TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN Học phần Kinh tế chính trị Mác Lê nin ĐỀ TÀI THẢO LUẬN LÝ LUẬN LÝ LUẬN TÍCH LŨY VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN TÍCH LŨY, THỰC TRẠNG TÍCH LŨY TƯ BẢN Ở VIỆT NAM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BÀI THẢO LUẬN Học phần: Kinh tế chính trị Mác Lê-nin
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: LÝ LUẬN LÝ LUẬN TÍCH LŨY VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN TÍCH LŨY
Giáo viên hướng dẫn: Tống Thế Sơn
Nhóm thực hiện: 04 Lớp học phần: 2244RLCP1211
Hà Nội – 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 Lý luận về tích lũy cơ bản 7
1.1.1 Khái niệm về tích lũy tư bản: 7
1.1.2 Bản chất của tích lũy tư bản: 7
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy 8
1.1.4 Hệ quả của tích lũy tư bản 10
1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy tư bản 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG 11
2.1 Tại sao phải tích lũy vốn? 11
2.2 Thực trạng lý luận tích lũy tư bản ở Việt Nam 12
2.3 Đánh giá 14
2.3.1 Thuận lợi 14
2.3.2 Khó khăn 15
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP 16
3.1 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy - tiêu dùng: 17
3.2 Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn: 17
3.3 Tích lũy vốn trong nước: 17
3.4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: 18
KẾT LUẬN 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Tích lũy tư bản là sự đòi hỏi khách quan của bất cứ một giai đoạn phát triển nào ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới Nếu không tích lũy và huy động nguồn lực tư bản cho quốc gia mình thì nền kinh tế xã hội quốc gia đó
sẽ không phát triển mạnh mẽ và cường thịnh được Cụ thể trong doanh nghiệp, vấn đề tích luỹ vốn được xem là yếu tố để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất tăng khả năng cạnh tranh Cho nên đối với Việt Nam tích lũy luôn là điều kiện tiên quyết
để tái sản xuất mở rộng Có tích lũy mới có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đưa đất nước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa
xã hội mà chúng ta đã lựa chọn Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì nhu cầu
về vốn để xây dựng các công trình nền tảng và cái tiến kỹ thuật áp dụng khoa học tiên tiến là càng cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết
Thấy được tính cấp thiết của vấn đề, nhóm em quyết định chọn đề tài thảo luận: “Lý luận tích luỹ và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích luỹ” Đề tài cho ta thấy được vai trò và tầm quan trọng của tích luỹ đối với nền kinh tế của 1 quốc gia
Nhờ sự hướng dẫn và giúp đỡ của giảng viên Tống Thế Sơn mà chúng em có thể hoàn thành đề tài này Trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhóm 4 mong sẽ nhận được những lời góp ý đề bài thảo luận được hoàn thiện hơn
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lý luận về tích lũy cơ bản
1.1.1 Khái niệm về tích lũy tư bản:
Tích lũy tư bản, trong kinh tế chính trị Mác - Lênin, là việc biến một bộ phận giá trị thặng dư trở lại thành tư bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác, nó đơn giản là sự hình thành tư bản (tăng lượng vốn dưới hình thức
tư bản cố định và lưu kho của chính phủ và tư nhân)
Đặc trưng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tái sản xuất mở rộng Muốn vậy, cần phát triển một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm Việc biến giá trị thặng dư trở lại tư bản gọi là tích lũy tư bản Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư
Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích luỹ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản Quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa, nhưng sự biến đổi đó không vi phạm quy luật giá trị Động lực thúc đẩy tích luỹ tư bản là quy luật giá trị thặng dư và cạnh tranh
1.1.2 Bản chất của tích lũy tư bản:
- Tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (tư bản mới) Các giá trị thông qua đầu tư sẽ mang đến các giá trị mới được sinh ra Nếu xét ở thời điểm này, nó được xem là tư bản mới Nhưng khi sử dụng nó để thực hiện đầu tư, nó lại đóng vai trò là tích lũy tư bản Thông thường, các giá trị thặng dư sẽ được sử dụng một phần để tham gia vào các tích lũy mới
- Nhà tư bản mong muốn giàu lên với các nắm giữ lớn hơn cho giá trị thặng dư Cho nên nhu cầu trong đầu tư luôn được thể hiện Trong tính chất sản xuất hay kinh doanh, họ mua giá trị từ hàng hóa sức lao
Trang 5động của công nhân Từ đó tiến hành công việc để tìm kiếm giá trị từ hàng hóa được tạo ra Cũng chính các tính toán đó mà sau khi trừ các chi phí ban đầu, họ vẫn nhận về cho mình những giá trị thặng dư
- Các lợi ích ổn định có thể được tìm kiếm khi sản xuất hay kinh doanh được tiến hành ổn định Nhà tư bản với nhu cầu trong tiêu dùng hay tích lũy cũng không dừng lại Do đó mà tái sản xuất là bản chất của tích lũy tư bản
- Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại không ngừng Tính chất thực hiện hoạt động bên cạnh các lợi thế và tiềm năng mà nhà tư bản xác định Đồng thời, với tham vọng tìm kiếm lợi ích, nhà tư bản cũng xây dựng chiến lược cho việc mở rộng quy mô Điều này thể hiện với các đổi mới trong dây chuyền sản xuất, bằng việc thay thế các tư liệu sản xuất phù hợp Các nhân công cũng cần thiết đáp ứng tiêu chí lao động ngày càng cao Nó giúp cho các giá trị trả cho tiền lương được thực hiện hiệu quả Từ đó mà giá trị thặng dư có thể kiếm
về cho nhà tư bản là lớn hơn
- Hình thức tiến hành của chủ nghĩa tư bản là tái sản xuất mở rộng Trong tính chất sản xuất quan tâm đến nhiều yếu tố lâu dài và bền vững Đây có thể là các yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thặng dư Tuy nhiên đều mang đến hiệu quả và thuận lợi cho nhà tư bản khi thu hút được nhiều nhu cầu hơn Bao gồm:
Tái sản xuất ra của cải vật chất, quan hệ sản xuất Mang đến các đảm bảo cho nhu cầu ổn định và phát triển của con người Trong
đó còn làm mới phù hợp và hiệu quả cho việc thu về giá trị thặng dư
Tái sản xuất sức lao động của con người Thông qua các máy móc hiện đại thay thế sức lao động Cũng như khai thác về trình độ kỹ thuật nhiều hơn Nhờ vậy mà sức lao động được sử dụng hiệu quả
và đảm bảo hơn
Tái sản xuất môi trường sống của con người Phản ánh với các điều kiện sống được nâng cao Bên cạnh việc sử dụng và khai thác, tác động đến môi trường Khắc phục những tác động đến môi trường mang đến tính chất xanh, sạch, đẹp
Trang 61.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy.
1.1.3.1 Trình độ khai thác sức lao động
Tỷ suất giá trị thặng dư tăng sẽ tạo tiền đề để tăng quy mô giá trị thặng dư Từ đó tạo điều kiện để tăng quy mô tích lũy Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, ngoài sử dụng các
phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, nhà
tư bản còn có thể sử dụng các biện pháp cắt giảm tiền công, tăng ca, tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, cắt giảm tiền lương của công nhân Có nghĩa là thời gian công nhân sáng tạo ra giá trị thì càng được kéo dài ra nhưng chi phí càng được cắt giảm, do vậy khối lượng giá trị thặng dư càng lớn và quy mô của tích lũy tư bản càng lớn
Giải thích:
Các nhà tư bản nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác giả định rằng sự trao đổi giữa công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá, tức là tiền công bằng giá trị sức lao động Nhưng trong thực tế, công nhân không chỉ bị nhà tư bản chiếm đoạt lao động thặng dư,
mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, tức cắt xén tiền công, để tăng tích lũy
tư bản
Các nhà tư bản còn nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhờ đó tăng tích lũy tư bản Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản không cần ứng thêm tư bản
để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêm nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được công suất của máy móc, thiết bị, nên giảm được hao mòn vô hình và chi phí bảo quản của máy móc, thiết bị
1.1.3.2 Năng suất lao động xã hội
Mà năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm
Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ:
- Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản không giảm, thậm chí có thể cao hơn trước
- Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích lũy nhờ việc
sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật liệu hiện có như những phế thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân của xã hội, những vật vốn không có giá trị Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh
Năng suất lao động xã hội tăng làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống, giá trị sức lao động giảm giúp cho nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn, góp phần tăng quy mô tích lũy
Trang 71.1.3.3 Sử dụng hiệu quả máy móc.(C.Mác gọi việc này là chênh lệch giữa tư bản sử dụng
và tư bản tiêu dùng).
Theo C.Mác máy móc được sử dụng toàn bộ tính năng của nó, song giá trị chỉ được tính dần vào giá trị sản phẩm qua khấu hao Sau mỗi chu kì như thế, máy móc vẫn hoạt động toàn bộ nhưng giá trị của bản thân nó đã giảm dần do tính khấu hao để chuyển vào giá trị sản phẩm
- Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm
- Còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kì sản xuất dưới dạng khấu hao
Ø Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất
Ø Hệ quả là, mặc dù giá trị đã bị khấu hao, song tính năng hay giá trị sử dụng thì vẫn nguyên như cũ, như lực lượng phục vụ không công trong sản xuất
1.1.3.4 Đại lượng tư bản ứng trước
Thị trường thuận lợi, hàng hóa luôn bán được, tư bản ứng trước càng lớn sẽ là tiền đề cho tăng quy mô tích lũy Với trình độ bóc lột không thay đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả biến quyết định
Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích luỹ tư bản Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản có thể rút
ra nhận xét chung là để tăng quy mô tích luỹ tư bản, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để công suất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu
1.1.4 Hệ quả của tích lũy tư bản
- Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị được quyết định bởi yếu tố kĩ thuật và phản ánh sự biến đổi của cấu tạo kĩ thuật của tư bản
- Chủ nghĩa Mác cho rằng nền sản xuất có thể được quan sát bằng hình thái hiện vật và cũng có thể được quan sát bằng hình thái giá trị
- Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ đó có thể được gọi là cấu tạo kĩ thuật
- Với cấu tạo kĩ thuật trên nếu quan sát qua hình thái giá trị thì nó phản ánh mối quan hệ
tỉ lệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến, tỉ lệ đó gọi là cấu tạo hữu cơ Nó luôn tăng
do cấu tạo kĩ thuật vận động luôn tăng lên về lượng
=> Vì vậy, quá trình tích lũy tư bản không ngừng làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản
Trang 8- Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị
thặng dư
- Tích tụ tư bản làm tăng quy mô của tư bản các biệt đồng thời làm tăng quy mô tư bản xã
hội do giá trị thặng dư được biến thành tư bản phụ thêm và là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản
- Tập trung tư bản là sự tăng lên của quy mô tư bản cá biệt mà không làm tăng quy mô tư
bản xã hội do hợp nhất các tư bản cá biệt vào một chỉnh thể tạo thành tư bản cá biệt lớn hơn
- Tích tụ và tập trung tư bản đều góp phần tạo tiền đề để có thể thu được nhiều giá trị
thặng dư hơn cho người mua hàng hóa sức lao động
- Xét chung trong toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thu nhập mà các nhà tư bản có
được lớn hơn gấp nhiều lần so với thu nhập dưới dạng tiền công của người lao động làm thuê C.Mác đã quan sát thấy thực tế trên và ông gọi đó là sự bần cùng hóa của người lao động
- Bần cùng hóa giai cấp công nhân làm thuê biểu hiện dưới hai hình thái là bần cùng hóa
tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối
1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy tư bản
nghĩa:
- Thứ nhất, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản C.Mác nói rằng: tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong sông của tích lũy mà thôi Trong quá trình tái sản xuất, lãi cứ đập vào vốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để bóc lột chính người công nhân
- Thứ hai, quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất hàng hóa giản đơn, sự trao đổi giữa những người sản xuất hàng hóa theo nguyên tắc ngang giá về cơ bản không dẫn tới người này chiếm đoạt lao động không công của người kia Trái lại, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm đoạt một phần lao động của công nhân mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công đó
học công nghệ, có khả năng giành thắng lợi trong cạnh tranh
vận dụng trong sản xuất và kinh doanh để tăng vốn và sử dụng vốn hiệu quả Doanh nghiệp cũng cần phải tiết kiệm sao cho hợp lý, việc xây dựng cơ sở sản xuất và thiết bị cũng cần phải được tính toán kỹ càng Nếu như vội vàng đưa ra quyết định đầu tư không hợp lý sẽ gây ra lãng phí, thất thoát tài sản Yêu cầu đối với doanh nghiệp đó là phải phân bố một cách hợp lý giữa tiêu dùng và tích lũy
quả nhất cũng như tăng khấu hao tư liệu sản xuất giúp tránh được hao mòn vô hình, có ý nghĩa
Trang 9rất lớn, tăng tích lũy vốn sản xuất và sử dụng tư liệu sản xuất có hiệu quả Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần khai thác tối đa các nguồn lực, đây là điều kiện tiên quyết cho quá trình tích lũy vốn của doanh nghiệp Nội dung này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước Do đó doanh nghiệp phải có cơ chế, giải pháp huy động vốn một cách hợp lý
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
2.1 Tại sao phải tích lũy vốn?
- Trong đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do Đại Hội VIII của Đảng đề ra, vấn đề tích lũy vốn để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp, nhận thức chỉ đạo thực tiễn Ai cũng biết rằng để công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải có vốn Hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng chủ nghĩa
xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, trong khi đó tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại phải cần nhiều vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng Tuy đất nước và khu vực đã thoát khỏi khủng hoảng, nhưng nước ta vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển thì vấn đề tích lũy vốn là
vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa tiên quyết đối với toàn bộ quá trình xây
dựng, tại Đại Hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “ Luôn chủ trương tự lực cánh sinh xây dựng, phát triển kinh tế, công nghiệp tích lũy vốn từ nội bộ kinh tế là chủ yếu”
- Nhiều chuyên gia quốc tế đã cho rằng Việt Nam muốn phát triển
và đạt tốc độ theo hướng rồng bay thì phải nỗ lực huy động và tích lũy vốn trong nước, tăng cường có hiệu quả với vốn nước ngoài và đầu tư có hiệu quả cao Họ đã tính toán rằng để tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hằng năm khoảng 8-10 % thì tổng đầu tư trong nước của Việt Nam phải đạt từ 20-35%, để đạt được sự tăng trưởng GDP với tốc độ cao như vậy đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng
đất nước ta đang đứng trước một bài toán vô cùng nan giải đó là tình trạng thiếu vốn về
mọi mặt (Vốn lao động, vốn tín dụng, vốn đầu tư phát triển) cần phải giải đáp của nền
công nghiệp: muốn phát huy tối đa nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng
nhân tài để phát huy tối đa cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa thì phải đầu tư
cho GDP đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cũng như xây dựng cở sở hạ tầng không thể thiếu vai trò của vốn Mặt khác chúng ta đang tiến tới hiệp định
GEPT/AFTA (ASEAN) và tham gia vào khu vực tự do hóa thương mại
Trang 10Châu Á TBD
(APEC) để đứng vững được chúng ta phải có sức cạnh tranh trong mọi thị trường trong
và ngoài nước Theo Marx “Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản, nếu muốn duy trì tư bản
của mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng lên mãi và hẳn không thể làm cho tư
bản đó ngày một tăng lên được nếu không có một sự tích lũy ngày càng nhiều thêm”
2.2 Thực trạng lý luận tích lũy tư bản ở Việt Nam
Trước khi đi vào tìm hiểu cụ thể về tích luỹ tư bản, chúng ta cần phải hiểu định nghĩa tư bản là gì Tư bản là sở hữu về vật chất thuộc về cá nhân hay tạo ra bởi xã hội Nói một cách đơn giản, tư bản là giá trị có bản năng tự tăng lên mà người chủ của nó không phải tham gia lao động
- Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng còn thiếu thốn thì quá trình tích lũy vốn còn gặp rất nhiều trở ngại Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của mình, nhiệm vụ tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả Việc thực hiện CNH- HDH đề ra trong kế hoạch 5 năm tại Đại hội Đảng lần III 1960-1985 được tiến hành trong điều kiện chế độ quan liêu bao cấp vì vậy nên còn tồn tại khá nhiều hạn chế Chỉ khi sau đổi mới 1986, cùng với viêc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính sách mở cửa, ngoại giao mềm dẻo, các kênh huy động vốn trở nên phong phú linh hoạt hơn Theo thống kê giai đoạn 1996-2000 tăng 66,7% so với 1991-1995, tỷ trọng vốn đầu tư xã hội 28,6% năm Tích lũy nội bộ tăng lên 25% GDP Từ 2000 đến nay tốc độ lại tiếp tục tăng 2008 tăng 39,6%, 2009 tăng 34,8%, 2010 tăng 37,5% năm, giai đoạn 2011-2017 nguồn vốn đầu tư toàn xã hội 15,524 tỷ, vốn nước ngoài ước tính 1150 tỷ đồng
- Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, nhất đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập quốc dân tăng lên…tuy nhiên nó vẫn còn quá nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới (nếu quy đổi ra đô la Mỹ (thời điểm năm 2003) thì quy mô vốn của các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ tương đương với một tập đoàn đa quốc gia cỡ trung bình trên thế giới) Trong đó doanh nghiệp Nhà nước chiếm 59,0/% tổng vốn của doanh nghiệp cả nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 19,55%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 21,44% tổng vốn các doanh nghiệp cả nước Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp, vốn của từng doanh nghiệp rất nhỏ
- Thực tế cho thấy tiềm năng trong dân còn rất lớn nhưng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp, nhiều hộ gia đình và không ít doanh nghiệp còn đầu tư chưa hiệu quả, nguồn vốn không được luân chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu Đầu tư của nhà nước tăng lên nhưng còn dàn trải Việc quản lý sử dụng vốn còn phân tán, không tập trung tối đa vốn tiền mặt cũng như nhân tài vật lực để giải quyết những công trình thiết yếu của nền kinh tế Tuy nhiên sự phát