Môn học này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của con
Trang 11 Lý do chọn sáng kiến
Mỗi môn học ở bậc Tiểu học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành nhân cách học sinh Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn Toán Môn học này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của con người Môn Toán là "chìa khóa" mở cửa cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới Vì vậy, môn Toán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường Đồng thời, chương trình môn Toán Tiểu học giúp phát triển ở học sinh năng lực toán học với các thành tố: tư duy và lập luận toán học; mô hình hoá toán học; giải quyết vấn đề toán học; giao tiếp toán học; sử dụng công cụ, phương tiện học toán Đồng thời, môn Toán góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể; giúp học sinh bước đầu xác định được năng lực, sở trường của bản thân nhằm định hướng và lựa chọn nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách để trở thành người lao động và người công dân có trách nhiệm
Ở mỗi lớp, môn Toán có vị trí, yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau Đặc biệt ở giai đoạn đầu tiên của bậc Tiểu học, môn Toán lớp 1 cung cấp những kiến thức cơ bản về
số, những phép tính trong đại lượng và khái niệm cơ bản về hình học, bên cạnh đó còn góp phần vào phát triển tư duy, khả năng suy luận, phát triển ngôn ngữ, trau dồi trí nhớ, kích thích cho các em trí tưởng tượng, óc khám phá, hình thành nhân cách cho các em Tuy vậy, một nét nổi bật hiện nay là nhìn chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nếu tiếp tục cách dạy học thụ động sẽ không đáp ứng được yêu cầu mới của xã hội Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự căn bản về đổi mới phương pháp dạy học Đây không phải là vấn đề của riêng nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế
-xã hội
Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành tìm hiểu và khảo sát thực tế 33 học sinh lớp 1D trong trường Tôi nhận thấy chất lượng môn Toán của lớp tương đối thấp, hầu hết các em còn nói trước quên sau, hay bắt chước một cách máy móc trong các hoạt động Trong quá trình giảng dạy, tôi cũng gặp không ít khó khăn, lúng túng về việc làm thế nào để phát huy hết tính tích cực, chủ động của học sinh Từ vị trí và nhiệm
vụ của môn toán đặt ra cho người giáo viên là làm thế nào để giờ dạy học toán có hiệu
Trang 2quả, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học lớp 1 Chính vì vậy mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Dạy học toán lớp 1 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh” với mong muốn giúp các em hứng thú, say mê học toán hơn
2 Điểm mới của sáng kiến
Qua rất nhiều thời gian tìm tòi, nghiên cứu tôi đã lựa chọn đề tài “Dạy học toán lớp 1 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh” Điểm mới trong đề tài của tôi
là các phương pháp dạy học tôi nêu ra phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh và được biểu hiện như: say mê tìm hiểu, biết phán đoán, suy luận, hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, nêu thắc mắc đề nghị giải thích những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới Điều này phù hợp với đổi mới cách đánh giá hiện nay Nhờ cách dạy học nêu trong đề tài, giáo viên biết được năng lực của từng học sinh về mức
độ nắm kiến thức, vốn hiểu biết, trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa những yếu tố đã biết với những yếu tố mới Qua các bài học, học sinh sẽ rèn luyện được tính kiên trì, vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống Từ đó khơi dậy niềm đam mê, hứng thú cho học sinh
II PHẦN NỘI DUNG
1 Thực trạng
Qua năm đầu tiên thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, cùng với việc tìm hiểu thực trạng dạy toán ở trường trong thời gian qua, tôi thấy nổi bật những vấn đề sau:
1.1 Thuận lợi
Nhà trường luôn quan tâm tới việc đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học trong đó có môn Toán lớp 1
Học sinh có đầy đủ các dụng cụ và phương tiện học tập đặc trưng của bộ môn Trong khi truyền đạt nội dung mới của bài, giáo viên biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học như phương pháp trực quan, giảng giải, vấn đáp để dẫn dắt học sinh tới kiến thức cần đạt
1.2 Khó khăn
Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều Mặc dù các em đã được học qua lớp Mẫu giáo, nhưng một số em vẫn chưa biết đến mặt chữ, có em chỉ dạy qua một lần, thậm chí chỉ nói sơ qua đã biết, nhưng cũng không ít học sinh giáo viên dạy đi dạy lại nhiều lần vẫn chưa hiểu hoặc hiểu rồi lại quên ngay
Một số gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, làm nghề lao động phổ thông vất vả cả ngày nên ít có thời gian và sức lực để chăm sóc con cái về mọi mặt
1.3 Kết quả khảo sát (trước khi áp dụng đề tài) của lớp 1D
Trang 3Tổng số HS
Thái độ
Qua kết quả khảo sát cho thấy, nguyên nhân của thực trạng trên là do học sinh còn máy móc trong khi giải quyết vấn đề, tính hợp tác, chia sẻ trong quá trình học tập chưa cao, khả năng diễn đạt chưa lưu loát, một vài học sinh còn nhút nhát sợ nói sai Đặc biệt sự sáng tạo, tích cực của các em còn hạn chế, do đó việc giải quyết vấn đề còn nhiều khó khăn dẫn đến việc chiếm lĩnh kiến thức mới của học sinh chưa chắc chắn
Bên cạnh đó, một bộ phận học sinh thường hay thỏa mãn với kết quả đã làm được, không suy nghĩ, tìm tòi phương án tối ưu hơn Do vậy việc phát huy tính tích cực của học sinh cũng còn nhiều hạn chế Mặt khác, việc giảng dạy của giáo viên trong quá trình hướng dẫn làm toán hầu hết chưa thực sự chú ý rèn cho học sinh phương pháp suy luận để tìm ra nhiều phương pháp nhằm phát huy tính sáng tạo linh hoạt cho học sinh
Từ thực tế trên, tôi thấy rằng, để nâng cao hiệu quả tiết dạy học toán trong nhà trường cần phải tiến hành nhiều biện pháp
2 Các giải pháp
Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh không phải là thay toàn
bộ các phương pháp truyền thống bằng những phương pháp hiện đại mà phải biết kết hợp một cách linh hoạt, hài hòa giữa các phương pháp Hơn nữa, đây là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên sử dụng một nhóm phương pháp giáo dục
và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học đồng thời chống lại thói quen học tập thụ động của người học
2.1 Dạy và học thông qua hình thức tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Thông qua đó, học sinh tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Thông qua những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận bằng các hình thức để giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới, không theo những khuôn mẫu sẵn có Vì vậy, học sinh bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình Đặc biệt tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trang 4Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa
về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy -trò, trò - -trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong việc chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ Học tập hợp tác tăng hiệu quả tiết học Trong hoạt động theo nhóm nhỏ, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ
Ví dụ: Trong dạy học “số lượng bằng nhau” có bài: Hình nào có số con ếch bằng
số chiếc lá? Tôi đã vận dụng hình thức thảo luận nhóm đôi
Trước tiên, giáo viên nêu yêu cầu của bài rồi học sinh mới thảo luận nhóm về cách làm Sau đó, học sinh tự nói cách làm của nhóm mình Qua đó, giáo viên biết được học sinh hiểu bài ở mức độ nào để từ đó giáo viên có những điều chỉnh phù hợp với đối tượng học sinh Như vậy, cách làm này phát huy được tư duy sáng tạo của học sinh
2.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được “phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học” thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động tự học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay từ lớp 1, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
2.3 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng thời còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan tới điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh
Trang 5giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng
đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Để đánh giá học sinh, tôi sử dụng các hình thức đánh giá (viết, vấn đáp) học sinh cũng có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn
Ví dụ: Khi thực hiện phép tính: 10 - 5, 9 - 3, Tôi yêu cầu học sinh làm vào vở Sau khi làm xong, học sinh đổi chéo vở để tự đánh giá lẫn nhau rồi giáo viên mới đánh giá lại
2.4 Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh.
Mỗi bài tập đều có mỗi phương pháp phù hợp Đối với dạy toán lớp 1, các phương pháp tôi sử dụng thường là: Phương pháp trực quan, Phương pháp thực hành luyện tập, Phương pháp gợi mở - vấn đáp, Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, Phương pháp trò chơi toán học, Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, Phương pháp thuyết trình, Phương pháp giảng giải minh họa Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp dạy học cần lựa chọn linh hoạt mới mang lại hiệu quả cao Cụ thể:
2.4.1 Phương pháp trực quan
Là phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sở những hình ảnh cụ thể: hình vẽ, đồ vật
và thực tế xung quanh để hình thành kiến thức cho học sinh Phương pháp này tổ chức cho học sinh hoạt động trực tiếp trên các vật cụ thể nhờ vậy học sinh nắm chắc được kiến thức và kĩ năng tương ứng
Ví dụ 1: Để giúp học sinh hiểu được thế nào là nhiều hơn, ít hơn, tôi sử dụng phương pháp trực quan:
Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh, nhóm hai có 3 học sinh
Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát hai nhóm trên, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối tượng còn hạn chế trả lời câu hỏi: Nhóm nào nhiều bạn hơn? Nhóm nào ít bạn hơn? Sau đó, tôi thay đổi số học sinh của hai nhóm và nêu các câu hỏi tương tự để nhiều học sinh có cơ hội trả lời câu hỏi nhằm phát hiện kiến thức
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Hình tam giác, hình tròn”, tôi chuẩn bị các hình tam giác, hình tròn bằng bìa có màu sắc, kích thước, hình dạng khác nhau và đặt ở những vị trí khác nhau cho học sinh quan sát Qua các hình ảnh cụ thể đó, tôi hình thành cho các
em biểu tượng về hình tam giác, hình tròn Sau đó, tôi cho học sinh tự nêu ví dụ về hình tam giác, hình tròn trong thực tế như: cái ê-ke, lá cờ thi đua, biển báo, đồng hồ, mặt chiếc hộp,
Trang 6Tuy nhiên, ta không nên lạm dụng phương pháp này và cần phải chuyển dần, chuyển kịp thời và đúng lúc từ dạng trực quan này sang dạng trực quan khác với mức
độ trừu tượng tăng dần
2.4.2 Phương pháp thực hành luyện tập
Là phương pháp dạy học thông qua các hoạt động thực hành - luyện tập của học sinh để giúp các em nắm được các kiến thức và kỹ năng mới Phương pháp này có ưu thế là phát huy được tốt nhất tính độc lập của học sinh, là phương tiện tốt nhất để thực hiện nguyên lí giáo dục Phương pháp này được tôi sử dụng thường xuyên Học sinh được thực hành, luyện tập liên tục Thông qua hoạt động này mà học sinh luyện tập các kiến thức và kỹ năng cần thiết Tuy nhiên cần chú ý là phải chuẩn bị cho việc thực hành, luyện tập một cách chu đáo; động viên cả lớp hoạt động độc lập, mọi học sinh đều tự suy nghĩ, tự tìm biện pháp; nhất thiết phải tổng kết hoạt động độc lập của học sinh, điều chỉnh sai lầm, có sự bổ sung kiến thức cần thiết; các bài tập cần đi từ đơn giản đến phức tạp, cuối cùng nên có những bài tổng hợp để mức độ luyện tập được nâng cao dần; cần thay đổi hình thức luyện tập để gây hứng thú học tập cho học sinh; cần luyện tập nhiều, nhưng số lượng bài tập cần vừa phải
2.4.3 Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên không đưa ra kiến thức trực tiếp mà giáo viên dùng hệ thống câu hỏi cho HS suy nghĩ trả lời từng câu Đối với các bài dạng điền dấu <; >; =, các bài loại này, học sinh có năng lực nhẩm nhanh, chính xác, còn học sinh hạn chế gặp nhiều lúng túng Để giúp các đối tượng học sinh có năng lực còn hạn chế có thể làm được các bài dạng này, tôi sử dụng phương pháp gợi mở - vấn đáp, gợi ý các em tính từng phần của bài; nếu không nhớ được thì dùng bút chì ghi kết quả của mỗi phần, sau đó so sánh kết quả rồi điền dấu
Ví dụ: 9 … 4 + 4
Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý: Bài này có mấy phần? Gồm những phần nào? ( bài
có hai phần, phần đứng trước dấu chấm và phần đứng sau dấu chấm)
Em tính phần nào trước? (Tính 4 + 4 trước) 4 + 4 bằng mấy? (4 + 4 = 8)
Em dùng bút chì ghi số 6 phía trên (hoặc dưới) phép tính 4 + 4
9 như thế nào so với 8? (9 lớn hơn 8) Em điền: 9 > 4 + 4
2.4.4 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV tạo ra các tình huống có vấn đề, rồi điều khiển học sinh tự phát hiện vấn đề hoạt động tự giác và tích cực để giải quyết vấn đề thông qua đó đạt được mục tiêu học Tôi thường sử dụng phương pháp này khi hình thành kiến thức mới, khi củng cố rèn luyện kĩ năng toán và khi vận dụng kiến thức
Ví dụ: Để hình thành cách so sánh độ dài: Tôi đặt vấn đề: Đối với bút, thước… làm thế nào để biết cái nào dài hơn? Học sinh sẽ phát hiện: so sánh độ dài các đồ vật
Trang 7cụ thể như thước và bút chì một cách trực tiếp Tôi đặt vấn đề so sánh độ dài của hai vật cố định xa nhau không dời được thì làm thế nào? Học sinh phải suy nghĩ và đề xuất phương pháp mới - so sánh với độ dài của một đối tượng thứ ba, sử dụng đơn vị đo
2.4.5 Phương pháp trò chơi toán học
Trò chơi toán học là trò chơi, trong đó có chứa một yếu tố toán học nào đó Vì là một trò chơi, trò chơi toán học mang đầy đủ các đặc điểm của trò chơi, nhưng trò chơi toán học khác với trò chơi “phi toán” ở chỗ ít nhiều phải chứa trong nó một yếu tố kiến thức toán học đó Đối với học sinh lớp 1, với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em thì trò chơi Toán học là một trong những phương pháp rất quan trọng giúp các
em chiếm lĩnh được kiến thức mới Thực tế cũng cho thấy hình thức tổ chức trò chơi toán học dễ được học sinh hưởng ứng tích cực và tham gia Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi toán học có thể là: Trò chơi nhằm dẫn dắt, hình thành tri thức mới, trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng, trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ ngoại khóa Sau đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ về trò chơi toán học mà tôi đã sử dụng ở lớp mình
Ví dụ: Trò chơi “Bingo”
Mục đích: Rèn kĩ năng cộng, trừ nhẩm (không nhớ) trong phạm vi 100 Rèn tác phong nhanh nhẹn, sự hợp tác tinh ý trong công việc
Chuẩn bị: Giáo viên kẻ bảng gồm 9 ô vuông, chuẩn bị một số phép cộng, phép trừ Các phép tính phải được giấu kín trước khi chơi, chẳng hạn giáo viên sẽ viết sẵn
ra những thẻ bài các phép tính: 45 + 4; 64 + 3; 69 – 8; 43 –3; 56 – 5; 57 + 2; 96 – 6;
92 + 3; 56 + 2
Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội cử 3 bạn tham gia chơi Giáo viên phát cho một đội bút xanh gọi là “Quân xanh”, đội còn lại phát bút đỏ gọi là “Quân đỏ” Khi giáo viên rút một thẻ bài có ghi phép tính đọc to lên, hai đội nghe rõ và nhẩm kết quả Đội nào hô kết quả đúng và trước thì được phép viết kết quả vào một ô trong bảng Đội nào viết được các kết quả vào 3 ô mà thẳng hàng (hàng dọc, hàng ngang, hàng chéo) thì đội đó thắng cuộc
Đối với một số bài, tôi thường tổ chức trò chơi để củng cố kiến thức
Ví dụ: Sau khi học xong bài “Thực hành xếp, ghép hình” tôi tổ chức cho các em chơi trò chơi “Bịt mắt chọn hình”
Mục đích: Luyện kỹ năng nhận dạng hình
Chuẩn bị: 25 hình bằng bìa cứng (5 hình vuông, 5 hình tam giác, 5 hình tròn, 5 hình chữ nhật, 5 hình có đường bao cong nhưng không tròn)
Cách chơi: 4 học sinh cùng chơi, đặt tên cho một em là “hình tam giác”, một em
là “hình tròn”, một em là “hình vuông”,một em là “hình chữ nhật” Sau khi bị bịt kín
Trang 8mắt, mỗi em phải lấy ra các miếng bìa có hình trùng với tên của mình Ai lấy đủ 5 hình trước là người thắng cuộc
Được tham gia vào trò chơi học tập, học sinh sẽ hào hứng hơn và đem lại hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức
2.4.6 Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Để đánh giá học sinh, tôi sử dụng các hình thức đánh giá (viết, vấn đáp), học sinh cũng có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn
Để kiểm tra kiến thức của học sinh nắm được, tôi sử dụng phiếu kiểm tra định kì
và thường xuyên Bài kiểm tra cần ra đề theo đúng trình độ chuẩn, từ dễ dến khó, đủ các dạng bài đại diện cho những nội dung cơ bản của chương trình, dễ chấm điểm và cộng điểm, mọi học sinh phát triển bình thường đều làm được bài nhưng không dễ dàng đạt điểm 10, phân loại chính xác trình độ học sinh Đánh giá cần coi trọng khen
để kích thích, tạo sự tự tin cho học sinh
Sau đây là ví dụ về đề kiểm tra cuối học kì I của tôi:
Câu 1: Số? (1 điểm)
Câu 2: Viết số thích hợp vào ô trống: (1 điểm)
a
b
Câu 3: a Kết quả phép tính : 10 – 3 = ? (0,5 điểm)
A 6 B 7 C 8
b Kết quả của phép tính : 14 + 5 = ? (0,5 điểm)
A 18 B 19 C 20
Câu 4: Khoanh tròn vào: (1 điểm)
a Số bé nhất: 11 8 10 15
b Số lớn nhất : 7 9 19 14
Câu 5: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống: (1 điểm)
a 2 + 2 = 4 b 2 – 1 = 1
c 2 + 3 = 8 d 4 – 2 = 3
Trang 9Câu 6: Số ? (1 điểm)
+ 3 + 1 - 5 + 4
Câu 7: Điền dấu <, >, = (1 điểm)
8 9 4 + 6 6 + 2
7 + 2 8 2 + 4 4 + 2
Câu 8: Viết các số: 15, 8, 9, 11 theo thứ tự: (1 điểm)
a Từ bé đến lớn: ………
b Từ lớn đến bé : ………
Câu 9: Đặt rồi tính: (1 điểm)
11 + 3 17 + 2
16 – 5 18 – 8
Câu 10: Nêu phép tính rồi trả lời câu hỏi: (1 điểm)
Có bao nhiêu con vịt đã vào trong vườn?
Có … con vịt đã vào trong vườn
2.4.7 Phương pháp thuyết trình
Phương pháp này tôi sử dụng để trình bày kiến thức mới, giải toán mẫu Tuy nhiên phương pháp này tôi rất hạn chế sử dụng, chỉ sử dụng khi thật cần thiết: nhịp điệu chậm, phần nội dung thuyết trình ngắn và chiếm khoảng thời gian ngắn nhất trong một tiết học Khi sử dụng phương pháp này, tôi thường kết hợp với các phương pháp khác để học sinh thích thú và hào hứng hoạt động, ví dụ như phương pháp minh họa bằng vật thật với đàm thoại,…
2.4.8 Phương pháp giảng giải minh họa
Ở phương pháp này tôi sử dụng để giải thích nội dung toán kết hợp với việc dùng trực quan để hỗ trợ cho việc giải toán giúp học sinh hiểu, nhớ kiến thức, gây hứng thú học tập Tuy nhiên phương pháp này cũng có mặt hạn chế của nó nên tôi ít
sử dụng
Nhà mình có 19 con vịt Ở đây có 8 con, còn lại đã vào trong
vườn cả rồi.
Trang 10Như vậy, để cho giờ học sinh động, học sinh hứng thú và nắm bắt kiến thức một cách nhanh nhất thì trong mỗi tiết học, giáo viên phải là người lựa chọn các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng dạng bài, từng bài tập nhằm giúp học sinh phát huy hết khả năng của mình Các em được suy nghĩ, tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức Từ đó các em vận dụng có hiệu quả vào thực hành các dạng bài tập
Ngoài ra muốn đổi mới phương pháp dạy học có kết quả, ngay từ đầu năm tôi đã xác định được cần phải đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài dạy và xây dựng mục tiêu bài học Tôi xác định kế hoạch bài học trong sách giáo viên dù đã được thiết kế chu đáo đến đâu cũng chỉ là phương án dự kiến để tạo thuận lợi cho giáo viên trong việc chuẩn bị dạy học Một trong những yêu cầu quan trọng của dạy học là rất cần sát với đối tượng Vì vậy, tôi cần xuất phát từ tình hình thực tiễn của lớp để có những điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với đối tượng học sinh Kế hoạch bài dạy theo tôi cần ngắn gọn, dễ sử dụng, dễ bổ sung, dễ điều chỉnh, nêu rõ và đầy đủ các hoạt động dạy học cụ thể
2.5 Kết quả, chuyển biến của đối tượng
Sau một thời gian áp dụng linh hoạt các giải pháp nêu trên, tôi đã thu được kết quả khảo nghiệm rất khả quan Kết quả trước và sau khi áp dụng tại lớp 1D như sau:
33
Hoàn thành xuất sắc
S
S
Hoàn thành tốt
S
L 10 Không thích
S
Hoàn thành
S
S
Chưa hoàn thành
S
Qua quá trình giảng dạy môn Toán lớp 1 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, tôi nhận thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt, hứng thú hơn trong giờ học toán, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời của bạn, biết nêu thắc