PHẦN MỞ ĐẦU Trong hệ thống quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, quan điểm về phát triển giáo dục và đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng. Đảng ta luôn khẳng định vai trò trung tâm, đặc biệt quan trọng của giáo dục và đào tạo trong công cuộc Đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là Đại hội của Đổi mới. Tại Đại hội này, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội trong Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội đã đề ra mục tiêu của giáo dục là “hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội”(1). Đại hội xác định “sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp” phải “trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội. Tổng kết kinh nghiệm thực hiện cải cách giáo dục, điều chỉnh, nâng cao chất lượng của cuộc cải cách này”. Đại hội cũng đã đưa ra yêu cầu về phát triển giáo dục là: “Phát triển có kế hoạch hệ thống giáo dục, từ giáo dục mầm non đến đại học và trên đại học, bảo đảm chất lượng và hiệu quả đào tạo”; “Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn bó với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và trong cả nước. Đầu tư¬ đúng mức cho sự nghiệp giáo dục nhằm trước hết bảo đảm đủ sách giáo khoa và cơ sở cần thiết cho dạy và học. Ngoài ngân sách của nhà nước, cần quy định rõ sự đóng góp của các ngành và các địa phương, các tổ chức kinh tế, xã hội và các gia đình cho sự nghiệp giáo dục”. Như vậy, quan điểm về đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI. Đây chính là cơ sở, tiền đề để Đảng ta ngày càng hoàn thiện hệ thống quan điểm, đồng thời là cơ sở để Nhà nước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào tạo. Điều này đã được thể hiện cụ thể trong các văn kiện Đại hội Đảng, các văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa VII, VIII, IX, X cũng như trong chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của nước ta. Trong khuôn khổ tiểu luận này, em xin trình bày “Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo giai đoạn 2010 -2020”. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong hệ thống quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, quanđiểm về phát triển giáo dục và đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng Đảng taluôn khẳng định vai trò trung tâm, đặc biệt quan trọng của giáo dục và đào tạotrong công cuộc Đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là Đại hội của Đổi mới Tại Đại hộinày, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Phương hướng cơbản của chính sách kinh tế - xã hội trong Báo cáo chính trị được thông qua tạiĐại hội đã đề ra mục tiêu của giáo dục là “hình thành và phát triển toàn diệnnhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹthuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của
xã hội”(1) Đại hội xác định “sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học vàchuyên nghiệp” phải “trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lýkinh tế và xã hội Tổng kết kinh nghiệm thực hiện cải cách giáo dục, điềuchỉnh, nâng cao chất lượng của cuộc cải cách này” Đại hội cũng đã đưa rayêu cầu về phát triển giáo dục là: “Phát triển có kế hoạch hệ thống giáo dục,
từ giáo dục mầm non đến đại học và trên đại học, bảo đảm chất lượng và hiệuquả đào tạo”; “Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn bó với kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và trong cả nước Đầu tư đúng mứccho sự nghiệp giáo dục nhằm trước hết bảo đảm đủ sách giáo khoa và cơ sởcần thiết cho dạy và học Ngoài ngân sách của nhà nước, cần quy định rõ sựđóng góp của các ngành và các địa phương, các tổ chức kinh tế, xã hội và cácgia đình cho sự nghiệp giáo dục”
Như vậy, quan điểm về đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo đã đượcĐảng ta đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đây chính là cơ sở, tiền đề đểĐảng ta ngày càng hoàn thiện hệ thống quan điểm, đồng thời là cơ sở để Nhànước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào
Trang 2tạo Điều này đã được thể hiện cụ thể trong các văn kiện Đại hội Đảng, cácvăn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện của BộChính trị, Ban Bí thư các khóa VII, VIII, IX, X cũng như trong chính sáchphát triển giáo dục và đào tạo của nước ta.
Trong khuôn khổ tiểu luận này, em xin trình bày “Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo giai đoạn 2010 -2020”.
Trang 3PHẦN NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO 1.1 Khái niệm về giáo dục- đào tạo
1.1.1 Giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) : Là sự hình thành nhân cách được tổ
chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan
hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáodục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
Để hiểu rõ hơn khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) cần làm sáng tỏkhái niệm nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người
Hình thành nhân cách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt
sinh lý, tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi
về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩmsinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…), và các nhân tố bên ngoài (ảnhhuởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), doảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bênngoài chưa được kiểm soát, điều khiển) và các tác động có mục đích, có tổchức (kiểm soát được, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻvới những tư chất vốn có của con người thànhmột nhân cách
Xã hội hoá con người: Đó là quá trình có tính chất xã hội hình thành
nhân cách Quá trình này chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội;
xã hội tác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặt khác cánhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hội bằng hoạt động, bằng sựtham gia tích cực vào môi trường xã hội Từ đó, giáo dục nói một cách khác
là sự xã hội hoá con nguời chỉ dưới những tác động có mục đích và có tổchức
Trang 4Giáo dục (theo nghĩa hẹp):
Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sởkhoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ,những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cảviệc phát triển và nâng cao thể lực
Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiệntrên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành vi
1.1.2 Đào tạo
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay
kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắmvững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bịcho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một côngviệc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáodục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một
độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo
cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạolại, đào tạo từ xa, tự đào tạo
Như vậy, chúng ta có thể hiểu giáo dục - đào tạo là những phương thức,cách thức được tổ chức một cách có mục đích, không gian, thời gian nhất địnhnhằm giúp người được giáo dục hình thành nhân cách và chiếm lĩnh nhữngkinh nghiệm xã hội của loài người
2 Vai trò của Giáo dục - Đào tạo
Đảng và Nhà Nước ta kuôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc vàphát huy yếu tố con người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giátrị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cảnhững sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn
Trang 5minh của các quốc gia xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cườngtráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lựcđồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Để đạt dược điều đó, giáodục - đào tạo có vai trò quyết định.
Phát triển giáo dục - đào tạo sẽ nâng cao mặt bằng dân trí, yếu tố thúcđẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia
Sự phát triển của giáo dục - đào tạo sẽ tạo ra một nguồn nhân lực cóđạo đức và trí tuệ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khi phân tích năng suất laođộng, người ta thấy rằng trình độ văn hóa kĩ thuật cũa người lao động là mộtnhân tố chủ yếu tăng năng suất lao động
Giáo dục - đào tạo là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tàicho đất nước Loài người đang bước sang thế kỉ XXI, thế kỉ mà trí tuệ đóngvai trò quyết định Vì vậy hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhânlực tối đa cho phát triển, nâng cao chất lượng của giáo dục quốc dân
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA
Trang 6quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần Năm 2010, số sinh viên cao đẳng vàđại học trên một vạn dân đạt 227; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 40%, bướcđầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc đã mởrộng cơ hội học tập cho mọi người, bước đầu xây dựng xã hội học tập Đã xóađược "xã trắng" về giáo dục mầm non; trường tiểu học có ở tất cả các xã,trường trung học cơ sở đã có ở hầu hết các xã hoặc liên xã; trường trung họcphổ thông có ở tất cả các huyện Các tỉnh và huyện có đông đồng bào dân tộcthiểu số đã có trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú.Mạng lưới trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồngphát triển mạnh Các cơ sở đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng
và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn đông dân cư, các vùng, cácđịa phương, kể cả ở vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằngsông Cửu Long
Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểuhọc, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang đẩy mạnh thực hiện phổ cậpgiáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độtuổi; một số địa phương đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học
b) Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ.Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên đượcnâng cao một bước Số đông học sinh, sinh viên tốt nghiệp có hoài bão lậpthân, lập nghiệp và tinh thần tự lập; đại bộ phận sinh viên tốt nghiệp đã cóviệc làm Phát triển giáo dục và đào tạo đã chuyển theo hướng đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ; đã
mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thịtrường lao động
Trang 7Chất lượng giáo dục mũi nhọn đã được coi trọng thông qua việc pháttriển hệ thống trường chuyên, trường năng khiếu và thực hiện các chươngtrình đào tạo chất lượng cao, chương trình tiên tiến ở nhiều trường đại học vàcao đẳng nghề.
c) Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện, đặc biệtngười dân tộc thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ em gái và các đốitượng bị thiệt thòi ngày càng được quan tâm Về cơ bản, đã đạt được sự bìnhđẳng nam nữ trong giáo dục phổ thông và giáo dục đại học Giáo dục ở vùngđồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển Một sốchính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học và hỗ trợ khácđối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách đã mang lại hiệu quả thiếtthực trong việc thực hiện công bằng xã hội và phát triển nguồn nhân lực chấtlượng ngày một cao
d) Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực theo hướng:khắc phục các tiêu cực trong ngành, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục; đổi mới cơ chế tài chính của ngành giáo dục; tăng cườngphân cấp quản lý giáo dục, quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở giáodục; ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin; hình thành giám sát xã hội đốivới chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng từTrung ương đến địa phương và các cơ sở giáo dục; đẩy mạnh cải cách hànhchính trong toàn ngành; mở rộng môi trường giáo dục thân thiện, khuyếnkhích tính tích cực, chủ động trong học sinh, sinh viên; đổi mới và tăng cườnggiáo dục truyền thống và văn hóa dân tộc
đ) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về sốlượng, nâng dần về chất lượng, từng bước khắc phục một phần bất hợp lý về
cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục và phát triển các cấp học và trình
độ đào tạo
Trang 8e) Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh Công tác xãhội hóa giáo dục đã đạt được những kết quả quan trọng, nhất là huy động cácnguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, mở trường và đónggóp kinh phí cho giáo dục Các nguồn đầu tư cho giáo dục ngày càng đượckiểm soát chặt chẽ và tăng dần hiệu quả sử dụng.
g) Giáo dục ngoài công lập phát triển, đặc biệt trong giáo dục nghềnghiệp và đại học Trong 10 năm vừa qua, tỷ trọng quy mô đào tạo ngoàicông lập trong tổng quy mô đào tạo tăng: sơ cấp nghề tăng từ 28% lên 44%,trung cấp và cao đẳng nghề tăng từ 1,5% lên 5,5%, trung cấp chuyên nghiệptăng từ 5,6% lên 27,2%, cao đẳng tăng từ 7,9% lên 19,9%, đại học tăng từ12,2% lên 13,2%
h) Cơ sở vật chất nhà trường được cải thiện Tỷ lệ phòng học kiên cốtăng từ 52% năm 2006 lên 71% năm 2010 Nhà công vụ cho giáo viên và kýtúc xá cho học sinh, sinh viên đã được ưu tiên đầu tư xây dựng và tăng dầntrong những năm gần đây
Nguyên nhân của những thành tựu:
Sự lãnh đạo của Đảng, quan tâm của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hànhcủa Chính phủ và chính quyền các cấp; sự quan tâm, tham gia đóng góp củacác đoàn thể, tổ chức xã hội trong và ngoài nước, của toàn dân đối với giáodục đã quyết định sự thành công của sự nghiệp giáo dục
Sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển kinh tế - xã hội, đờisống nhân dân được cải thiện và hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới đã tạomôi trường thuận lợi cho phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục trong tổngchi ngân sách nhà nước đã liên tục tăng qua các năm
Trang 9Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, ý thức trách nhiệm, sự nỗ lựccủa đội ngũ nhà giáo và quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đã góp phầnquan trọng vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục Các thế hệ nhà giáo vàcán bộ quản lý giáo dục công tác ở mọi miền Tổ quốc, đặc biệt ở vùng núi,vùng sâu, vùng xa đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đóng góp công sức
to lớn cho sự nghiệp trồng người
Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy mạnh mẽ, thể hiệntrong từng gia đình, từng dòng họ, từng địa phương, từng cộng đồng dân cư
2 Những bất cập và yếu kém
a) Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thônggiữa một số cấp học và một số trình độ đào tạo, chưa có khung trình độ quốcgia về giáo dục Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữacác vùng miền chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lựccủa xã hội Số lượng các cơ sở đào tạo, quy mô tăng nhưng các điều kiện đảmbảo chất lượng chưa tương xứng Một số chỉ tiêu chưa đạt được mức đề ratrong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, như: tỷ lệ huy động họcsinh trong độ tuổi đi học tiểu học và trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh tốt nghiệptrung học cơ sở vào học giáo dục nghề nghiệp
b) Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nướctrong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiếntrong khu vực, trên thế giới Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển
số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng; năng lực nghề nghiệp của học sinh,sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc; có biểu hiệnlệch lạc về hành vi, lối sống trong một bộ phận học sinh, sinh viên
c) Quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ômđồm, sự vụ và chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý
Trang 10chuyên môn chưa đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tàichính Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậmđược sửa đổi, bổ sung Sự phối hợp giữa ngành giáo dục và các bộ, ngành, địaphương chưa chặt chẽ Chính sách huy động và phân bổ nguồn nhân lực tàichính cho giáo dục chưa hợp lý; hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao Đầu tưcủa Nhà nước cho giáo dục chưa tập trung cao cho những mục tiêu ưu tiên;phần chi cho hoạt động chuyên môn còn thấp Quyền tự chủ và trách nhiệm
xã hội của cơ sở giáo dục chưa được quy định đầy đủ, sát thực
d) Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu,nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếucục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn Tỷ lệ nhà giáo có trình độsau đại học trong giáo dục đại học còn thấp; tỷ lệ sinh viên trên giảng viênchưa đạt mức chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010.Vẫn còn một bộ phận nhỏ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có biểu hiệnthiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạo đức và lối sống, ảnhhưởng không tốt tới uy tín của nhà giáo trong xã hội Năng lực của một bộphận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thấp Các chế độ chính sách đốivới nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và phụcấp theo lương, chưa thỏa đáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáodục, chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp.Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầuđổi mới giáo dục
đ) Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểmtra, đánh giá chậm được đổi mới Nội dung chương trình còn nặng về lýthuyết, phương pháp dạy học lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhaucủa các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học; nhàtrường chưa gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang
Trang 11đào tạo theo nhu cầu xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huytính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
e) Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu Vẫn còntình trạng phòng học tạm tranh tre, nứa lá ở mầm non và phổ thông, nhất là ởvùng sâu, vùng xa; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và cácphương tiện dạy học chưa đảm bảo về số lượng, chủng loại và chất lượng sovới yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là ở các trường đại học Quỹđất dành cho các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn quy định
g) Nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dụccòn hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển giáo dục Chấtlượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học trong các trường đại học còn thấp;chưa gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất