỏa thuận được việcphân chia một số tài sản chung nhưng một số không thỏa thuận được thì đương
sự vẫn phải chịu án phí đối với toàn bộ tài sản
- Vợ, chồng vẫn phải chịu án phí với phần nghĩa vụ tài sản giao cho họ
3.1.2 Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình
Thụ lý vụ án dân sự là chính thức xác nhận bắt đầu giải quyết vụ án vớinhững yêu cầu và những đương sự cụ thể mặc dù trong quá trình giải quyết cóthể có việc bổ sung, thay đổi yêu cầu và cũng có thể dẫn đến thay đổi về đươngsự
Trong vụ án hôn nhân và gia đình thì tên vụ án ly hôn chỉ bao gồm tên vợchồng, các vụ án khác thì vẫn theo nguyên tắc đặt tên chung của vụ án dân sự.Lưu ý rằng vụ án HN-GĐ thường có nhiều yêu cầu, nhiều người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan, không thể đặt tên vụ án với sự liệt kê tất cả các quan hệ tranhchấp và tên, địa chỉ của tất cả các đương sự
Trong vụ án ly hôn hoặc chia tài sản sau khi ly hôn thường có những yêucầu của vợ hoặc chồng về quyền tài sản hoặc nghĩa vụ tài sản đối với người thứ
ba Trong trường hợp này, không thể coi người thứ ba là người có yêu cầu độc
Trang 22lập (họ không phải có đơn, không phải nộp tạm ứng án phí, họ không bị coi là từ
bỏ yêu cầu khi vắng mặt…) vì người yêu cầu đã là người vợ hoặc người chồng
Ví dụ: Người chồng xin ly hôn và yêu cầu xác định trách nhiệm trả nợ mộtkhoản vay của Ngân hàng Ngân hàng cho rằng nợ chưa đến hạn theo hợp đồngnên không yêu cầu Tòa án giải quyết Trong trường hợp này Tòa án vẫn phải xácđịnh việc giải quyết trách nhiệm trả nợ Ngân hàng đã có yêu cầu, Ngân hàng làNgười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (việc Ngân hàng có mặt hayvắng mặt không ảnh hưởng đến địa vị tố tụng đã được xác định của họ)
3.2 Xây dựng hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình
3.2.1 Hướng dẫn xuất trình tài liệu, chứng cứ
Thông thường trong vụ án về ly hôn thì các giấy tờ ban đầu mà nguyên đơnnộp kèm theo đơn khởi kiện (có thể là bản sao có công chứng) để làm căn cứ thụ
lý vụ án bao gồm:
- Giấy đăng ký kết hôn;
- Giấy khai sinh của các con chưa thành niên (nếu có con);
- Giấy chứng minh thư hoặc sổ hộ khẩu của nguyên đơn, bị đơn, người cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- Hộ chiếu của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan(nếu đương sự ở nước ngoài);
- Các lọai giấy tờ chứng minh về tài sản chung, tài sản riêng (nếu có yêucầu phân chia)…
Các loại giấy tờ nêu trên nếu không có công chứng thì đương sự phải xuấttrình bản chính để Tòa án so sánh, đối chiếu nhằm xác định tính xác thực củacác loại giấy tờ đó Cần lưu ý là yêu cầu đương sự xuất trình tài liệu, chứng cứkèm theo đơn khởi kiện không có nghĩa là xuất trình ngay toàn bộ tài liệu chứng
cứ mà các đương sự còn được nộp trong quá trình giải quyết vụ án (theo trình tự,thời hạn được pháp luật quy định)
Tòa án có thể hướng dẫn việc nộp các tài liệu chứng cứ cùng với hướngdẫn làm đơn khởi kiện hoặc bản hướng dẫn riêng
3.2.2 Hướng dẫn tự khai.
Bản tự khai là một nguồn chứng cứ quan trọng Làm tốt việc tự khai là thựchiện tốt nguyên tắc tự chứng minh, tự định đoạt của đương sự và nguyên tắctranh tụng Trong vụ án HN-GĐ, nhất là vụ án ly hôn thì việc tự khai càng quantrọng vì các sự kiện pháp lý xảy ra trong thời gian dài, da dạng, gắn liền với yếu
tố nhân thân nên làm tốt việc tự khai sẽ giúp việc thu thập chứng cứ nhanhchóng, đầy đủ, có giá trị pháp lý cao
Cần phải có bản hướng dẫn tụ khai chi tiết Đối với vụ án ly hôn điển hình(bao gồm cả tranh chấp về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung, chia tài sản), cần
hướng dẫn tự khai các vấn đề cơ bản như sau:
-Về quan hệ hôn nhân:
+ Các tình tiết để xác định quan hệ vợ chồng là hợp pháp hay không hợppháp như: Thời điểm kết hôn? Có đầy đủ các điều kiện kết hôn theo pháp luậtquy định không? Nếu có vi phạm thì cụ thể là vi phạm gi? Đã khắc phục được viphạm chưa?
Trang 23+ Các tình tiết thể hiện tình trạng mâu thuẫn vợ chồng như: Chung sốnghạnh phúc đến khi nào? Các mâu thuãn lớn làm gián đoạn cuộc sống hạnh phúc?Hai bên đã khắc phục những mâu thuẫn lớn đó như thế nào? Tình trạng sốngchung hiện nay? Đánh giá về tình cảm của vợ chồng? Yêu cầu Tòa án giải quyết
về quan hệ hôn nhân thế nào?
- Về việc nuôi con chung: Họ tên, ngày tháng năm sinh của các con? Aiđang trực tiếp nuôi con? Quá trình nuôi con có diễn biến, thay đổi gì đặc biệt?Tình trạng thu nhập của vợ, chồng hiện nay? Nguyện vọng của các con nếu cha
mẹ ly hôn? Yêu cầu cụ thể về việc nuôi con sau khi ly hôn như ai trực tiếp nuôi?Mức cấp dưỡng nuôi con? Phương thức cấp dưỡng nuôi con? Có yêu cầu gì đặcbiệt về nuôi con sau ly hôn không?
- Về chia tài sản:
+ Những thỏa thuận về chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án ghi nhận?+ Những tài sản có tranh chấp: Tranh chấp về việc xác định tài sản chunghay tài sản riêng? Tranh chấp về chia tài sản như thế nào? Những tài sản liênquan đến những người khác có yêu cầu phân chia? Những quyền tài sản haynghĩa vụ tài sản (khoản thu hoặc khoản nợ) của vợ chồng cần phân chia?
Đối với các loại tranh chấp HN-GĐ khác (không phải vụ án ly hôn điểnhình) cũng cần có hướng dẫn tự khai cho từng loại việc căn cứ vào đặc điểm củaquan hệ tranh chấp
- Trong các trường hợp nêu trên, khi xét thấy cần thiết, Tòa án có thể thamkhảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhànước về trẻ em hoặc mời các cơ quan này chứng kiến việc hỏi người chưa thànhniên
Thủ tục tố tụng tiến hành với người chưa thành niên được quy định: “phảibảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năngnhận thức của người chưa thành niên, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bímật cá nhân của người chưa thành niên”
Tại Mục 25 Phần IV Giải đáp 01/2017 của TAND tối cao đã hướng dẫn về
“cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em”, trong đó lưu ý về một cơ quan
có nhiều thuận lợi cho việc cho việc cung cấp thông tin là UBND cấp xã
Việc thu thập chứng cứ trong vụ án hôn nhân và gia đình cần chú ý về nộidung là:
- Bổ sung cho những nội dung còn thiếu của tự khai;
- Làm rõ những điểm tranh chấp;
Trang 24- Trình tự thông thường là đầy đủ 3 quan hệ gồm hôn nhân, nuôi conchung, chia tài sản.
Việc chia tài sản được thu thập chứng cứ theo phạm vi yêu cầu chia tài sảncủa các đương sự Trong vụ án HN-GĐ cần chú ý có một loại tài sản đã đượccác đương sự thỏa thuận chia trước khi Tòa án hòa giải nhưng yêu cầu Tòa áncông nhận Đối với những tài sản đương sự chưa yêu cầu chia thì Tòa án không
đề cập tới; tránh tuyên bố là “không còn tài sản chung” dẫn tới khó khăn choviệc giải quyết sau này khi có tranh chấp
Vụ án HN-GĐ cũng là loại vụ án thường phải ủy thác tư pháp ở nướcngoài Trong trường hợp thực hiện quy định về không thay đổi thẩm quyền giảiquyết vụ án quy định tại Điều 471 BLTTDS thì cả Tòa án cấp huyện cũng phảithực hiện việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài Việc thông báo, tống đạt, ủy thácthu thập chứng cứ ở nước ngoài cần chú ý là: BLTTDS đã có nhiều quy định cụthể mới, pháp điển hóa nhiều hướng dẫn trước đây Trong trường hợp BLTTDSchưa có quy định khác thì vẫn có thể áp dụng hướng dẫn trước BLTTDS Vềtrình tự, thủ tục tương trợ tư pháp cần lưu ý đã có Thông tư liên tịch số12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, BộNgoại giao, Tòa án nhân dân tối cao thay thế cho Thông tư liên tịch số15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011
3.2.4 Hoà giải vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, hoàgiải là một thủ tục tố tụng rất quan trọng Khác với những vụ án dân sự khác,căn cứ vào mối quan hệ đặc biệt của đương sự và tính đặc thù trong quan hệ hônnhân và gia đình nên Tòa án cần tiến hành hoà giải, phân tích hậu quả của việcphải ly hôn để họ suy nghĩ lại nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng Vìthế, Thẩm phán có thể thực hiện việc hòa giải sớm mà không cần phải chờ tớiviệc thu thập chứng cứ về tranh chấp nuôi con, tài sản tương đối đầy đủ mới tiếnhành hòa giải Khi tiến hành hòa giải Thẩm phán cần chú ý các trường hợpkhông được hoà giải là trường hợp mà quan hệ hôn nhân không hợp pháp (Điều
206 BLTTDS) và các trường hợp không tiến hành hoà giải được bao gồm:Trường hợp quy định tại Điều 207 BLTTDS do bị đơn cố tình vắng mặt đến lầnthứ hai; đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng (ở nước ngoài, ở trạigiam…); bị đơn mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dânsự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ cần hoà giải giữacác đương sự liên quan, không ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của ngườiliên quan khác (Điều 209 BLTTDS) Ví dụ: về một khoản nợ chung, chỉ cần hoàgiải giữa chủ nợ và vợ chồng (không cần sự có mặt của các chủ nợ khác)
Để buổi hoà giải đạt kết quả tốt, Thẩm phán cần xây dựng kế hoạch hoàgiải Khi hoà giải luôn thể hiện thái độ mềm dẻo, thân thiện trong giao tiếp và có
kỹ năng lắng nghe những điều đương sự trình bày Chọn đúng thời điểm thíchhợp để tác động đến suy nghĩ, tâm tư của mỗi bên để định hướng họ đến sự đoàn
tụ gia đình Trong trường hợp hòa giải để vợ chồng đoàn tụ không thành thì
Trang 25Thẩm phán mới tiến hành hòa giải về việc nuôi con chung và phân chia tài sản,xác định trách nhiệm của vợ chồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
3.2.5 Ra các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình
Về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Những biện pháp khẩn cấp tạm thời thường có yêu cầu áp dụng trong quátrình giải quyết vụ án HN-GĐ là: Giao người chưa thành niên, người mất nănglực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cácnhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; buộc thựchiệntrước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình;cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định
Trong thực tế, có xu hướng ngại áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
về hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy thường là khi cònđang giải quyết vụ án thì các đương sự có thái độ hợp tác hơn là khi đã giảiquyết xong vụ án Do vậy, cần cân nhắc, kiên quyết trong việc áp dụng các biệnpháp khẩn cấp tạm thời đối với vụ án HN-GĐ
Việc quản lý, sử dụng tài sản chung của vợ chồng hiện nay có nhiều hìnhthức đa dạng, liên quan đến người thứ ba như các cá nhân, doanh ngiệp Do vậy,việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về tài sản cần cân nhắc đến lợi ích củanhững người có quyền lợi liên quan, lợi ích của việc bảo tồn và khai thác tài sản
Về quyết định đình chỉ giải quyết vụ án:
Đối với vụ việc về HN-GĐ thì có trường hợp quyết định đình chỉ không cónghĩa là dừng hẳn việc giải quyết yêu cầu của các đương sự mà chỉ là thay đổihình thức giải quyết (đình chỉ việc yêu cầu thuận tình ly hôn chuyển sang thụ lý
vụ án ly hôn) Trong trường hợp thụ lý vụ án ly hôn nhưng sau đó vợ chồngthuận tình ly hôn thì Tòa án áp dụng thủ tục riêng chứ không áp dụng thủ tụcchung về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Cụ thể là sử dụng Mẫu 37-
DS (Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành) và Mẫu 40-DS(Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự).Trong trường hợp người xin ly hôn rút yêu cầu ly hôn thì phải coi là họ rút
cả yêu cầu về nuôi con và chia tài sản Việc rút yêu cầu không đòi hỏi họ phảilàm đơn riêng về việc rút yêu cầu Đây là trường hợp Tòa án ra quyết định đìnhchỉ giải quyết vụ án như các vụ án dân sự thông thường khác nên không đượctính là việc hòa giải thành
Trong trường hợp Tòa án hòa giải và vợ chồng đoàn tụ thì Tòa án không sửdụng Biên bản hòa giải thành (Mẫu 36-DS) mà sử dụng Biên bản hòa giải (Mẫu34-DS) và ra quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Mẫu 45-DS) Đâycũng là trường hợp đương sự đã rút lại yêu cầu ly hôn nên phải đình chỉ giảiquyết vụ án Không ra Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành như hườngdẫn của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn thi hànhLuật HN-GĐ năm 2000 Tuy vẫn là quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án nhưngđược tính là vụ việc Hòa giải thành
Trang 263.3 Phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp về hôn nhân vàgia đình cũng được thực hiện theo quy định về việc xét xử sơ thẩm các vụ ándân sự nói chung.Tuy nhiên, việc xét xử các vụ án về tranh chấp hôn nhân và giađình có những đặc trưng riêng biệt đòi hỏi người Thẩm phán phải có kỹ năngnhận diện, phân tích, động viên, hòa giải đồng thời phải có kiến thức xã hội sâusắc, am hiểu về tâm lý gia đình dựa trên những đặc thù của mối quan hệ hônnhân để ra một bản án thật sự khách quan, toàn diện và đúng quy định của phápluật
Phiên tòa về tranh chấp hôn nhân và gia đình có một số đặc điểm cần lưu ýnhư sau:
- Các đương sự có quan hệ gia đình nên chú ý sử dụng đại tự nhân xưnghợp lý
- Phiên tòa ly hôn điển hình có 3 quan hệ tranh chấp, cần định hướng chođương sự trình bày, hỏi các đương sự khác…cũng theo trình tự quan hệ hônnhân, việc nuôi con chung sau khi ly hôn, việc chia tài sản
- Vụ án ly hôn rất dễ xảy ra tình trạng xúc phạm lẫn nhau khi trình bày vềnhững mâu thuẫn Cần có can thiệp kịp thời khi chưa đến mức căng thẳng Cầnphải cho đương sự thấy rằng họ cần có sự bình tĩnh, nghiêm túc, có văn hóa thìphiên tòa mới diễn ra nghiêm minh, bảo vệ tốt quyền lợi của họ
- Hạn chế việc triệu tập con vị thành niên đến phiên tòa
- Cần để cho đương sự thấy rằng phiên tòa ly hôn là khép lại một giai đoạntồi tệ, mở ra một giai đoạn mới tốt hơn, đề cao nghĩa vụ với tương lai con cáicủa họ
3.4.Bản án Hôn nhân và gia đình
Bản án HN-GĐ phải tuân theo những nguyên tắc và yêu cầu chung của bản
án dân sự Tuy nhiên, căn cứ vào những đặc thù của vụ án HN-GĐ (đã nêu ởTiểu mục 1.3.), bản án HN-GĐ cũng có những đặc điểm riêng, những vấn đềcần lưu ý cho phù hợp với đặc thù của vụ án HN-GĐ Đặc điểm của vụ án HN-
GĐ điển hình thường gồm 3 quan hệ tranh chấp có cấu trúc và quan hệ đặc biệtnên trong từng phần của bản án HN-GĐ cũng thể hiện đặc điểm này; các phầncủa bản án HN-GĐ đều phải đề cập lần lượt đến quan hệ hôn nhân, quan hệ vềnuôi con chung, quan hệ về chia tài sản
3.4.1 Phần Nội dung vụ án
Khi mô tả về quan hệ hôn nhân cần chú ý về chọn lọc sự kiện đúng và đủ
để phản ánh yêu cầu cơ bản là tính chất của hôn nhân và tình trạng của hônnhân; chú ý đến đặc điểm tranh chấp về tài sản là nhiều loại tranh chấp khácnhau, mức độ tranh chấp khác nhau
Ngoài yêu cầu chung nêu trên, cần lưu ý về một số vấn đề đang có lúngtúng trong thực tiễn xét xử như:
- Sử dụng đại từ chỉ người khi viết bản án không chính xác;
- Mô tả người đại diện như là đương sự;
- Sử dụng từ ngữ không theo luật;