ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC (CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ) VẤN ĐỀ 5 HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI 5 1 Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của đời sống xã hội; quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trìn.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC (CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ) VẤN ĐỀ 5 HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
5.1 Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của đời sống xã hội; quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
5.1.1 Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của đời sống xã hội
Xã hội xuất hiện, tồn tại và phát triển được là nhờ sản xuất vật chất Lịch sử xã hộitrước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất Trong quá trình sản xuất, con ngườikhông chỉ tạo ra vật phẩm và phương tiện cần thiết cho cuộc sống, mà đồng thời sáng tạo vàtái tạo những quan hệ xã hội của mình Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta hiểu được quyluật chung nhất của sự phát triển lịch sử xã hội
a
K hái niệm sản xuất vật chất
SX vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên đểtạo ra của cải vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội
Hiểu khái niệm sản xuất vật chất trên những nội dung cơ bản sau:
- Là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để tạo ra củacải vật chất
Ví dụ: Quá trình người công nhân khai thác than trong hầm mỏ
- Sản xuất vật chất là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người,
là yếu tố căn bản nhất để phân biệt con người với con vật
Sự khác nhau căn bản giữa người và vật thể hiện ở chỗ con vật chỉ thích nghi để tồn tại,sống nhờ vào sự ban phát của tự nhiên, nhưng con người thì sản xuất vật chất
Ví dụ: Con vượn biết dùng gậy chọc làm cho quả trên cây rụng xuống, dùng đá đậpcho quả dừa vỡ ra… nhưng không biết sáng tạo một công cụ sản xuất nào dù là thô sơ nhất
- Sản xuất vật chất mang tính lịch sử, xã hội
+ Tính lịch sử: Ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau thì cũng khác nhau Ngay trong cùngmột hình thái kinh tế - xã hội, ở mỗi giai đoạn khác nhau nền sản xuất vật chất cũng cónhững đặc trưng riêng
Ví dụ: Thời kỳ Phong kiến sản xuất vật chất với công cụ lao động đặc trưng điển hình
là máy quay sợi, cho năng suất thấp, thì sang thời kỳ Tư bản chủ nghĩa với sự ra đời củamáy hơi nước(1874)đã làm cho năng suất, chất lượng cũng như cách thức sản xuất kháchẳn so với thời kỳ trước đó
+ Tính xã hội: Quá trình lao động cải biến tự nhiên của con người luôn gắn với một xãhội cụ thể, và con người tác động vào tự nhiên không phải với tư cách riêng lẻ mà mangtính cộng đồng xã hội, là những thành viên của tập thể , của cộng đồng xã hội
Ví dụ: thời nguyên thuỷ, để sản xuất vật chất (săn bắn, hái lượm), con người đã phảiliên kết hợp tác với nhau thành bầy đàn (sản xuất vật chất đã mang tính xã hội nhưng ở trình
độ thấp, sơ khai) Sản xuất vật chất trong thời đại ngày nay, trước xu thế toàn cầu hoá, hộinhập kinh tế quốc tế, tính xã hội hoá là rất cao
- Sản xuất vật chất là hình thức sản xuất quan trọng nhất, giữ vai trò nền tảng của sự tồntại và phát triển xã hội loài người
Nền sản xuất xã hội bao gồm 3 hình thức cơ bản: Sản xuất vật chất: tạo ra của cải vậtchất; Sản xuất tinh thần: là quá trình con người sáng tạo ra các giá trị phục vụ nhucầu tinhthần của con người như: văn học, âm nhạc, sân khấu…; Sản xuất ra bản thân con người: làquá trình tái sản xuất sức lao động, phát triển dân số
Trang 2Ba quá trình này thống nhất không tách rời trong nền sản xuất xã hội, trong đó sản xuấtvật chất giữ vai trò nền tảng
Thực chất là hoạt động cải biến, chinh phục giới tự nhiên đồng thời thích nghi, hòanhập với giới tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại, phát triểncủa con người và xã hội
b Vai trò của sản xuất vật chất
*Quan điểm phi mácxít
Nhìn chung các quan điểm phi mácxít đều sai lầm, phiến diện, phủ nhận vai trò quyếtđịnh của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội
- Chủ nghĩa duy tâm: xã hội sở dĩ có những hiện tượng “thịnh suy”, “hưng phế”,
“tương tàn” vì chưa xuất hiện những vĩ nhân thấu triệt được “chân lý vĩnh cửu” hay “ý niệmtuyệt đối” để xây dựng xã hội theo mô hình lý tưởng nhất
Hêghen: lịch sử toàn thế giới là sự tự phát triển, sự tha hóa của “ý niệm tuyệt đối” nhằmmục đích tự nhận thức bản thân
- Tôn giáo: đi tìm nguồn gốc, động lực phát triển XH từ lực lượng siêu nhiên như chúa trời.
Kitô giáo cho rằng chúa sáng tạo ra vạn vật kể cả loài người trong 7 ngày
- Quan điểm duy vật siêu hình: Đấu tranh chống quan điểm duy tâm, tôn giáo, khôngthừa nhận tính chất siêu nhiên của sản xuất vật chất nhưng lại tìm nguồn gốc, động lực pháttriển xã hội từ những yếu tố không cơ bản
Ví dụ: Quan điểm tuyệt đối hóa về địa lý cho rằng: dân tộc quốc gia nào may mắn nằmtrên vùng đất được tự nhiên ưu đãi thì đương nhiên là phát triển Trên thực tế Nhật Bản làmột quốc gia tiêu biểu về sự không thuận lợi về điều kiện tự nhiên - với hơn 3000 hòn đảolớn nhỏ, thiên tai, động đất thường xuyên, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn… nhưng họ đãsớm trở thành một nước công nghiệp phát triển
- Quan điểm của các nhà triết học tư sản hiện đại: Xuất phát từ những quan niệm siêu
hình, trừu tượng về xã hội, coi xã hội như một phạm trù phi lịch sử, họ giải thích các giaiđoạn phát triển của xã hội bằng quan niệm kỹ thuật, máy móc và phiến diện, cố tình lảngtránh không nói đến quan hệ kinh tế - xã hội
Thực chất những quan điểm đó là những quan điểm sai lầm phản khoa học, phủ nhậnvai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại, phát triển của xã hội
*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử:Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng, là điều kiện khách quan vĩnh hằng quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội loài người.
xã hội cũng sẽ diệt vong
- Sản xuất vật chất là tiền đề cho mọi hoạt động lịch sử của con người, là cơ sở hìnhthành các quan hệ xã hội khác
+ Mọi hoạt động sáng tạo ra lịch sử của con người đều bắt nguồn từ sản xuất vật chất.+ Sản xuất vật chất đòi hỏi con người phải có quan hệ với nhau Trên cơ sở đó hìnhthành các quan hệ xã hội khác và quy luật xã hội
Trang 3Thực tiễn lịch sử của xã hội loài người đã chứng minh toàn bộ các mặt của đời sống xãhội dù trong bất kỳ lĩnh vực nào: nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo haykhoa học đều hình thành, biến đổi trên cơ sở sự vận động của đời sống sản xuất vật chất, sảnxuất vật chất đã tạo điều kiện thực hiện các hoạt động khác, không có sản xuất vật chất cáchoạt động đó không tồn tại được.
Ví dụ: Nhà nước: Ra đời khi mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được mà cội nguồnmâu thuẫn nảy sinh từ nền sản xuất vật chất
Tôn giáo: Có nguồn gốc từ sự bất lực của con người trước tự nhiên và xã hội
- Sản xuất vật chất đã tạo ra các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động sản xuấttinh thần của con người và xã hội
Sản xuất vật chất không chỉ sáng tạo ra của cải vật chất để con người tồn tại, phát triển
mà còn cung cấp nguồn đề tài, chất liệu cho việc sáng tạo ra các giá trị tinh thần như âmnhạc, nghệ thuật, sân khấu…
Ví dụ: Tác phẩm “Mùa Lạc” - Nguyễn Khải phản ánh không khí lao động khẩn trươngcủa thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1960)
- Sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu để hoàn thiện và phát triển bản thân con người.Chính thông qua sản xuất vật chất con người đã làm biến đổi tự nhiên và biến đổi chính bảnthân mình (cả mặt sinh học và mặt xã hội) (phát triển và hoàn thiện các giác quan, phát triểnnhận thức, hình thành ngôn ngữ, cải biến các mối quan hệ giữa con người với nhau, hìnhthành, phát triển các phẩm chất xã hội)
Ví dụ: Thông qua lao động bàn tay con người trở nên khéo léo, thực hiện được nhiềuđộng tác hơn: thể lực, trí óc và các giác quan đều phát triển Con người từ dáng đi khomchuyển sang dáng đứng thẳng như ngày nay
Tóm lại:
- Dù được xem xét trong mỗi giai đoạn của các xã hội hiện thực, hay được xem xéttrong toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển xã hội loài người Sản xuất vật chất vẫnluôn đóng vai trò là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại và phát triển của xã hội
- Xã hội tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất Lịch sử của xã hội,
do vậy, trước hết cũng là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất Đây chính là nguyên lý củachủ nghĩa duy vật lịch sử
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Là cơ sở khoa học xây dựng, củng cố quan điểm duy vật về xã hội: Khi xem xét, xâydựng, cải tạo xã hội phải thấy rõ vai trò quyết định của sản xuất vật chất, đi từ sản xuất vậtchất Do đó, phải xuất phát từ đời sống vật chất, nền sản xuất vật chất xã hội, quan hệ kinh
tế vật chất để giải thích các hiện tượng xã hội
- Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái về vấn đề này (chủ nghĩa duy tâm tôn giáo)
- Là cơ sở để nhận thức, quán triệt, thực hiện đường lối phát triển sản xuất của Đảng ta
- Vận dụng vào nhận thức, thực hiện xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng(xét đếncùng đều phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất vật chất xã hội)
5.1.2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
a Vị trí quy luật: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, là quy luật nền tảng, quy luật gốc cho mọi quy luật lịch sử là độnglực phát triển của xã hội Nó tác động ở mọi quốc gia dân tộc và trong toàn bộ lịch sử nhânloại
Trang 4b Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
*Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là năng lực
thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu của mình Nghĩa là,trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng sức mạnhtổng hợp của mình Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người Lực lượngsản xuất: Là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất
- Người lao động: Là người có tri thức lao động, thói quen, kinh nghiệm lao động, kỹ
năng, kỹ xảo lao động Đây là yếu tố sống của lực lượng sản xuất, yếu tố quan trọng hàngđầu, quy định tính năng động, cách mạng của lực lượng sản xuất
Theo Lênin: “Lực lượng SX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”
- Tư liệu sản xuất: Là tất cả những điều kiện cần thiết cho lao động, là mặt tự nhiên, cái
đối lặp với con người, là cầu nối giữa con người với tự nhiên Là sự thống nhất giữa đốitượng lao động và tư liệu lao động
+ Đối tượng lao động: Là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác
động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình để tạo ra sản phẩm Đối tượng lao độnggồm có hai loại: Loại có sẵn trong tự nhiên (như các loại khoáng sản trong lòng đất, tôm, cángoài biển, đá ở núi, gỗ trong rừng nguyên thuỷ ); loại đã qua chế biến nghĩa là đã có sựtác động của lao động trước đó (gọi là nguyên liệu)
+ Tư liệu lao động: Là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng trực tiếp
hoạc gián tiến trong quá trình lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩmđáp ứng yêu cầu của con người
Tư liệu lao động gồm có: Công cụ lao động là bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động; Phương tiện lao động là bộ phận phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình
sản xuất như kết cấu hạ tầng (nhà xưởng, kho, băng truyền, đường sá, bến cảng, sân bay,phương tiện giao thông vận tải, điện nước, bưu điện, TTLL… và các yêu tố phục vụ khác.Ngày nay, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như Mác đãtừng tiên đoán, nó là một thành tố không thể thiếu được trong các yếu tố của lực lượng sảnxuất, nó thâm nhập vào tất cả các yếu tố của lực lượng sản xuất
*Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế vật chất giữa con người với con người trong quá
trình sản xuất, được biểu hiện trên ba mối quan hệ chủ yếu sau:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Là quan hệ giữa người trong việc chiếm hữu, sử
dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây là một trong những quan hệ quy định địa vị kinh tế
-xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệxuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệkhác, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối Bởi vì lực lượng xã hội nào nắmphương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trìnhsản xuất và phân phối sản phẩm
- Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất: Là quan hệ giữa người trong việc tổ chức sản
xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ,hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sảnxuất xã hội.Ngày nay, khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệttrong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất
- Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động: Là quan hệ giữa người trong việc phân
phối sản phẩm lao động XH, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoànngười được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi íchcon người, là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu SX, làm năng động hóa toàn
bộ sời sống KT-XH Hoặc ngược lại nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất
Trang 5Ba mối quan hệ trên có quan hệ biện chứng với nhau Trong đó quan hệ sở hữu về tưliệu sản xuất giữ vai trò quyết định đến bản chất của quan hệ sản xuất Hai quan hệ còn lại
có thể làm suy yếu hoặc củng cố quan hệ sản xuất
=> Sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất biểu hiện mốiquan hệ mang tính chất biện chứng Quan hệ này biểu hiện thành quy luật cơ bản nhất của
sự vận động của đời sống xã hội - quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất
c Nội dung quy luật
Nội dung quy luật: Lực lượng SX và quan hệ SX là hai mặt của một phương thức sảnxuất có tác động biện chứng với nhau, trong đó lực lượng SX quyết định quan hệ sản xuất,quan hệ sản xuất có tác động trở lại mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển; ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
*Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất:
- Vì sao lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất
+ Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất vật chất, còn quan hệ sản xuất
là hình thức xã hội của quá trình đó
+ Lực lượng sản xuất là yếu tố năng động cách mạng hơn so với quan hệ sản xuất; lựclượng sản xuất phát triển bắt nguồn từ nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người vànhu cầu trực tiếp của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất Mặt khác lực lượngsản xuất luôn có tính kế thừa qua các thế hệ thời đại, còn quan hệ sản xuất nó ổn định hơn vì
nó gắn với chế độ xã hội và lợi ích giai cấp thống trị
+ Lực lượng sản xuất có tính năng động cách mạng dẫn tới mâu thuẫn giữa cái thườngxuyên biến đổi với cái tương đối ổn định, làm phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, hình thành quan
hệ sản xuất mới phù hợp, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Trong xã hội có giaicấp, nó biểu hiện thành thành mâu thuẫn đối kháng giai cấp
- Biểu hiện sự quyết định của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
+ Tính chất của lực lượng sản xuất như thế nào thì đòi hỏi quan hệ sản xuất tương ứngnhư thế đấy Tính chất của lực lượng sản xuất: là nói đến tính chất và lao động, nó mangtính chất cá nhân hay tính chất xã hội hóa của tư liệu sản xuất và lao động
Ví dụ: Công cụ lao động do một người chế tạo hay sử dụng, sản phẩm làm ra do mộtngười thì đó là tính cá nhân và ngược lại
+ Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời, sự vận động biến đổi của quan hệ sản xuất.Bởi vì, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động và cách mạng nhất nó luôn vận động và biếnđổi không ngừng, sự vận động biến đổi của lực lượng sản xuất đi từ sự vận động biến đổicủa công cụ lao động Quá trình sản xuất, người lao động bao giờ cũng có nhu cầu kháchquan là nâng cao năng suất lao động và giảm công cụ lao động Để đạt được mong muốn
đó, người lao động luôn cải tiến công cụ lao động Khi công cụ lao động ngày càng đượccải tiến hiện đại thì cũng có nghĩa là lực lượng sản xuất luôn vận động và phát triển
Khi trình độ của lực lượng SX phát triển đến một mức độ nhất định sẽ mâu thuẫn vớiquan hệ SX cũ, lỗi thời, lạc hậu, đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ lỗi thời lạc hậu,thiết lập quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất từ
đó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển đồng thời thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Trong thời kỳ quá độ giữa các phương thức kế tiếp nhau, sự đa dạng của nhiều tínhchất, trình độ lực lượng sản xuất khác nhau sẽ có nhiều hình thức sở hữu tương ứng
Ví dụ: Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: sở hữu nhà
Trang 6*Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Quan hệ SX do lực lượng SX quyết định nhưng nó không phải là yếu tố thụ động màtrong quá trình vận động và phát triển nó có tác động trở lại to lớn đối với lực lượng SX
- Vì sao quan hệ sản xuất trở tác động trở lại lực lượng sản xuất
+ Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất, nên bao giờ nó cũng tácđộng trở lại đối với lực lượng sản xuất; sự tác động đó thông qua ý thức chủ quan của conngười và các quy luật kinh tế
+ Quan hệ SX quy định mục đích nền sản xuất và thể hiện lợi ích kinh tế của người laođộng, thông qua đó mà tác động trở lại lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng khác nhau:khi phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển, ngược lại nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp có nghĩa là lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất phải nhưthế ấy, quan hệ sản xuất không thể vượt trước sự phát triển của lực lượng sản xuất và ngượclại quan hệ sản xuất không thể lạc hậu hơn so với sự phát triển của lực lượng sản xuất Sựphù hợp còn có nghĩa là sự thích ứng hay sự kết hợp đồng bộ giữa các yếu tố của lực lượngsản xuất với các yếu tố của quan hệ sản xuất
Không phù hợp là quan hệ sản xuất vượt trước sự phát triển của lực lượng sản xuấthoặc lạc hậu hơn so với sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất nó quy địnhmục đích của quá trình sản xuất và phương thức giải quyết lợi ích của người lao động + Trong xã hội có giai cấp, sự tác động của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất baogiờ cũng thông qua lăng kính của giai cấp thống trị và kiến trúc thượng tầng
- Biểu hiện của sự tác động của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất khi quan hệ sản xuất phù hợp trình độ lực lượng sản xuất
+ Sự phù hợp là sự kết hợp đúng đắn giữa các mặt, các yếu tố cấu thành quan hệ sảnxuất với các mặt, các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
+ Lực lượng SX như thế nào thì quan hệ sản xuất phải như thế ấy; quan hệ SX bao giờcũng là của một lực lượng SX nhất định, vượt trước, hay tụt sau đều không phù hợp
+ Sự phù hợp quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là sự phù hợp biện chứng giữahai mặt đối lập trong một mâu thuẫn, nó là quá trình biện chứng trong lịch sử phát triển củaphương thức sản xuất Vì vậy mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất luônluôn được tái tạo trong sự lặp lại có tính quy luật của quá trình sản xuất vật chất Quy luậtnày là quy luật xã hội, việc phát hiện, giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vớiquan hệ sản xuất phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người
+ Biểu hiện sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là sản xuất pháttriển, năng suất lao động không ngừng tăng lên, đời sống vật chất, tinh thần của người laođộng phong phú, người lao động hăng hái nhiệt tình, xã hội ổn định phát triển
+ Tiêu chuẩn đánh giá sự phù hợp là hệ thống các tiêu chuẩn về KT-XH, trong đó tốc
độ phát triển năng suất, chất lượng, hiệu quả là những tiêu chuẩn cơ bản, quan trọng nhất
- Biểu hiện của sự tác động của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất khi quan hệ sản xuất không phù hợp trình độ lực lượng sản xuất
+ Khi lực lượng sản xuất phát triển sang 1 trình độ mới với tính chất xã hội hóa ở mứccao hơn Lúc đó tình trạng phù hợp sẽ bị phát vỡ Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất sẽ ngày càng gay gắt và đến một mức độ nào đó, quan hệ sản xuất sẽ “trởthành xiềng xích của lực lượng sản xuất” Điều này đòi hỏi phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ
và thay thế quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi,
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
+ Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới cũng cónghĩa là sự diệt vong của cả 1 phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của 1 phương thứcsản xuất mới
Trang 7*Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong xem xét và cải tạo xã hội phải nghiên cứu nắm vững quy luật này, đi từ giảiquyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất gắn với thực tiễn hoạt độngcủa con người
- Coi trọng cải tạo và xây dựng cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, xây dựngđồng bộ các yếu tố của lực lượng sản xuất và các mặt của quan hệ sản xuất; Không đượctuyệt đối hóa một mặt, một yếu tố nào
- Việc cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất phải xuất phát từ thực trạng và yêu cầu pháttriển của lực lượng sản xuất Khi vận dụng quy luật này phải gắn với hệ thống các quy luậtđang vận hành trong xã hội Chống chủ quan, duy ý chí trong tạo dựng quan hệ sản xuất
*Vận dụng quy luật vào trong quá trình đổi mới của nước ta
- Thưc tiễn ở nước ta trong những năm trước đây do không nhận thức đầy đủ quy luậtnày cho rằng phát triển mạnh mẽ quan hệ sản xuất sẽ làm cho lực lượng sản xuất phát triển,
đã nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân khi nó còn có lý do tồn tại; đề cao
mở rộng quan hệ sản xuất tập thể khi nó chưa có đầy đủ những tất yếu kinh tế… đã dẫn đếnkìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Để khắc phục những sai lần đó, từ đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổimới, trong đó chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hànghóa nhiều thành phần chính là sự vận dung đúng đắn quy luật về sự phù hợp của quan hệsản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay
- Đại hội XI (2011), xác định: Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoahọc, công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ýnghĩa phương pháp luận rất quan trọng trong hoạt động quân sự và xây dựng quân đội.Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, là công cụbạo lực vũ trang để bảo vệ chế độ kinh tế Bởi vậy, cần thực hiện tốt chức năng là đội quânlao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế để góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mớiđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
5.2 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG CỦA XÃ HỘI; QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
5.2.1 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
a Vị trí quy luật
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mộttrong 2 quy luật cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội, đây là quy luật cở bảntác động ở mọi hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử; nó chỉ ra sự vận động, phát triển củalịch sử xã hội loài người
b Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể, đều bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệsản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai Trong
đó, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sảnxuất khác, quy định xu hướng chung của đời sống xã hội
Trang 8Ví dụ: Trong xã hội Chiếm hữu nô lệ bên cạnh quan hệ sản xuất Chiếm hữu nô lệ làkiểu quan hệ sản xuất đặc trưng (quan hệ sản xuất thống trị) còn có quan hệ sản xuất Cộngsản nguyên thủy là quan hệ sản xuất tàn dư và cuối xã hội Chiếm hữu nô lệ đã xuất hiệnquan hệ sản xuất Phong Kiến là quan hệ sản xuất mầm mống.
- Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạođức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảngphái, giáo hội, các đoàn thể xã hội… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định + Kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh của cơ sở hạ tầng, được xây dựng trên 1 cơ sở
hạ tầng nhất định, do cơ sở hạ tầng quyết định Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng đềuphản ánh cơ sở hạ tầng Trong xã hội có giai cấp, các bộ phận của kiến trúc thượng tầngphản ánh cơ sở hạ tầng không như nhau, trong đó kiến trúc thượng tầng chính trị, phápquyền phản ánh trực tiếp cơ sở hạ tầng, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, còn các bộphận khác như tôn giáo, đạo đức, triết học, nghệ thuật phản ánh cơ sở hạ tầng 1 cách giántiếp qua chính trị
+ Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp Đó chính là cuộcđấu tranh về mặt chính trị, tư tưởng giữa các giai cấp đối kháng, trong đó đặc trưng là sựthống trị về mặt chính trị - Tư tưởng của giai cấp thống trị Trong chính trị, nhà nước đóngvai trò quan trọng nhất Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của 1 xã hội nhất định Nhờ có nhànước, giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của đờisống xã hội
c Nội dung quy luật
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hìnhthái kinh tế - xã hội nhất định Trong sự tác động biện chứng của nó, cơ sở hạ tầng quyếtđịnh kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng có tác động to lớn, mạnh mẽ trở lại cơ
sở hạ tầng Sự tác động này mang tính khách quan, phổ biến
*Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
- Cơ sở khẳng định
+ Xuất phát từ mối quan hệ vật chất quyết định ý thức: ta thấy cơ sở hạ tầng là nhữngquan hệ kinh tế khách quan; còn kiến trúc thượng tầng là những quan hệ tư tưởng nảy sinh
từ những quan hệ kinh tế, do đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
+ Xuất phát từ thực tiễn: khi cơ sở hạ tầng thay đổi (nhiều thành phần kinh tế) đòi hỏi
sự lãnh đạo, hệ thống pháp luật cũng thay đổi theo
- Biểu hiện cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
+ Thứ nhất, cơ sở hạ tầng quyết định nguồn gốc ra đời của kiến trúc thượng tầng.Điều
đó có nghĩa là kiến trúc thượng tầng có nguồn gốc từ cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầngđược sinh ra từ cơ sở hạ tầng
Thực tiễn đã chứng minh, dưới chế độ Cộng sản nguyên thủy, quan hệ sản xuất dựa trênchế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chưa có đối kháng về lợi ích kinh tế, mọi người làmchung ăn chung nên kiến trúc thượng tầng của xã hội đó không có nhà nước, không có phápluật Các chế độ xã hội khác khi cơ sở hạ tầng có đối kháng về lợi ích kinh tế thì tất yếu kiếntrúc thượng tầng phải có nhà nước, pháp luật để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
+ Thứ hai, cơ sở hạ tầng quyết định nội dung, tính chất của kiến trúc thượng tầng.Điều
đó có nghĩa là cơ sở hạ tầng như thế nào thì cơ cấu, bộ mặt kiến trúc thượng tầng như thế
ấy, cơ sở hạ tầng mang tính giai cấp thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính giai cấp Vìkiến trúc thượng tầng là sự phản ánh của cơ sở hạ tầng
Trang 9+ Thứ ba, cơ sở hạ tầng quyết định sự vận động biến đổi của kiến trúc thượng
tầng.Điều đó có nghĩa là khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầngcũng căn bản biến đổi theo, sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng phản ánh sự thay đổi của
cơ sở hạ tầng sinh ra nó Mác khẳng định: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúcthượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng”
Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng là do sự vận động và pháttriển của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất thay đổi làm cho quan hệ sản xuất thayđổi, quan hệ sản xuất thay đổi thì cơ sở hạ tầng thay đổi, cơ sở hạ tầng thay đổi thì kiến trúcthượng tầng cũng căn bản biến đổi theo
*Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng
KTTT do cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng KTTT lại có tính độc lập tương đối trong quátrình vận động, phát triển và có tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng
- Thứ nhất, sự tác động của các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
thường diễn ra theo nhiều xu hướng khác nhau Trong đó, chức năng chính trị - xã hội củakiến trúc thượng tầng là xây dựng, củng cố, phát triển và bảo vệ cơ sở hạ tầng sinh ra nó;đấu tranh chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó, thông qua bộmáy quyền lực nhà nước, công cụ bạo lực (Nhất là quan hệ sản xuất thống trị)
Kiến trúc thượng tầng nó là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị bằng các quan điểm,đường lối phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị, nó biến thành sức mạnh vật chất to lớn tácđộng đến cơ sở hạ tầng
- Thứ hai, sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng tới cơ sở hạ tầng theo hai chiều
tích cực và tiêu cực Nếu kiến trúc thượng tầng tiến bộ phù hợp với cơ sở hạ tầng thì nó thúcđẩy xã hội phát triển và ngược lại Nếu kiến trúc thượng tầng lỗi thời lạc hậu không phù hợpvới cơ sở hạ tầng thì sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội
- Thứ ba, tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên, vai trò tác động của các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng tới cơ sở hạ tầngkhông ngang bằng nhau trong xã hội có phân chia giai cấp, nhà nước là yếu tố tác độngmạnh nhất tới cơ sở hạ tầng vì đó là bộ máy quyền lực tập trung của giai cấp thống trị vềkinh tế Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo… cũngtác động đến cơ sở hạ tầng nhưng đều bị nhà nước, pháp luật chi phối
*Ý nghĩa phương pháp luận
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng đến đâu phụ thuộc vàonăng lực chủ quan vận dung quy luật khách quan, vì vậy:
- Trong hoạt động thực tiễn cải tạo và xây dựng kiến trúc thượng tầng phải xuất phát từthực trạng và yêu cầu củng cố phát triển cơ sở hạ tầng; chống chủ quan duy ý chí trong việcthiết lập kiến trúc thượng tầng
- Mặc dù cơ sở hạ tầng có vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng, nhưng cần thấy rõvai trò tác động to lớn của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng, do vậy cần chốngquan điểm tuyệt đối hóa cơ sở hạ tầng
- Đây là cơ sở khoa học cho việc nhận thức đúng đắn đường lối quan điểm của Đảng ta
về đổi mới kinh tế kết hợp với đổi mới chính trị
*Sự vận dụng của Đảng ta
- Trước 1986: Sự nhận thức và vận dụng quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong những năm đầu xây dựng XHCN ở nước ta cònbộc lộ những hạn chế Trong đó, những hạn chế và khuyết điểm nổi lên là, chủ quan duy ýchí, vi phạm quy luật khách quan; nóng vội trong cải tạo XHCN, xoá bỏ ngay nền kinh tế
Trang 10Mặt khác, bộ máy của kiến trúc thượng tầng còn đồ sộ, cồng kềnh, quan liêu và kémhiệu lực Những hạn chế và khuyết điểm trên đã dẫn tới sự trì trệ trong phát triển kinh tế - xãhội đất nước những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Sau đổi mới: Phát triển kinh tế nhiều thành phần, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ
đạo Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
+ Đảng ta chủ trương: Đổi mới kinh tế đồng thời với đổi mới chính trị, từng bước đổimới chính trị Vì kinh tế và chính trị luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đóchính trị là vấn đề rất nhạy cảm
+ Việc đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta không thể tách rời những vấn đề chính trị, văn hoá xã hội
+ Đổi mới kinh tế phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kiênđịnh chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạngcủa Đảng
+ Đổi mới chính trị không phải là thay đổi chế độ chính trị mà là đổi mới hệ thốngchính trị, đổi mới tư duy chính trị, đổi mới chỉnh đốn đảng…
5.2.2 Quan hệ giữa kinh tế và chính trị
a Vị trí của vấn đề
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xãhội là cơ sở khoa học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữaKinh tế với Chính trị Trong đó, kinh tế quyết định chính trị, chính trị là sự biểu hiện tậptrung của kinh tế, có tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh tế
b Khái niệm kinh tế và chính trị
*Chính trị:Là sự phản ánh tập trung của kinh tế, là quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp,
các tập đoàn người, các tầng lớp xã hội trong việc giành, giữ và sử dụng chính quyền nhànước; chính trị còn là biểu hiện quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc về mặt nhà nước
- Cơ cấu của chính trị bao gồm: Ý thức chính trị, tổ chức chính trị và hoạt động chính trị
- Vấn đề cơ bản, chủ yếu nhất của chính trị là quyền lực nhà nước Vì: Lợi ích căn bảncủa các giai cấp được thể hiện tập trung nhất là ở vấn đề quyền lực nhà nước Nhà nước làcông cụ, phương tiện mạnh mẽ để các giai cấp giành và bảo vệ lợi ích căn bản của mình Thực tế: các giai cấp thường không dừng lại ở quan hệ kinh tế mà vấn đề sống còn làvấn đề quyền lực, thực thi quyền lực
Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng có tính chất chính trị, nếu như việc giải quyết nó trựctiếp hay gián tiếp gắn với vai trò chính quyền
*Kinh tế:Là các phương diện cơ bản của đời sống kinh tế - xã hội, đó là cơ sở kinh tế,
quy luật kinh tế, lợi ích kinh tế…
Trong các yếu tố trên lợi ích kinh tế được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của mọihoạt động cải biến xã hội
c Nội dung quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị
Kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau, trong đókinh tế quyết định chính trị; đồng thời chính trị tác động to lớn trở lại đối với kinh tế, thôngqua việc hoạch định con đường, biện pháp để phát triển kinh tế
*Kinh tế quyết định chính trị: Đây là luận điểm quan trọng của triết học Mác - Lênin
- Luận điểm này là sản phẩm của sự vận dụng nguyên lý về cơ sở hạ tầng quyết địnhkiến trúc thượng tầng và xem xét vai trò của kinh tế đối với chính trị
- Kinh tế quyết định chính trị biểu hiện ở bản chất kinh tế nào thì sản sinh ra chính trị ấy,khi kinh tế thay đổi thì chính trị sớm muộn phải thay đổi theo
Trang 11- Điều này diễn ra rõ nhất khi cách mạng xã hội nổ ra và giành thắng lợi Mỗi khi cáchmạng xã hội thắng lợi thì kinh tế thay đổi về bản chất và kéo theo sự thay đổi về chính trị
- Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị còn diễn ra ngay trong một hình tháikinh tế - xã hội Mỗi sự biến đổi của kinh tế trong một xã hội thì chính trị cũng có nhữngthay đổi nhất định về chính trị, như sự bổ sung về hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nước…
*Chính trị tác động trở lại kinh tế: Chính trị không hoàn toàn bị động mà tác động trở
lại kinh tế Bởi vì, trong quan hệ với kinh tế, chính trị có tính độc lập tương đối, hơn nữachính trị còn liên quan trực tiếp đến lợi ích sống còn của các giai cấp
- Sự vận động của kinh tế không phải diễn ra hỗn loạn, ngẫu nhiên, tự phát mà luôn có
sự định hướng của chính trị
- Sự tác động này biểu hiện vai trò của chính trị trong xác định mục tiêu, phương hướngphát triển và cơ chế, mô hình kinh tế trong xã hội Thông qua chính sách kinh tế, thông quavai trò cưỡng bức của pháp luật… chính trị có thể điều chỉnh, làm biến đổi kinh tế về tốc độ,quy mô phát triển
- Khi chính trị phản ánh đúng nhu cầu, quy luật, thực trạng, nhu cầu kinh tế thì thúc đẩykinh tế phát triển và ngược lại thì kìm hãm
- Sự kìm hãm không có nghĩa là chặn đứng mà vẫn có sự phát triển, nhưng chậm hơn sovới khả năng vốn có của nó
Từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị rút ra:
- Khi nhận thức, vận dụng quan hệ biện chứng này trong đời sống thực tiễn phải xuấtphát từ kinh tế, đồng thời luôn coi trọng yếu tố chính trị
- Tránh tuyệt đối hóa một mặt: Tuyệt đối hóa mặt kinh tế sẽ dẫn đến sai lầm của chủnghĩa duy vật kinh tế tầm thường; Tuyệt đối hóa mặt chính trị sẽ dẫn đến sai lầm, chủ quan,duy ý chí dẫn đến thất bại trong hoạt động thực tiễn
d Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý cả hai yếu tố kinh tế và chính trị,đổi mới kinh tế kết hợp với đổi mới chính trị
- Là vũ khí lý luận phê phán quan điểm tách rời hoặc tuyệt đối hoá một mặt kinh tế haychính trị
+ Tuyệt đối hóa kinh tế, sẽ dẫn đến hỗn loạn vô chính phủ, vi phạm đường lối chủtrương của Đảng, pháp luật của nhà nước, làm đảo lộn tình hình kinh tế - xã hội
+ Tuyệt đối hóa chính trị, không xuất phát từ cơ sở kinh tế, thực trạng kinh tế, quy luậtkinh tế, lợi ích kinh tế để xây dựng đường lối và tổ chức chính trị Điều đó sẽ dẫn đến kìmhãm sự phát triển kinh tế, khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội
*Vận dụng vào trong quá trình đổi mới của nước ta
Nhận thức và vận dụng đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trịtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng Đảng
ta có nhiều cống hiến trong phát triển, cụ thể hoá luận điểm trên vào từng giai đoạn cụ thểcách mạng ở nước ta
- Trước đổi mới 1986, nhận thức và vận dụng mối quan hệ này của Đảng ta có nhiềuhạn chế, biểu hiện ở chủ quan duy ý chí trong giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chínhtrị Trong giải quyết vấn đề kinh tế bị áp đặt của vấn đề chính trị quá lớn
- Trong quá trình đổi mới, Đảng ta vận dụng đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa duy vậtlịch sử về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng đấtnướcmà quyết định đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọngtâm, đổi mới chính trị phải thận trọng, theo yêu cầu của đổi mới kinh tế
Trang 12Đại hội XI Đảng chỉ rõ: Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu
xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh
+ Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới
+ Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp
+ Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
+ Thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc
+ Mục tiêu của sự nghiệp đổi mới: xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
5.3 PHẠM TRÙ HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI; TÍNH CHẤT LỊCH SỬ - TỰ NHIÊN CỦA QUÁ TRÌNH THAY THẾ CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
5.3.1 Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
a Phương pháp tiếp cận phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
*Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Đi từ yếu tố tinh thần, tư tưởng, từ kiến trúc
thượng tầng để giải thích sự vận động, phát triển của xã hội
- Platôn: Ông đi từ “ý niệm tuyệt đối”, thế giới con người con người đang sống chẳngqua chỉ là cái bóng mà thôi
- Hêghen: Xuất phát từ cái “ý niệm tuyệt đối”, để giải thích vận động của lịch sử xã hội,cho rằng “ý niệm tuyệt đối” tự tha hoá thành tự nhiên, thành con người, thành lịch sử
*Quan điểm tôn giáo: Giải thích sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội là do thần
linh thượng đế, các lực lượng siêu nhiên chi phối, quyết định Ki tô giáo -> chúa quyết định
*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Luận giải về sự tồn tại, vận động, phát
triển của xã hội từ chính bản thân đời sống xã hội, song sai lầm cơ bản của họ là thườngtuyệt đối hoá một yếu tố nào đó, không thấy được sự tác động qua lại giữa các yếu tố vàchưa thấy được quy luật phát triển của xã hội
Tóm lại: Do hạn chế bởi thời đại lịch sử hoặc do lập trường giai cấp các quan điểm trên
đều bàn về xã hội một cách chung chung, trừu tượng, tiếp cận đơn tuyến, tuyệt đối hoá mộtmặt nào đó, chưa phải là những lý luận thực sự khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
*Phương pháp tiếp cận của Mác
Khác với các quan điểm triết học trước, Mác tiếp cận xã hội loài người một cách đơntuyến, Mác tiếp cận xã hội với phương pháp tổng hợp Ông coi xã hội như một cơ thể sống,vận động, phát triển theo quy luật do sự tác động của các yếu tố bên trong
- Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Mác đi nghiên cứu từ lĩnh vực sản xuấtvật chất Sản xuất vật chất là điểm khởi đầu để đi nghiên cứu các lĩnh vực khác Mặt khác,con người ta liên hệ và tác động lẫn nhau, trước hết là trong lĩnh vực sản xuất vật chất.Chính trên nền tảng của quan hệ sản xuất mà hình thành các quan hệ xã hội khác, hìnhthành xã hội và các quy luật xã hội Khi giải phẫu xã hội Mác đã phát hiện ra những mốiquan hệ bản chất, những mối quan hệ có tính lặp đi lặp lại trong mọi xã hội, nhờ đó mà tìm
ra quy luật trong sự phát triển của nó
- Trong tất cả các mối quan hệ xã hội Mác làm nổi bật quan hệ sản xuất Mác coi đó làquan hệ cơ bản, ban đầu quyết định mọi quan hệ khác Sở dĩ như vậy vì quan hệ sản xuất làcái sườn cơ thể xã hội, là quan hệ cơ bản quyết định các quan hệ xã hội khác giữa người vớingười, tức là quy định bản chất, đặc trưng của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 13- Không chỉ dừng lại ở lý luận chung chung, trừu tượng Mác đi sâu nghiên cứu “giảiphẫu” một xã hội cụ thể đó là xã hội tư bản chủ nghĩa ở một số nước điển hình, gạt bỏnhững yếu tố không cơ bản, tìm ra xương sống có tính chất phổ biến của mọi hình thái kinh
tế - xã hội: Lực lượng sản xuất - Quan hệ sản xuất - Kiến trúc thượng tầng
Mác dùng thực tiễn lịch sử để chứng minh: các xã hội cụ thể rất khác nhau, song ở tất
cả các xã hội đó, các yếu tố cơ bản giống nhau là: Quan hệ sản xuất ứng với một trình độphát triển của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tầng trên nó
-> Với phương pháp tiếp cận này, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội được coi như một cơthể sống, một hệ thống vận động theo quy luật Ở đây Mác đã vận dụng tài tình phươngpháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, kết hợpchặt chẽ phương pháp lôgic và lịch sử, để trình bày một hình thái kinh tế - xã hội cụ thể
b Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiểu kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
- Phạm trù hình thái kinh tế -xã hội chỉ ra kết cấu xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sửnhất định bao gồm ba yếu tố cơ bản Đó là: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiếntrúc thượng tầng của xã hội
- Các yếu tố của hình thái kinh tế -xã hội có mối quan hệ biện chứng tạo thành cơ chếvận hành của các hình thái kinh tế- xã hội trong lịch sử Trong đó: LLSX quyết định các yếu
tố còn lại, xét đến cùng quyết định sự vận động và phát triển của các HTKTXH trong lịch
sử QHSX là tiêu chuẩn quan trọng phân biệt bản chất các chế độ xã hội trong lịch sử.KTTT thể hiện mqh giữa người với người trong lĩnh vực tinh thần, tiêu biểu cho bộ mặt tinhthần của XH
- Sự tác động qua lại một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất,kiến trúc thượng tầng của xã hội hình thành sự vận động tổng hợp của hai quy luật cơ bản:quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật
về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
5.3.2 Tính chất lịch sử - Tự nhiên của quá trình thay thế các hình thái KT-XH
a Quan điểm phi mácxít
*Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Luận giải sự phát triển của xã hội là do lực lượng
siêu nhiên, thần thánh hoặc ý chí của vĩ nhân quyết định
*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình: Do không nhận thức được các mối liên
hệ bản chất trong đời sống xã hội nên họ không tìm ra được các quy luật của lịch sử, và chorằng xã hội là một tổ hợp có tính chất máy móc, vận động, phát triển một cách ngẫu nhiên,hỗn độn
*Quan điểm của triết học tư sản: Tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế, kỹ thuật trong sự phát
triển của lịch sử xã hội
- “Thuyết kỹ trị”: tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế, kỹ thuật, coi yếu tố kinh tế, kỹ thuật
quyết định sự phát triển của xã hội từ đó xóa nhòa sự khác nhau về bản chất của các chế độ
xã hội
- “Thuyết hội tụ”: cho rằng do sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật chế độ tư
bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa sẽ gặp nhau ở xã hội hậu công nghiệp - phủ nhận đấutranh giai cấp
Trang 14- Quan điểm của Avin Tốpphlơ: chia sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội thànhnền văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh tin học (còn gọi
là văn minh trí tuệ) Ở đây Ông đã tuyệt đối hóa vai trò của khoa học kỹ thuật trong sự pháttriển xã hội, xem nhẹ yếu tố quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, đồng nhất tiến bộkhoa học kỹ thuật với tiến bộ xã hội, không thấy được sự phát triển xã hội trong chỉnh thể.-> Thực chất quan điểm này phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác,tuyệt đối hóa vai trò yếu tố kỹ thuật, yếu tố khoa học công nghệ -> phủ nhận vai trò sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cho rằng chỉ có đội ngũ trí thức mới giữ vai trò quyếtđịnh sự phát triển của xã hội
b Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
* Chủ nghĩa Mác - Lê nin khẳng định : Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển
và thay thế nhau từ thấp đến cao của các hình thái kinh tế - xã hội Xã hội chuyển từ hìnhthái kinh tế - xã hội này sang HT kinh tế - xã hội khác cũng là chuyển từ nền văn minh nàysang nền văn minh khác Sự vận động ấy không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên mà tuântheo những quy luật khách quan vốn có của nó
C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” (C.Mác- Ph Ăng ghen toàn tập, Nxb CTQG, H.1993, t23, tr21.)
- Quá trình lịch sử - tự nhiên có nghĩa là: con người làm ra lịch sử của mình, họ tạo ranhững quan hệ xã hội của mình, đó là xã hội Nhưng xã hội vận động theo quy luật kháchquan không phụ thuộc vào ý muốn con người
Ví dụ: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có từ khi xuất hiện xã hội loài người nhưng mãi đến những năm 40 của thế kỷ 19 loài người mới nhận thức được quy luật này khi Mác- Ăng ghen là những người phát hiện ra quy luật
- Sự thay thế một hình thái KT-XH này bằng một HTKT-XH khác thường được thựchiện thông qua cách mạng xã hội Nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng đó là mâu thuẫngiữa LLSX và QHSX, khi QHSX trở thành xiềng xích của LLSX Trong những thời kỳcách mạng, khi cơ sở kinh tế thay đổi thì sớm hay muộn toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũngphải thay đổi theo
Sự vận động phát triển của xã hội bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất màtrước hết là sự biến đổi, phát triển của công cụ sản xuất Công cụ sản xuất là yếu tố độngnhất, cách mạng nhất, có vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất Con người là chủ thểthường xuyên sử dụng, cải tiến, sáng tạo ra công cụ sản xuất Cùng với sự phát triển củacông cụ sản xuất là sự phát triển về tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động Mỗibước phát triển của lực lượng sản xuất đều tạo khả năng, điều kiện và đặt ra yêu cầu kháchquan cho sự biến đổi của quan hệ sản xuất Đặc biệt khi lực lượng sản xuất đã phát triển vềchất, tất yếu diễn ra sự thay thế quan hệ sản xuất cũ lỗi thời, lạc hậu bằng một quan hệ sảnxuất mới tiến bộ, phù hợp với một lực lượng sản xuất đã phát triển Đồng thời với sự ra đờicủa một quan hệ sản xuất mới là sự thay đổi về chất của cơ sở hạ tầng xã hội Cơ sở hạ tầng
xã hội mới ra đời tất yếu dẫn đến sự biến đổi, phát triển căn bản (nhanh, chậm, ít, nhiều) củakiến trúc thượng tầng của xã hội
Trang 15Hình thái kinh tế xã hội cũ mất đi, hình thái kinh tế xã hội mới ra đời Cứ như vậy, xãhội loài người là một tiến trình lịch sử- tự nhiên, là sự nối tiếp nhau từ thấp đến cao của cáchình thái kinh tế-xã hội từ cộng sản nguyên thuỷ đến chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bảnchủ nghĩa và đang tiến lên hình thái kinh tế CS chủ nghĩa Đó là kết quả tác động tổng hợpcủa các quy luật khách quan Trong đó có sự thống nhất giữa quy luật chung, cơ bản, phổbiến với quy luật đặc thù và quy luật riêng của lịch sử xã hội.
Lênin viết: “Chỉ có đem quy những QHXH vào những QHSX, và đem quy những
QHSX vào trình độ của LLSX thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm
sự phát triển của các HTKT-XH là một quá trình lịch sử tự nhiên” (V.I.Lênin toàn tập,
NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t.1,tr.163)
Lênin viết: “Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là
một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một HTKT-XH nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của HTKT-XH đó”
(V.I.Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t.1,tr.198)
- Quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển XH chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự từ thấp đến cao mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một hoặc một vài HTKT-XH trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Nghĩa là: Trong sự phát triển và thay thế nhau của các HT KT-XH Do đặc điểm vềlịch sử, về không gian và thời gian, điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, không phảiquốc gia nào cũng phải trải qua tất cả các HT KT-XH có tính tuần tự từ thấp đến cao mà cóquốc gia còn phát triển theo con đường bỏ qua 1 hay một vài HTKT-XH nhất định
Ví dụ: Nga, Đức, Ba Lan…từ HTXHCSNT lên HTXH phong kiến bỏ qua HTXH
chiếm hữu nô lệ
Ôxtrâylia, Mỹ, Ca na đa từ HTXH chiếm hữu nô lệ lên HTXH Tư bản chủ nghĩa bỏqua HTXH phong kiến
Trung Quốc, Việt Nam từ HTXH CSNT lên HTXH phong kiến bỏ qua HTXH chiếmhữu nô lệ và từ HTXH phong kiến lên HTXH CSCN bỏ qua HTXH TBCN
+ Điều kiện để một nước, một dân tộc có thể bỏ qua một hay 1 vài HT kinh tế – xã hội nhất định để xây dựng HT kinh tế – xã hội cao hơn là:
-> HT kinh tế - xã hội định bỏ qua đã trở nên lỗi thời lạc hậu
-> HT kinh tế xã hội định xây dựng đã trở thành hiện thực
-> Có sự giúp đỡ của các nước tiên tiến
-> Dân tộc đó phải nỗ lực cao độ, đặc biệt có lực lượng lãnh đạo đủ sức đưa dân tộc
đó đi lên HT kinh tế - xã hội cao định vươn tới
Như vậy: Việc bỏ qua 1 hay 1 vài HTKT-XH chẳng những không mâu thuẫn với tinh
thần của sự phát triển mang tính lịch sử - tự nhiên mà còn là biểu hiện sinh động của quá trình lịch sử - tự nhiên ấy.
Trang 16*Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong xem xét và cải tạo xã hội phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quy luật kháchquan và năng động chủ quan của con người, không tuyệt đối hoá, không ỷ lại hoặc chủ quanduy ý chí
- Phải nắm vững quy luật chung và biết biểu hiện của nó ở từng dân tộc, từng giai đoạn
cụ thể Chống giáo điều hoặc tuyệt đối hoá tính đặc thù
- Đây là cơ sở khoa học cho Đảng, nhân dân ta nhận thức tính tất yếu định hướng xã hộichủ nghĩa ở nước ta hiện nay Chỉ có tri thức đầy đủ về tư tưởng của quá trình lịch sử -tựnhiên của hình thái kinh tế - xã hội thì mới có nhận thức đúng và niềm tin vào sự tất thắngcủa chủ nghĩa xã hội
Đảng ta xác định (Đại hội XI):“Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại
là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừađấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh của nhân dân cácnước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khókhăn, thử thách, nhưng sẽ có những bước tiến mới Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loàingười nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”
5.4 GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
*Giá trị bền vững của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
- Muốn nhận thức và cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải nhận thức đúng đắn
vị trí, vai trò và mối quan hệ biện chứng giữa ba yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệsản xuất và kiến trúc thượng tầng Xem nhẹ hoặc tuyệt đối hoá một yếu tố nào cũng sai lầm
- Lý luận hình thái kinh tế -xã hội ra đời đem lại một cuộc cách mạng trong toàn bộquan niệm về lịch sử xã hội, bác bỏ quan niệm trừu tượng, duy tâm, phi lịch sử về xã hộitrước đó, trở thành hòn đá tảng của khoa học xã hội, cơ sở phương pháp luận khoa học vàcách mạng cho sự phân tích lịch sử xã hội
- Chỉ ra động lực phát triển của lịch sử xã hội không phải do một lực lượng siêunhiên thần bí nào cả, mà do hoạt động thực tiễn của con người, trước hết là thực tiễn laođộng sản xuất vật chất dưới tác động của các quy luật khách quan
- Giải quyết một cách khoa học về vấn đề phân loại các chế độ xã hội và phân kỳlịch sử, thay thế các quan niệm duy tâm, siêu hình trước đó đã thống trị trong khoa học xãhội
- Là cơ sở lí luận, phương pháp luận khoa học và cách mạng trong đấu tranh bác bỏnhững quan điểm thù địch, sai trái về xã hội như: thuyết kỹ trị (tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế
kỹ thuật), thuyết hội tụ(hội tụ ở XH hậu công nghiệp), hay cách tiếp cận xã hội bằng cácnền văn minh của Alvin Tôpplơ (nông nghiệp, công nghiệp, hậu công nghiệp hay văn minhtin học, văn minh trí tuệ ) thực chất đây là sự phân chia dựa vào các trình độ phát triển kinh
tế, khoa học công nghệ nhằm chê đậy bản chất và chứng minh cho sự tồn tại vĩnh viễn củachế độ tư bản
- Ngày nay thực tiễn xã hội và sự phát triển của nhận thức khoa học đã bổ sung, pháttriển mới các quan niệm lịch sử xã hội, song lí luận hình thái kinh tế- xã hội vẫn giữ nguyêngiá trị là quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để phân tích lịch sử và nhận thức cácvấn đề xã hội, là cơ sở nền tảng lí luận cho chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 17*Ý nghĩa của nó đối với nhận thức con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta
- Lý luận hình thái KT-XH là cơ sở lí luận khoa học cho việc lựa chọn con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
- Muốn thực hiện thắng lợi sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài; kết hợp phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng không thể thiếu
Điều kiện bên trong chủ yếu là: có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảngcộng sản Việt Nam; có nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; có tiềm năng
to lớn của đất nước và con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, truyền thống dân tộc Trong
đó, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam cả trong cách mạng dân tộc, dân chủ và trong cách mạng XHCN hiện nay
Điều kiện bên ngoài: là sự giúp đỡ của các nước XHCN trước đây cũng nhưhiện nay, là việc mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại,chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hợp tác đầu tư, nâng cao trình độ quản lý, thu hút vốn,khoa học công nghệ, mở rộng thị trường, khai thác lợi thế so sánh, đi tắt đón đầu …để pháttriển đất nước
Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại” (Đảng cộng sản ViệtNam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NxbCTQG H 2001 Tr 84)
- Lựa chọn con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở VN là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn Con đường đó là tất yếu khách quan, có khả năng và điều kiện thực hiện Bản chất là phát triển rút ngắn XH bằng những hình thức, bước đi thích hợp cốt lõi là tăng trưởng nhảy vọt lực lượng sản xuất, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
+ Đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn phù hợp với qui luật khách quan vàphù hợp với xu thế phát triển tất yếu của lịch sử
+ Đi lên CNXH là nguyện vọng quyết tâm, ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.+ Những cơ sở kinh tế kỹ thuật, tài nguyên quốc gia, cùng những thành quả đã đạtđược, là những tiền đề kinh tế kỹ thuật để chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.+ Những thành tựu to lớn của hơn gần 30 năm đổi mới đất nước đã khẳng định đúngđắn của việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 18* Đại hội Đảng XI khẳng định:
“Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn củaĐảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịchsử” “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử loài người sẽ nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội”
- Khẳng định về thời kỳ quá độ: Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu
tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội
+ Nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiềuhình thức tổ chức kinh tế xã hội đan xen
+ Khẳng định những điều kiện thuận lợi đi lên chủ nghĩa xã hội (tr 70 - 71)
- Đánh giá về chủ nghĩa tư bản hiện đại: Đảng ta khẳng định hiện nay chủ nghĩa tư bản
còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức bóc lột và bất công.+ Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tínhchất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bảnchủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc
+ Khủng hoảng kinh tế chính trị xã hội vẫn tiếp tục xảy ra
+ Sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân laođộng sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản
- Trong chiến lược phát triển kinh tế Đảng ta khẳng định: Tiếp tục đổi mới toàn diện
mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa
+ Thực tiễn gần 30 năm đổi mới đã chứng tỏ: đi lên chủ nghĩa xã hội là sự phù hợp vớiquy luật khách quan và thực tiễn của Việt Nam
+ Đảng ta khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập tự
do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc
* Học thuyết HTKT-XH có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác chính trị- tư tưởng trong quân đội và BĐBP góp phần củng cố niềm tin, lý tưởng cách mạng, kiên định con đường đi lên CNXH cho cán bộ, chiến sĩ trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay
Xác định trách nhiệm của quân đội là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu bảo vệ sựngiệp đổi mới, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Đây là cơ sở khoa học và cáchmạng trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay chống lại các quan điểm sai lầm, phảnđộng hòng phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 19VẤN ĐỀ 6: GIAI CẤP, MQH GIAI CẤP, DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI
6.1 CÁI MỚI CỦA MÁC TRONG LÝ LUẬN VỀ GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP
Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những nội dung căn bản nhất củachủ nghĩa Mác - Lênin, kết quả tất yếu của sự hình thành và phát triển quan niệm duy vật vềlịch sử Lý luận đó đã và đang là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học để các đảngcộng sản và giai cấp công nhân trên thế giới xác định đường lối chiến lược, sách lược trongcuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình
a Quan điểm của các nhà tư tưởng trước Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Nhiều nhà triết học, xã hội học trước Mác đã phát hiện được vấn đề giai cấp và đấutranh giai cấp Nhưng do hạn chế về nhận thức hoặc nhiều lý do khác mà họ chưa có cáchtiếp cận đúng và chưa lý giải khoa học về vấn đề giai cấp
- Ở Trung Hoa cổ đại
+ Khổng Tử: Đưa ra học thuyết bảo vệ lợi ích của giới quý tộc Ông cho rằng người
quân tử và kẻ tiểu nhân là những hạng người có địa vị xã hội và nhân cách khác nhau.Người quân tử là người sang có quyền lực lớn, kẻ tiểu nhân là người hèn, kém luôn phảiphục tùng quyền lực của người quân tử Giữa người quân tử, người quyền quý và người tiểunhân (người hèn) phải có sự cách biệt, nếu không thì sẽ loạn
+ Tuân Tử: đã phân chia xã hội thành 4 đẳng cấp: sĩ, nông, công, thương.
- Ở Ân Độ cổ đại , Trong Kinh Vêđa đã nói đến bốn đẳng cấp chính là: 1) Giáo sĩ
Balamôn, 2) Quý tộc, 3) Thương nhân, điền chủ, 4) lao động và 5) Một bộ phận người sốngngoài xã hội như thú vât gọi là Pariah (cùng đinh)
- Ở Hy Lạp cổ đại: Trong các học thuyết về chính trị xã hội, nhiều nhà tư tưởng đã thừa
nhận xã hội có sự phân chia thành các giai cấp, các tầng lớp xã hội đối lập nhau và thườngxuyên đấu tranh với nhau
+ Platôn: Trong nhà nước lý tưởng tồn tại các tầng lớp người như: thứ nhất, các nhà
thông thái, các nhà triết học; thứ hai, các chiến binh; thứ ba, là những người nông dân và thợthủ công
+ Aritxtôt: Trong xã hội có một loại người cầm quyền, thống trị và một loại khác là kẻ
bị trị và nô lệ Chế độ nô lệ, đó là nền tảng, điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của nhà nước.Như vậy ngay từ thời cổ đại cả ở Trung Quốc, Ân Độ, Hy Lạp đều đã xuất hiện những
tư tưởng phản ánh về sự phân chia xã hội thành giai cấp và cuộc đấu tranh giữa các giai cấp.Các tư tưởng về giai cấp và đấu tranh giai cấp ở thời cổ đại chưa đưa ra được một địnhnghĩa khái quát về giai cấp, mà chỉ thừa nhận giai cấp là những loại người có quyền lực, cóđịa vị và chức năng khác nhau trong xã hội Họ còn cho rằng nguồn gốc của sự phân chiathành những hạng người khác nhau (hay nguồn gốc giai cấp) là do thượng đế, thần thánhquy định
- T
rong thời kỳ cận đại: Nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng như Tômat Morơ (Anh); Tômađô
Cămpanenla (Italia); Giăng-giắc Rút-xô (Pháp) đều nêu lên tư tưởng cho rằng giai cấp lànhững tầng lớp người có quyền lực, địa vị khác nhau trong xã hội; giai cấp và sự đấu tranhgiai cấp, sự bất công, mất dân chủ trong xã hội có nguyên nhân khách quan từ trong sự pháttriển kinh tế, trong hình thức sở hữu về tài sản Tuy nhiên họ chưa thực sự thấy được cơ sởkinh tế của giai cấp, còn chịu ảnh hưởng khá nặng nề quan điểm của cơ đốc giáo, vẫn đứngtrên quan điểm tự nhiên thần luận về các quá trình lịch sử xã hội để giải thích hiện tượnggiai cấp
Trang 20Công lao lớn nhất trong việc phát hiện ra giai cấp và đấu tranh giai cấp thuộc về nhữngnhà sử học Pháp: Phrăngxoa Ghidô (1778 - 1874), Ôguytxtanh Chiery (1795 - 1856),Phrăngxoa Minhê (1796 - 1884) Theo đó, những sự thay đổi quan hệ sở hữu về tài sản, chủyếu là quan hệ sở hữu về ruộng đất đã đưa đến sự thay đổi về quan hệ giai cấp và sự thayđổi về chế độ chính trị Tuy nhiên các nhà sử học đó lại quan niệm sự hình thành giai cấp vànhà nước là dựa trên cơ sở chinh phục bằng bạo lực và sự tan rã xã hội cũ, bằng sự nô dịchcủa những dân tộc và bộ lạc này đối với dân tộc và bộ lạc khác Họ thấy được mâu thuẫntrong xã hội tư bản, nhưng lại muốn xoá nhoà sự đối kháng đó bằng việc điều hoà giữa cácgiai cấp.
Tóm lại các nhà tư tưởng trước Mác đã nêu lên được nhiều tư tưởng có giá trị về vấn đềgiai cấp và đấu tranh giai cấp Những tư tưởng đó là tiền đề cho sự ra đời lý luận của chủnghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp sau này
b Quan điểm của các nhà tư tưởng tư sản hiện nay về giai cấp và đấu tranh giai cấp
- Các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản luôn tìm cách phủ nhận học thuyết giai cấp vàđấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những phương pháp và ở những mức độkhác nhau
+ Một số học giả tư sản phủ nhận hoàn toàn học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp
Họ cho rằng Mác đã quá nhấn mạnh đến sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sảnkhi xây dựng học thuyết về gia cấp Theo họ giai cấp không phải là hiện tượng phổ biến, quiluật đấu tranh giai cấp không phải là qui luật chung cho mọi xã hội Do vậy không thể ápdụng cho xã hội tư bản được
+ Một số học giả tư sản khác tuy có thừa nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp,nhưng lại tìm cách bác bỏ quan niệm về giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ cơ sởkinh tế của giai cấp và đấu tranh giai cấp, mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu ra Họ giảithích nguồn gốc giai cấp từ cơ sở sinh học như tố chất cấu tạo nên cơ thể, cấu trúc hoànthiện hay không hoàn thiện của cơ thể Hoặc một số người còn lấy các tiêu chí như trạngthái tâm lý, khả năng trí tuệ, nghề nghiệp làm cơ sở để phân chia thành giai cấp Một sốkhác lại chỉ căn cứ vào thu nhập để phân biệt giai cấp
- Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng xuất hiện những quan điểm sailầm về đấu tranh giai cấp
+ Quan điểm “hữu khuynh” tuy thừa nhận cơ sở kinh tế của giai cấp, nhưng lại muốndùng phương pháp cải lương để giải quyết mâu thuẫn giai cấp Họ nhấn mạnh và tuyệt đốihoá đấu tranh kinh tế, lảng tránh các mục tiêu chính trị và cách mạng xã hội Theo họ mụctiêu đấu tranh giai cấp chỉ là cải cách điều kiện làm việc để cải thiện hoàn cảnh sống củacông nhân dưới chế độ tư bản, điều hoà lợi ích giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
+ Quan điểm “tả khuynh” đưa ra các khẩu hiệu cách mạng cực đoan để lợi dụng tìnhcảm của quần chúng nhân dân, che giấu bản chất chủ nghĩa cơ hội của mình Họ luôn chủquan trong việc đánh giá các sự kiện, muốn bỏ qua những bước quá độ, những biện phápmềm dẻo, do vậy đẩy phong trào đến chỗ phiêu lưu, mạo hiểm, dễ bị tổn thất lớn
Chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh” và “hữu khuynh” đều trái với quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin, đều là những căn bệnh rất nguy hiểm có thể gây tổn thất nghiêm trọngcho phong trào cách mạng, do vậy phải đấu tranh thường xuyên, kiên quyết chống lạinhững căn bệnh đó
Trang 21c Quan điểm của Mác – Ănghen
- Đứng vững trên lập trường duy vật về lịch sử, lần đầu tiên Mác - Ăngghen đã giải thíchmột cách khoa học về vấn đề này Khi nghiên cứu giai cấp các ông đã gắn liền với nền sảnxuất xã hội và khẳng định không thể tìm được giai cấp nếu tách chúng khỏi hệ thống sảnxuất xã hội
- Trong các tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đều khẳng định giai cấp khôngphải là hiện tượng bẩm sinh của xã hội, không xuất hiện cùng với sự xuất hiện xã hội Đã cónhững giai đoạn phát triển của xã hội, trong đó giai cấp chưa xuất hiện Giai cấp xuất hiệngắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định của sản xuất Sự phát triển của lực lượng sảnxuất phải đạt đến một trình độ nhất định mới tạo ra những điều kiện cho giai cấp ra đời Giaicấp sẽ mất đi khi điều kiện kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của nó không còn nữa
Tư tưởng này được thể hiện trong bức thư Mác gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 05/3/1852 Ôngviết: “Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1) Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn vớinhững giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, 2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫnđến chuyên chính vô sản, 3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủtiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp”
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước”Ăngghen trình bầy tỉ mỷ quan điểm mác xít về sự xuất hiện giai cấp Theo đó sự phát triểncủa lực lượng sản xuất dẫn đến sự phân công lao động Sự phân công lao động làm cho laođộng được chuyên môn hoá, đưa đến năng suất lao động được nâng cao Năng suất laođộng nâng cao dẫn đến của cải dư thừa tương đối Do có của cải dư thừa tương đối đã tạokhả năng chiếm đoạt của cải dư thừa đó làm của riêng Quá trình phân công lao động xã hộicũng dẫn đến chế độ tư hữu ra đời Chế độ tư hữu làm cơ sở cho sự phân hoá xã hội thànhgiai cấp có lợi ích đối kháng nhau Như vậy nguồn gốc của giai cấp là từ chế độ kinh tế
- Đây là những luận điểm cơ bản diễn giải quy luật ra đời, vận động và diệt vong của giaicấp Mặc dù chưa đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh nhưng Mác - Ăngghen đã đưa ra phươngpháp luận đúng đắn khi tiếp cận giai cấp
+ Phải có quan điểm toàn diện
+ Phải gắn với một hệ thống sản xuất vật chất nhất định
+ Phương thức sản xuất là cơ sở hiện thực của việc phân chia giai cấp
- Sau này Lênin đã bảo vệ, phát triển học thuyết Mác, Ông đã dùng 3 luận điểm trên, coi
đó là hòn đá thử vàng để phân biệt người mácxít chân chính và những kẻ mácxít giả hiệu.Lênin đã đưa ra định nghĩa khoa học trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”
6.2 ĐỊNH NGHĨA GIAI CẤP; KẾT CẤU XÃ HỘI - GIAI CẤP TRONG XÃ HỘI
6.2.1 Định nghĩa giai cấp
Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lênin định nghĩa: “Người ta gọi là giai cấp, những tậpđoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xãhội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệnày được pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họtrong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phầncủa cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tậpđoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn có địa vị khácnhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
Trang 22Như vậy sự ra đời và tồn tại của giai cấp gắn liền với những hệ thống sản xuất nhấtđịnh Sự khác nhau về địa vị của giai cấp trong hệ thống sản xuất là do những đặc trưng sau:
- Thứ nhất: Theo Lênin giai cấp trước hết là một tập đoàn người to lớn chỉ xuất hiện
trrong những hệ thống sản xuất nhất định trong lịch sử: Điều này chứng tỏ giai cấp khôngchỉ gồm một vài cá nhân cũng không phải sự cộng lại đơn giản của những cá nhân mà tráilại là một số đông đảo của những cá nhân ấy, được liên kết với nhau thành những tập đoàntheo những cách thức nhất định, mặt khác cũng cần phải lưu ý rằng theo Lênin giai cấp chỉ
là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó chỉ tồn tại và phát triển trong những giai đoạn lịch sửnhất định, chỉ gắn với một phương thức sản xuất nhất định Lịch sử đã chứng minh loàingười đã từng tồn tại hàng triệu năm mà không hề có sự tồn tại của bất kỳ một giai cấp nào(Cộng sản nguyên thủy)
- Thứ hai: Tiêu chí (hay đặc trưng) cơ bản để gắn kết số đông những cá nhân riêng lẻ
thành các giai cấp khác nhau chính là địa vị của họ trong hệ thống sản xuất nhất định
Địa vị của mỗi giai cấp là tổng hợp những điều kiện tồn tại vật chất cơ bản của giai cấp
đó, nói lên nó là giai cấp như thế nào: bóc lột, thống trị hay bị bóc lột, bị thống trị Địa vị củamột giai cấp được quy định ở 3 mối quan hệ cơ bản:
+ Thứ nhất, quan hệ của gc đó đối với việc sở hữu tư liệu sản xuất
Các giai cấp có mối quan hệ khác nhau về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, có giai cấpchiếm đại bộ phận đối với tư liệu sản xuất, nhưng cũng có gc nắm số ít hoặc thậm chí khôngnắm tư liệu sản xuất -> điều này quy định địa vị thống trị của giai cấp Giai cấp nào nắmquyền sở hữu chủ yếu tư liệu sản xuất thì giai cấp ấy nắm quyền thống trị và ngược lại là giaicấp bị thống trị
+ Thứ 2: Quan hệ của giai cấp đó trong tổ chức quản lý và phân công lao động xã hội Trong quá trình sản xuất giai cấp nào có quyền nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu thì giaicấp đó cũng có quyền làm chủ quá trình tổ chức quản lý và phân công lao động xã hội vàngược lại Chính điều này cũng góp phần chỉ rõ địa vị của các gc trong xã hội
+ Thứ 3: Quan hệ của giai cấp đó trong phân phối sản phẩm lao động làm ra:
Xuất phát từ sự khác nhau về sở hữu và tổ chức quản lý đối với tư liệu sản xuất, nếu giaicấp nào làm chủ 2 mặt kia thì giai cấp đó cũng quyết định quy mô thu nhập và sản phẩm xãhội làm ra và ngược lại
Hiện nay, trong xã hội hình thành 2 hình thức sở hữu: Tư hữu và công hữu -> từ đó dẫnđến 2 hình thức phân phối: bóc lột - bị bóc lột và công bằng bình đẳng
Trong tất cả các xã hội có giai cấp thì giai cấp thống trị là giai cấp làm chủ cả 3 mặt Cònnhững người lao động làm thuê chỉ hưởng một phần rất ít ỏi sản phẩm so với tổng số sảnphẩm mà họ làm ra
Ví dụ: Trong xã hội Chiếm hữu nô lệ, người nô lệ chỉ đủ ăn để duy trì sự sống còn lại tất
cả đều thuộc về giai cấp chủ nô
=>Tất cả những mối quan hệ này có quan hệ biện chứng với nhau góp phần quy định địa
vị giai cấp trong xã hội, nhưng trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò trực tiếp quyết định,những mối quan hệ cơ bản này thường được pháp luật quy định và thừa nhận Nó được thểchế hóa bằng các điều luật của nhà nước và nó được nhà nước bảo vệ
Cho nên để phân biệt giai cấp này với giai cấp khác phải phân tích xem xét đầy đủnhững mối quan hệ cơ bản, những dấu hiệu đặc trưng quy định nó
Ví dụ: Cùng là giai cấp thống trị trong nền kinh tế nhưng giai cấp chủ nô, địa chủ, tưsản là không hoàn toàn như nhau, tương tự chúng ta cũng phân biệt được sự khác nhau giữa
nô lệ với người nông dân với giai cấp công nhân mặc dù họ đều là gai cấp bị trị trong cácgiai đoạn trước chủ nghĩa xã hội
Trang 23- Thứ ba: Thực chất việc phân chia các tập đoàn người thành các giai cấp khác nhau
chính là sự bóc lột của tập đoàn người này với tập đoàn người khác về lao động do chỗ họ
có địa vị khác nhau trong nền sản xuất xã hội Chẳng hạn sở dĩ có giai cấp nô lệ và giai cấpchủ nô là do chỗ chủ nô thì có quyền bóc lột nô lệ bằng nô dịch
*Ý nghĩa định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin
- Đã vạch ra bản chất của xung đột giai cấp trong các xã hội có giai cấp đối kháng là do
sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Do đó, muốn xoá bỏ được phân chia giai cấp mộtcách tận gốc thì phải xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vì đây là cănnguyên dẫn đến sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong các nền sản xuất xãhội
- Khẳng định tính khoa học trong định nghĩa giai cấp của Lênin đó là quan điểm đúngđắn xem xét những vấn đề chính trị, giai cấp trên cơ sở kinh tế đây là quan điểm duy vậtlịch sử
- Cho ta cơ sở khoa học để khẳng định vai trò vị trí của giai cấp công nhân trong cơ cấugiai cấp xã hội của xã hội ta hiện nay Cũng như đẩy mạnh vai trò của giai cấp công nhântrong quá trình đổi mới
- Quán triệt tính đúng đắn của Đảng trong việc đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũgiai cấp ngang tầm với những biến đổi trên lĩnh vực kinh tế là hoàn toàn đúng đắn
- Vạch ra con đường đúng đắn cho các Đảng Cách mạng trong thời đại ngày nay đi tớixây dựng một xã hội không có sự áp bức, bóc lột và bất công đó là Chủ nghĩa cộng sản Cơ
sở để bác bỏ quan điểm sai lầm, phản động về vấn đề giai cấp
6.2.2 Kết cấu xã hội - giai cấp trong xã hội
Trong xã hội có giai cấp, mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kết cấu giai cấp nhấtđịnh Cơ sở kinh tế của kết cấu giai cấp là tổng thể các kiểu phương thức sản xuất cùng tồntại trong hình thái kinh tế xã hội đương thời Xét đến cùng, bản chất và tương quan của cácgiai cấp trong một kết cấu giai cấp bị quy định bởi bản chất và tương quan của các phươngthức sản xuất đương thời
Kết cấu giai cấp: là tổng thể các giai cấp và mối quan hệ giữa các giai cấp tồn tại trongmột hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Trong xã hội có giai cấp, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kết cấu giai cấp nhấtđịnh Khi hình thái kinh tế - xã hội này thay thế hình thái kinh tế - xã hội khác, kết cấu giaicấp cũng thay đổi
- Yếu tố quyết định kết cấu xã hội - giai cấp là cơ sở hạ tầng: Vì cơ sở hạ tầng là tổnghợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhấtđịnh Kết cấu cơ sở hạ tầng của một xã hội nhất định có quan hệ sản xuất đặc trưng thống trị,quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất mầm mống Mỗi một quan hệ sản xuất có một giaicấp làm đại diện cho nó
- Mỗi chế độ kinh tế - xã hội thường có một hệ thống giai cấp bao gồm:
+ Các giai cấp cơ bản gắn liền với kiểu phương thức sản xuất thống trị Sự đối kháng
và đấu tranh giữa các giai cấp đối kháng này phản ánh mâu thuẫn cơ bản của phương thứcsản xuất sinh ra chúng, cũng như quy định một cách khách quan mâu thuẫn cơ bản của chế
độ xã hội Tương ứng với các kiểu phương thức sản xuất bóc lột từng thống trị trong lịch sử
là các cặp giai cấp cơ bản như chủ nô - nô lệ, phong kiến - nông nô, tư sản - vô sản
+ Các giai cấp không cơ bản là những giai cấp gắn với phương thức sản xuất tàn dư
hoặc mầm mống trong xã hội Giai cấp không cơ bản có thể phân hoá theo 2 hướng hoặcthống trị hoặc bị thống trị
Trang 24Ví dụ: Nô lệ và chủ nô còn lại trong thời kỳ đầu của xã hội phong kiến, vô sản và tư sảnvừa mới ra đời trong thời kỳ đó
+ Trong xã hội có giai cấp, ngoài những giai cấp cơ bản và không cơ bản còn có các tầnglớp và các nhóm xã hội nhất định Mặc dù, các tầng lớp, nhóm XH không có địa vị kinh tếđộc lập, song nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển của XH nói chung và tùy thuộc vàođiều kiện lịch sử cụ thể mà nó có thể phục vụ cho giai cấp này hoặc giai cấp khác Các tầnglớp XH này luôn bị phân hóa dưới tác động của sự vận động nền SX vật chất XH
Ví dụ: Bình dân trong xã hội nô lệ, tiểu tư sản trong xã hội tư bản…
Trong xã hội có giai cấp, còn có tầng lớp trí thức làm việc và sống chủ yếu bằng laođộng trí óc Trí thức tồn tại và gắn liền với lợi ích nhiều giai cấp từ thống trị đến bị trị Đạitrí thức thường gắn liền với giai cấp thống trị đương thời; đa phần còn lại thường gắn liềnvới lợi ích của quảng đại quần chúng lao động Vai trò của trí thức tăng lên không ngừngcùng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật - đặc biệt là trước bối cảnh cách mạng khoahọc - công nghệ và kinh tế tri thức ngày nay Song từ đó đi tới quan niệm về cái gọi là “giaicấp trí thức”, hơn nữa về “quyền thống trị xã hội của giai cấp trí thức”, là hoàn toàn sai lầm
- Kết cấu giai cấp thường xuyên có sự vận động, biến đổi không ngừng Sự vận độngbiến đổi đó diễn ra không chỉ khi xã hội có sự chuyển biến các phương thức sản xuất, mà cảtrong quá trình phát triển của mỗi phương thức sản xuất
Cùng với sự phát triển của sản xuất, mỗi giai cấp trong một kết cấu giai cấp - xã hội cũng
có biến đổi nhất định Nhưng sự biến đổi ấy dẫn đến sự thay đổi địa vị của các giai cấp đótrong hệ thống sản xuất xã hội
Nguyên nhân của sự vận động, biến đổi đó là do sự vận động phát triển của kinh tế, cơcấu kinh tế -> sự vận động biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp
*Ý nghĩa
- Phân tích kết cấu giai cấp và sự biến đổi của nó giúp ta hiểu địa vị, vai trò và thái độchính trị của mỗi giai cấp đối với mỗi cuộc vận động lịch sử, đặc biệt là trong cuộc đấu tranhcủa thời đại ngày nay
- Là cơ sở để nghiên cứu kết cấu giai cấp ở nước ta trong thời kỳ quá độ hiện nay còn tồntại nhiều thành phần kinh tế
Nước ta thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu phản ánh kết cấu xã hội giai cấp phức tạp của thời kỳ quá độ
-6.3 ĐẤU TRANH GIAI CẤP TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới, mở đầu bằng cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, là thời đạiđấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội gắn liềnvới cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những tiền đề, điều kiện kỹ thuậtngày càng đầy đủ cho việc đi lên chủ nghĩa xã hội
a Tính tất yếu của đấu tranh giai cấp trongthời đại ngày nay
* Những nguyên nhân phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn tồn tại
- Nguyên nhân phân chia giai cấp vẫn còn tồn tại là do chế độ tư hữu về TLSX vẫn còn tồntại Chế độ tư hữu là cơ sở cho sự phân hóa XH thành các giai cấp có lợi ích đối kháng nhau
- Trong xã hội có giai cấp đối kháng, quan hệ giữa các giai cấp là quan hệ bóc lột và bịbóc lột, thống trị và bị trị, không thể có sự bình đẳng về địa vị và quyền lợi
Chẳng hạn: trong xã hội Chiếm hữu nô lệ là chủ nô và nô lệ, trong xã hội Phong kiến làđịa chủ quý tộc phong kiến và nông dân, đặc biệt là trong xã hội Tư bản là tư sản và vô sản.Đây là 1 mâu thuẫn mà chỉ có thông qua đấu tranh giai cấp mới giải quyết được
Trang 25* Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay không hề mất đi mà chúng chỉ biểu hiện dưới những hình thái mới mà thôi
-
Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản: Là mâu thuẫn cơ bản lớn nhất
của thời đại ngày nay Thực chất là mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa do giai cấp vôsản và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo với chế độ tư bản chủ nghĩa do giaicấp tư sản và chính đảng của nó thống trị Mâu thuẫn này còn biểu hiện trên lĩnh vực tưtưởng là mâu thuẫn giữa 2 hệ tư tưởng đối địch - hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản
- Trong xã hội tư bản hiện nay, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã phát triển có tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội là mâu
thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động
- Mâu thuẫn giữa các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau ngày càng gay gắt Thực chất là mâu thuẫn giữa những tập đoàn tư bản độc quyền đang tìm cách thu lợi
nhuận nhiều hơn
- Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển ngày càng gay gắt, biểu hiện: Sự phân cực giàu - nghèo ngày càng mở rộng Sự bóc lột về kinh tế, áp
đặt, xâm lăng về văn hóa của các nước phát triển với các nước đang phát triển…
- Mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc với các dân tộc trên thế giới Đây là mâu thuẫn
giữa 1 bên là các thế lực đế quốc phản động tìm cách thống trị, nô dịch các dân tộc với 1bên là các quốc gia dân tộc đang tìm mọi cách để bảo vệ chủ quyền về kinh tế, chính trị, tưtưởng, văn hóa
- Ngoài ra, còn có những mâu thuẫn khác liên quan đến vận mệnh của nền văn minh
nhân loại, được biểu hiện thông qua những vấn đề toàn cầu của thời đại Những vấn đề này
gắn bó chặt chẽ với mâu thuẫn giai cấp trong thời đại ngày nay
Như vậy: Đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay vẫn là tất yếu; diễn ra gay go, phứctạp hơn với trước đây, hình thức biểu hiện và sắc thái khác với trước đây
b Đặc điểm của đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay
*Điều kiện mới
Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền được diễn
ra trong điều kiện mới với những thuận lợi rất cơ bản, song cũng có không ít khó khăn tháchthức đặt ra
- Thuận lợi
+ Giai cấp vô sản từ địa vị giai cấp bị thống trị, bị bóc lột, trở thành giai cấp nắm chínhquyền cách mạng, lãnh đạo xã hội; là giai cấp tiến bộ cách mạng, có kinh nghiệm trong đấutranh cách mạng; có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng
+ Cơ cấu và địa vị các giai cấp có sự biến đổi căn bản, tạo ra so sánh lực lượng có lợi chogiai cấp vô sản trong tập hợp lực lượng đấu tranh với nòng cốt là liên minh công - nông - Trí.+ Giai cấp tư sản và các lực lượng phản cách mạng ngày càng bị thu hẹp, chỉ chiếm số
ít và khó có khả năng tập hợp lực lượng, lôi kéo các lực lượng chống lại cách mạng
+ Sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước
Trang 26+ Trình độ dân trí và đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn.
+ Biến động cơ cấu xã hội - giai cấp có nhiều điểm phức tạp (do kinh tế)
Vì vậy, tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ này là hết sức gay go, quyếtliệt và phức tạp
*Nội dung mới
Khác với cuộc đấu tranh giai cấp trước khi giành được chính quyền (đó là lật đổ chínhquyền của giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp vô sản), cuộc đấu tranh giai cấpcủa giai cấp vô sản trong thời đại ngày nay có nội dung mới
- Mục tiêu của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay là xóa bỏ chủ nghĩa tưbản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tưtưởng, văn hóa… Về thực chất, đây là cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường xãhội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
- Để thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh đó, giai cấp vô sản phải thực hiện đồng thời 2nhiệm vụ chiến lược: Bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng đã giành được.Cải tạo xã hội
cũ, xây dựng thành công xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Hai nhiệm vụ trên có mối quan biện chứng với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của giaicấp vô sản Nhiệm vụ thứ nhất là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được, nó tạo môitrường chính trị - xã hội ổn định để thực hiện nhiệm vụ thứ hai Nhiệm vụ thứ 2 là nhiệm vụtrung tâm tạo cơ sở để thực hiện nhiệm vụ 1, có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mớitạo sức mạnh hiện thực để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng Đây cũng là nhiệm vụkhó khăn, lâu dài, phức tạp trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trong thời đạingày nay
*Hình thức mới
- Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp vô sản phải sử dụng nhiều hình thức phong phú,linh hoạt như: vừa hợp tác vừa đấu tranh, có đổ máu và không có đổ máu; bằng bạo lực vàhòa bình; bằng quân sự và kinh tế; bằng giáo dục và hành chính Sử dụng hình thức nào,điều đó do tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước, mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể quyđịnh
- Tất cả các hình thức đó suy cho cùng đều nằm trong 3 hình thức đấu tranh cơ bản: đấutranh kinh tế, đấu tranh chính trị và đấu tranh tư tưởng
+ Đấu tranh kinh tế: là hình thức đấu tranh nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế và nâng caođời sống vật chất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, hạn chế sự bóc lột của giaicấp tư sản Đó là cuộc đấu tranh dưới những hình thức đòi tăng lương, giảm giờ làm, cảithiện điều kiện làm việc, cải thiện môi trường sống của người lao động…
+ Đấu tranh chính trị: là hình thức cơ bản nhất, cao nhất của đấu tranh giai cấp của giaicấp công nhân và nhân dân lao động Mục tiêu của nó là đánh đổ ách thống trị của giai cấp
tư sản, trước hết là sự thống trị về chính trị; thiết lập chính quyền của giai cấp công nhân vànhân dân lao động; cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới - xã hội XHCN + Đấu tranh tư tưởng: là cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng vô sản với hệ tư tưởng tư sản,
là xác lập vai trò thống trị của hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng nền văn hóa xãhội chủ nghĩa
- Do trình độ phát triển không đồng đều giữa các quốc gia, dân tộc nên các hình thứcđấu tranh hết sức phong phú, đa dạng
+ Trong các nước tư bản phát triển: cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và quầnchúng nhân dân lao động được thể hiện ở các hình thức cơ bản như đấu tranh nhằm hạn chế
sự bóc lột của giai cấp tư sản; Đảm bảo việc làm; đấu tranh phản đối chiến tranh xâm lược;đấu tranh đòi cải thiện quyền dân chủ…
Trang 27+ Trong các nước thuộc địa và phụ thuộc: đấu tranh giai cấp có các hình thức như đấutranh chống đói nghèo, bệnh tật; xây dựng lý luận cách mạng, giác ngộ quần chúng nhândân; đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội…
+ Với các nước xã hội chủ nghĩa: do đã giành được chính quyền về tay giai cấp côngnhân và nhân dân lao động, nên cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước này thực chất là cuộcđấu tranh ai thắng ai giữa 1 bên là những nhân tố xã hội chủ nghĩa đang trong quá trình hìnhthành, phát triển với 1 bên là các thế lực cản độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Hiện nay,
nó là cuộc đấu tranh nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc cải cách,đổi mới xã hội
*Vai trò của đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay
Theo Mác: “đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp”.Trong thời đại ngày nay, đấu tranh giai cấp vẫn là quy luật tất yếu và có vai trò quan trọng:
- Nói tới đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay là nói đến đấu tranh giai cấp của giaicấp vô sản và giai cấp tư sản, nó phản ảnh thực chất cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa chủnghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội; đây là cuộc đấu tranh mà nội dung của nó mang tính chấtcách mạng, triệt để và sâu sắc nhất; vì thế tính chất của nó rất gay go, quyết liệt, phức tạp vàlâu dài, đặc biệt trong điều kiện so sánh lực lượng hiện nay; Tuy nhiên xu hướng tiến lêncủa chủ nghĩa xã hội vẫn là tất yếu
- Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại giai cấp tư sản vàcác thế lực phản động trên thế giới sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản, đưa loàingười tiến lên chủ nghĩa xã hội
- Đấu tranh của giai cấp vô sản trên thế giới hiện nay gắn bó với cuộc đấu tranh vì độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; trong đó đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vẫn làđộng lực trực tiếp và quan trọng nhất của sự phát triển xã hội trong xã hội có giai cấp
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Là cơ sở lý luận, phương pháp luận, để mỗi người chúng ta đứng vững trên lập trườnggiai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay; ủng hộ các phong trào đấu tranh
vì hoà bình độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trên thế giới
- Là cơ sở lý luận để đấu tranh phê phán các quan điểm sai lầm phản động, xuyên tạcchủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp
Một số học giả tư sản phủ nhận hoàn học thuyết đấu tranh giai cấp Họ cho rằng Mác đãquá nhấn mạnh đến sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Theo họ, giai cấpkhông phải là hiện tượng phổ biến, quy luật đấu tranh giai cấp không phải là quy luật chungcủa mọi xã hội Do vậy, không thể áp dụng cho xã hội tư bản được
Một số khác tuy có thừa nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, có đấu tranh giai cấpnhưng họ phủ nhận vai trò tích cực của đấu tranh giai cấp hoặc tuyệt đối hóa vai trò của đấutranh giai cấp Họ cho rằng đấu tranh giai cấp làm chậm bước tiến của xã hội, hay dẫn đến
sự phá hoại, tàn sát con người Hoặc đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay là không cầnthiết, vì giai cấp tư sản đã tỏ ra biết điều, đã thay đổi bản chất
- Ở nước ta hiện nay cũng có hai khuynh hướng cần phê phán; đề cao đấu tranh giai cấpdẫn đến không dám quan hệ, hợp tác với các nước tư bản chủ nghĩa; hạ thấp hoặc nhận thức
mơ hồ về vai trò đấu tranh giai cấp dẫn đến chỉ chú trọng hợp tác làm ăn kinh tế, bằng mọigiá để làm giàu, không tính đến quốc phòng - an ninh, văn hoá truyền thống, đạo đức củadân tộc, không bảo vệ chế độ, định hướng xã hội chủ nghĩa… hai khuynh hướng trên đềukhông hiểu đúng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời con đường phát triển đúng đắn màĐảng, nhân dân ta, dân tộc ta đã chọn
Trang 286.4 ĐẤU TRANH GIAI CẤP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp là những vấn đề cơ bản trong đời sống xã hội.Việc nhận thức đúng đắn vấn đề này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Triết học Mác -Lênin khẳng định: trong xã hội có phân chia giai cấp thì đấu tranh giai cấp là một tất yếukhách quan Nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn đấutranh giai cấp, thực chất của đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay là đấu tranh giữa hai conđường đi lên chủ nghĩa xã hội hay con đường tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh đó diễn ratrong điều kiện mới, nội dung mới và hình thức mới
a Tính tất yếu
- Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra: trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản chủ nghĩalên chủ nghĩa xã hội đó là thời kỳ tiếp tục đấu tranh giai cấp để đi đến một xã hội không còngiai cấp
Do cơ sở kinh tế để nảy sinh giai cấp bóc lột và sự phân chia giai cấp trong thời kỳ quá
độ vẫn còn tồn tại (chế độ tư hữu chưa mất hoàn toàn) Giai cấp bóc lột đã bị đánh bạinhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn Sự tồn tại phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần là
cơ sở để giai cấp tồn tại và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra
- Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay đấu tranh giai cấp vẫn
là tất yếu Tính tất yếu của nó do các đặc điểm kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ quy định.+ Từ sau năm 1975, đất nước thống nhất, có chính quyền vô sản nhưng mục tiêu cuốicùng là xóa bỏ áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội, xây dựng thành công xã hội xãhội chủ nghĩa vẫn chưa đạt được Bởi vì, đó là cuộc cải biến cách mạng toàn diện và sâu sắctrên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa Cuộc đấu tranh này đòi hỏi phảitrải qua 1 quá trình lâu dài và gian khổ mới giành được thắng lợi cuối cùng
+ Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tại nhiều hìnhthức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, nhiều giai tầng xã hội khác nhauvới nhiều lợi ích khác nhau Đây là cơ sở kinh tế tồn tại các giai cấp và mâu thuẫn giai cấp
Do vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay đấu tranh giai cấp làtất yếu, nó đang diễn ra gay go, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước có nền sản xuất nhỏ nông nghiệp lạchậu, trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ thực dân, phong kiến, bị tàn phá bởi 2 cuộc chiếntranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc; tâm lý, tư tưởng, tập quán của các giai cấp bóc lột vàcủa xã hội cũ chưa bị quét sạch, vẫn còn tồn tại dai dẳng trong đời sống tinh thần của quầnchúng Đó là tàn dư tư tưởng, tâm lý phong kiến, tư sản, tiểu tư sản, thực dân cũ, thực dânmới, sản xuất nhỏ; những tư tưởng nảy sinh do mặt trái của cơ chế thị trường
+ Đất nước hòa bình song các thế lực trong và ngoài nước vẫn điên cuồng chống phácách mạng, chống phá những thành tựu mà Đảng, nhân dân ta đã giành được mà biểu hiện
rõ nhất hiện nay là chiến lược “Diễn biến hòa bình” kết hợp với “Bạo loạn lật đổ” nhằm làmcho chúng ta chệch khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.+ Trong quá trình tham gia vào các quan hệ quốc tế và mở rộng quan hệ quốc tế theohướng đa phương hóa, đa dạng hóa bên cạnh những thời cơ, thuận lợi; thì không ít nhữngtiêu cực từ bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước Vì vậy bên cạnh sự hợp tác phảiđấu tranh ngăn chặn, loại trừ những tiêu cực từ bên ngoài xâm nhập
b Đặc điểm về điều kiện mới
Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay được diễn ra trong điều kiện mới với nhữngthuận lợi rất cơ bản, song cũng có không ít các khó khăn
Trang 29*Thuận lợi
- Giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã có chính quyền, có Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam có trí tuệ và có nhiều kinh nghiệmtrong lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn được giữ vững và tăng cường Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục được củng cố, hoàn thiện và trở thànhcông cụ chính trị mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và nhân dân laođộng
- Cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp, địa vị củacác giai cấp trong xã hội ta có biến đổi căn bản, tạo ra so sánh lực lượng có lợi cho sựnghiệp cách mạng:
+ Giai cấp công nhân từ chỗ là giai cấp bị thống trị và bóc lột, nay đã trở thành giai cấplãnh đạo chính quyền nhà nước và lãnh đạo xã hội giai cấp công nhân có sự phát triểnmạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Bộ phận công nhân có trình độ chuyên môn caongày càng nhiều
+ Giai cấp nông dân đã và đang có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Đội ngũ trí thức cũng có sự phát triển nhanh chóng, có nhiềuđóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
+ Khối liên minh giữa giai cấp công nhân - nông dân - Trí thức dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam được củng cố vững chắc và trở thành nền tảng của chế độ xã hộimới ở nước ta
- Công cuộc đổi mới thu được nhiều thắng lợi, chúng ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, tình hình chính trị luôn ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường; hệ thốngchính trị xã hội được củng cố, địa vị của giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thứcđược nâng cao…
- Thời cơ thuận lợi của quốc tế và khu vực, nhất là xu thế hòa bình hợp tác, sự phát triểncủa khoa học công nghệ, quan hệ giao lưu hợp tác quốc tế được mở rộng, tạo ra nhiều cơhội và cả thách thức trên con đường phát triển
*Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội cách mạng Việt Nam gặp không ít khó khăn, thách thức, đó là:
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về nhiều mặt, nhất là về kinh tế.Hậu quả của chiến tranh nặng nề về nhiều mặt
- Kinh tế có phát triển nhưng chưa vững chắc, lạm phát cao…
- Kinh nghiệm tổ chức, xây dựng và quản lý xã hội mới của chúng ta chưa nhiều, nănglực lãnh đạo và quản lý của nhà nước vẫn còn những hạn chế nhất định
- Những nguy cơ vẫn còn tồn tại: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; tình trạng suy thoái
về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của 1 bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với
tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng; Xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa; các thếlực thù địch âm mưu “Diễn biến hòa bình” gây “Bạo loạn lật đổ” trong đó coi Việt Nam là 1trọng điểm…
- Các thế lực thù địch thực hiện âm mưu Diễn biến hòa bình, sử dụng chiêu bài: dânchủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng
- Niềm tin của một bộ phận nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa suy giảm, đời sốngcủa một bộ phân nhân dân còn khó khăn
Tóm lại, những điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trên nói lên cuộc đấu tranh giaicấp ở nước ta hiện nay là quá trình vừa tận dụng những yếu tố tiến bộ, vừa loại bỏ những
Trang 30c Nội dung mới
- Giải quyết vấn đề ai thắng ai giữa hai con đường, hai định hướng phát triển
Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay trước hết là cuộc đấu tranhdưới nhiều hình thức giữa một bên là quần chúng nhân dân lao động, các lực lượng xã hội đitheo con đường dẫn đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ vănminh, đoàn kết trong mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng lãnh đạo với một bên là các thếlực, các tổ chức, các phần tử chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống Đảng, Nhànước và pháp luật, phá hoại trật tự xã hội và an ninh quốc gia
Cuộc “đấu tranh giữa 2 con đường”, con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bảnchủ nghĩa cũng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nước ta Đây làcuộc đấu tranh giữa các nhân tố thúc đẩy đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa với các nhân tố thúc đẩy đất nước dịch chuyển theo định hướng tư bản chủ nghĩa Cácnhân tố tự phát tư bản chủ nghĩa này được những thế lực chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội lợi dụng phục vụ mục tiêu của chúng Cuộc đấu tranh giữa 2 khuynh hướng phát triểntrên đây diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên tất cả các lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực kinh tế, lĩnhvực tư tưởng, và lĩnh vực trật tự xã hội
- Mục tiêu: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Cuộc đấu tranh này diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng
nó hiện diện 1 cách khách quan trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của mỗi conngười, mỗi giai cấp
- Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa 2 nhiệm vụ này có quan hệ biện chứng với nhau, không thể tuyệt đối hóa hoặcxem nhẹ nhiệm vụ nào
Trong 2 nhiệm vụ đó, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên không thểthiếu được, nhiệm vụ xây dựng là nhiệm vụ trung tâm luôn được Đảng ta đặt lên hàng đầunhằm phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống cho nhân dân, tạo cơ sở vật chất cho sự cải tạotoàn bộ xã hội và bảo vệ Tổ quốc Đây là nhiệm vụ khó khăn phức tạp và có ý nghĩa quyếtđịnh đến thắng lợi hoàn toàn của đấu tranh giai cấp -> đây cũng là nội dung cơ bản xuyênsuốt cuộc đấu tranh gc của nước ta
- Đại hội IX của Đảng xác định nội dung cụ thể gồm 5 vấn đề:
+ Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát triển
+ Thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức bất công
+ Đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái.+ Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch + Bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồnvinh, nhân dân hạnh phúc
- Đại hội XI tiếp tục cụ thể hoá mục tiêu đấu tranh giai cấp là: độc lập dân tộc gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
- Nhiệm vụ cơ bản: bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành chủ nghĩa công xã hội
Trang 31d Hình thức đấu tranh giai cấp
Diễn ra với nhiều hình thức đa dạng, phong phúvà đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp và kếthợp các hình thức, biện pháp linh hoạt tùy điều kiện hoàn cảnh cụ thể: bằng hành chính vàgiáo dục; giữa cải tạo và xây dựng; sử dụng các hình thức kinh tế trung gian, quá độ; pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở cửa và hội nhập để tranh thủ cácvận hội, thời cơ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; kết hợp giữa phát triển kinh tế - xãhội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh… Trong đó đưa sản xuất nhỏ lên sảnxuất lớn xã hội chủ nghĩa là vấn đề có ý nghĩa quyết định
e Ý nghĩa phương pháp luận
- Nhận thức rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp Cần nắm vữngquan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Nhận thức rõ sự hiện diện giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là 1 thực
tế khách quan Từ đó xác định trách nhiệm chính trị trong cuộc đấu tranh giai cấp ở nước tanhằm đưa cuộc đấu tranh giai cấp đi đến thắng lợi
- Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng chống đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập,
chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
- Tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng thành công CNXH và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN; nâng cao nâng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng
- Để góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh đó, quân đội ta một mặt phải hoàn thành tốtchức năng của mình là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc thànhquả của cách mạng, mặt khác, phải tích cực tham gia vào sự nghiệp đấu tranh chung trên tất
cả các lĩnh vực vì thắng lợi của trật tự xã hội - xã hội chủ nghĩa
+ Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ thấy rõ thực chất, vai trò đấu tranh giai cấp
+ Đề cao cảnh giác, tinh thần cách mạng
+ Kiên quyết loại bỏ cái xấu, cái thấp hèn
+ Phê phán quan điểm sai lầm, mơ hồ, nhận thức phiến diện (đòi xóa bỏ sự lãnh đạocủa Đảng, phi chính trị hóa quân đội)
6.5 MỐI QUAN HỆ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC, NHÂN LOẠI
6.5.1 Quan điểm mácxít về mối quan hệ giai cấp và dân tộc
a Định nghĩa giai cấp, dân tộc
- Định nghĩa giai cấp của Lênin
- Định nghĩa Dân tộc (Xta-lin): Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, được
thành lập trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt, kinh tế vàtâm lý, biểu hiện trong cộng đồng văn hoá
b Đặc điểm của quan hệ giai cấp và dân tộc
- Khi dân tộc ra đời, sự quan tâm hàng đầu của các học thuyết chính trị không chỉ là vấn
đề giai cấp, mà còn vấn đề quan hệ giữa giai cấp và dân tộc Đó là việc nhận thức, giải thíchvấn đề giai cấp không tách rời vấn đề dân tộc và ngược lại
- Giai cấp và dân tộc sinh ra và mất đi không đồng thời Giai cấp có trước dân tộc hàngnghìn năm Giai cấp mất đi dân tộc vẫn tồn tại lâu dài Khi nhân loại tiến tới chủ nghĩaCộng sản không còn giai cấp nhưng dân tộc vẫn tồn tại
- Dân tộc và giai cấp là hai lĩnh vực khác nhau, không đồng nhất với nhau nhưng cóquan hệ chặt chẽ với nhau Khi xuất hiện giai cấp, quan hệ giai cấp, thì đấu tranh giai cấpkhông ở đâu khác ngoài mỗi dân tộc Đồng thời sự tồn tại dân tộc, quan hệ và đấu tranh dântộc bao giờ cũng gắn với một giai cấp nhất định nhân danh, đại diện cho dân tộc
Trang 32c Quan hệ biện chứng giai cấp và dân tộc
*Giai cấp quyết định dân tộc
- Giai cấp có trước dân tộc Giai cấp có từ cổ đại, dân tộc sau này mới có (Dân tộc của
xã hội phong kiến ở Phương Đông và dân tộc tư sản từ thế kỷ 15, 16, 17, 18… trở lại đây)
- Xã hội có giai cấp phát triển đến trình độ nhất định thì quyết định sự ra đời dân tộc
- Biểu hiện:
+
Giai cấp quyết định việc hình thành dân tộc:Sự phát triển của phương thức sản xuất
xã hội là nguyên nhân xét đến cùng quyết định sự hình thành, phát triển của các hình thứccộng đồng người trong lịch sử Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là động lực mạnh mẽnhất của quá trình thay thế hình thức cộng đồng bộ tộc bằng hình thức cộng đồng dân tộc.Trong quá trình đó, giai cấp tư sản đã đóng vai trò chính của việc thúc đẩy sự hình thành dântộc tư sản
+ Giai cấp quyết định tính chất, khuynh hướng phát triển của dân tộc:Vì trong một dân
tộc tồn tại rất nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng trong đó bao giờ cũng cómột giai cấp trung tâm, đại biểu cho của phương thức sản xuất đang lên và giai cấp đó trởthành giai cấp thống trị của dân tộc Thông qua bộ máy quyền lực của mình giai cấp đó tổchức điều hành, quản lý xã hội trước hết nhằm đáp ứng và bảo vệ lợi ích của giai cấp mình,đòi hỏi lợi ích của cộng đồng dân tộc phải tuân theo lợi ích của giai cấp thống trị và do đó màkhuynh hướng phát triển của dân tộc theo hướng nào hoàn toàn do giai cấp thống trị quyếtđịnh
Giai cấp quy định tính chất quan hệ giữa các dân tộc: các dân tộc tồn tại với nhau baogiờ cũng có những mối quan hệ đó là tất yếu, tính chất của những mối quan hệ đó như thếnào tuỳ thuộc vào giai cấp thống trị dân tộc đó Các dân tộc quan hệ với nhau trên cơ sở tôntrọng bình đẳng hay thống trị, thù oán, sô vanh đều do gc thống trị dân tộc đó quyết định
+ Áp bức giai cấp là nguyên nhân cơ bản, sâu xa của áp bức dân tộc: Trong thực tế
thường là dân tộc này đi nô dịch áp bức dân tộc khác, nhưng về thực chất bản chất của nóbao giờ cũng do các giai cấp ở đó quyết định Do đó, muốn xoá bỏ sự áp bức của dân tộc nàyđối với dân tộc khác thì phải xoá bỏ sự áp bức giai cấp, xoá bỏ chế độ tư hữu nguồn gốc dẫnđến sự phân chia giai cấp
Ví dụ: Pháp xâm lược Việt Nam thực chất không phải là dân tộc Pháp nô dịch dân tộcViệt Nam mà là do bộ máy thống trị, giai cấp tư sản Pháp tiến hành áp bức nô dịch
+ Nhân tố giai cấp là nhân tố cơ bản trong phong trào giải phóng dân tộc: Chủ nghĩa
Mác - Lênin nhấn mạnh nhân tố giai cấp, chỉ ra vai trò quyết định của nó đối với nhân tố dântộc nhưng điều đó không có nghĩa là chủ nghĩa Mác coi nhẹ vấn đề dân tộc, trái lại chủ nghĩaMác rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao vai trò nhân tố dân tộc Luôn luôn giải quyết mốiquan hệ giữa vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp với vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc
*Dân tộc tác động trở lại giai cấp
- Dân tộc là địa bàn trực tiếp cho đấu tranh giai cấp Đấu tranh dân tộc thúc đẩy sự pháttriển của đấu tranh giai cấp
- Biểu hiện:
+ Dân tộc có tác động thường xuyên, to lớn đến giai cấp và đấu tranh giai cấp, là cơ
sở nền tảng, sức mạnh cho đấu tranh giai cấp.Sức mạnh giai cấp chính là sức mạnh dân
tộc
Dân tộc là cơ sở, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh gc, sức mạnh gc phụ thuộc vào sứcmạnh dân tộc Cuộc đấu tranh gc lấy sức mạnh, lấy lực lượng bao giờ cũng từ dân tộc (dântộc có đặc trưng cơ bản là có lãnh thổ ổn định) nếu lợi ích gc thống nhất với lợi ích dân tộc,thực sự trở thành dân tộc thì sức mạnh dân tộc được phát huy tối đa
Trang 33+
Đấu tranh giải phóng dân tộc là điều kiện, tiền đề cho đấu tranh giai cấp
Áp bức dân tộc nuôi dưỡng và làm sâu sắc hơn áp bức giai cấp, có nghĩa rằng khôngphải dân tộc này đi nô dịch, áp bức dân tộc khác làm giảm đi áp bức giai cấp ở dân tộc đó màtrái lại nó càng làm cho áp bức gc ở dân tộc đó sâu sắc thêm
Ví dụ: Pháp đi nô dịch Việt Nam không làm giảm đi mà còn làm sâu sắc hơn áp bức giaicấp ngay trong chính bản thân nước Pháp Vì khi sang xâm lược Việt Nam thì giai cấp tư sảnPháp phải đầu tư tiền của -> tiền của đó lấy từ chính việc áp bức, bóc lột các giai cấp, tầnglớp ở nước Pháp, vì vậy mà nó làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giai cấp trong chính nước Pháp.Đấu tranh dân tộc vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của đấu tranh giai cấp, thông quađấu tranh dân tộc để thực hiện đấu tranh giai cấp Điều này thể hiện mối quan hệ đấu tranhdan tộc với đấu tranh giai cấp Không bao giờ có đấu tranh giai cấp thuần tuý chỉ là giữa 2giai cấp đối kháng mà nó phải mang tính dân tộc, giai cấp tiến bộ cách mạng bao giờ cũngtập hợp quanh nó các lực lượng quần chúng để chống lại giai cấp thống trị
Cuộc đấu tranh giai cấp chỉ có thể phát triển trên cơ sở đấu tranh dân tộc, thông qua đấutranh dân tộc Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản chỉ có thể hoàn thành khi giai cấp vô sản
ở tất cả các dân tộc hoàn thành cách mạng vô sản của mình
*Ý nghĩa, phương pháp luận
- Giải quyết vấn đề giai cấp, dân tộc phải có quan điểm toàn diện, nhưng phải bắt đầu vàchủ yếu từ giai cấp
- Chỉ có giai cấp vô sản mới có cơ sở và khả năng giải quyết mối quan hệ dân tộc, giaicấp một cách khoa học
- Đây là cơ sở để phê phán những quan điểm sai lầm, phản động, tuyệt đối hoá vấn đềgiai cấp hoặc dân tộc, cho rằng quần chúng lao động thuộc về dân tộc chung chung hoặcchia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta
- Thực tế cho thấy Đảng, Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo, không dập khuôn máy móc mốiquan hệ dân tộc giai cấp trong cách mạng Việt Nam Đó là giải phóng dân tộc trước khi giảiphóng giai cấp; thành lập mặt trận dân tộc thống nhất từ năm 1941 để tập hợp lực lượng tạo
ra sức mạnh tổng hợp
6.5.2 Quan hệ giai cấp - dân tộc và nhân loại
*Khái niệm nhân loại:Nhân loại là một phạm trù chỉ toàn thể các cộng đồng người
sống trên trái đất
Giai cấp, dân tộc và nhân loại có sự thống nhất biện chứng với nhau Sự tồn tại, pháttriển của các dân tộc, các giai cấp không tách rời sự tồn tại của cả cộng đồng nhân loại.Trong xã hội có giai cấp, giai cấp quyết định vấn đề dân tộc, nhân loại ngược lại dân tộc vànhân loại có tác động to lớn đến vấn đề giai cấp
- Quy luật tồn tại, phát triển của nhân loại đòi hỏi con người phải không ngừng đấutranh để cải tạo tự nhiên, xã hội bằng lao động sáng tạo Đi đầu trong cuộc đấu tranh ấy làgiai cấp cách mạng để xoá bỏ những quan hệ xã hội lỗi thời vì lợi ích chung, căn bản và lâudài của toàn bộ nhân loại
- Trong xã hội có giai cấp vấn đề giai cấp không chỉ là vấn đề riêng của giai cấp nào mà
là của toàn nhân loại Trong đó đấu tranh giải phóng các giai cấp, các dân tộc là nội dung cơbản của quá trình đấu tranh giải phóng con người
- Thời đại ngày nay, việc giải quyết lợi ích giai cấp, không tách rời việc giải quyết lợiích các dân tộc và nhân loại
- Thực tiễn chứng minh:
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, cộng đồng nhân loại chưa hình thành rõ nét và vấn
Trang 34mới tách khỏi giới động vật, trình độ phát triển về mọi mặt, đặc biệt là trình độ của sản xuấtvật chất còn rất lạc hậu nên các cộng đồng người nguyên thuỷ sống có tính cách biệt lập vàkhông tạo lập được các mối liên hệ rộng rãi.
Ví dụ: Thời kỳ Cổ đại, một số nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô đã coi giai cấp nô lệ chỉ
là “công cụ biết nói” Vì những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp mình họ không muốn thừanhận sự thống nhất trên cơ sở bản chất người của một bộ phận cộng đồng nhân loại
Khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra bản chất xã hội của conngười và loài người, coi đó là tiêu chí cơ bản để phân biệt loài người với loài vật và bản chất
ấy là cơ sở của sự thống nhất cộng đồng nhân loại Con người là sinh vật có bản chất xã hội,
do đó nhân loại là cộng đồng của những thực thể có bản chất xã hội Cộng đồng đó khôngngừng vận động, phát triển theo trình độ phát triển của những năng lực bản chất người
Hiện nay, sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các dân tộc để giải quyết những vấn đềchung của quốc tế là hết sức khách quan
Biểu hiện:
*Vai trò của giai cấp đối với vấn đề dân tộc và nhân loại
- Giai cấp quyết định sự hình thành xu hướng phát triển, bản chất xã hội của dân tộc và nhân loại Khi giai cấp thống trị là giai cấp tiến bộ đại biểu cho lợi ích chân chính của dân
tộc nó sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của văn minh nhân loại Ngược lại khi giai cấp thống trị dân tộctrở nên lỗi thời, phản động, thì lợi ích của nó về căn bản mâu thuẫn với lợi ích chung của dântộc và lợi ích toàn nhân loại
- Quyết định tính chất, mối quan hệ giữa các dân tộc và nhân loại
Nhưng khi giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội, chúng quay lại duy trì ápbức giai cấp và áp bức dân tộc Hiện nay, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đang đặt nhânloại đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu cấp bách như: ô nhiễm môi trường sống, cạn kiệt tàinguyên, đói nghèo, bệnh tật, khủng bố giai cấp tư sản trở thành trở lực chính của tiến bộ xãhội hiện nay
*Dân tộc, nhân loại do giai cấp quyết định, nhưng có vai trò tác động to lớn trở lại giai cấp
- Sự phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả mọi người và sựphát triển giai cấp
- Giải quyết vấn đề toàn cầu sẽ có tác động to lớn đến giải quyết vấn đề giai cấp
- Sự phát triển mọi mặt của dân tộc, nhân loại tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đấutranh giải phóng giai cấp vì lợi ích chung cơ bản, lâu dài của toàn nhân loại là cùng tồn tạihòa bình, xây dựng môi trường nhân văn, nhân đạo
Thực tiễn lịch sử chứng minh: Sự phát triển của nhân loại qua mỗi giai đoạn chẳngnhững đã tạo ra những tiền đề quan trọng quan trọng cho con người cải tạo tự nhiên và xãhội, phục vụ cho cuộc sống của mình mà còn tạo ra những điều kiện thuận lợi về vật chất vàtinh thần cho cuộc đấu tranh của các giai cấp tiến bộ, cách mạng để lật đổ ách thống trị củacác giai cấp thống trị, phản động
*Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 35- Xác lập thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét mối quan hệ dân tộc,giai cấp, nhân loại, phải có tư duy mới về quan hệ giai cấp - dân tộc - nhân loại.
- Việc giải quyết lợi ích giai cấp, dân tộc không tách rời lợi ích của toàn nhân loại
- Là cơ sở khoa học để quán triệt chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng, phát huysức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước tahiện nay
6.6 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG MỐI QUAN HỆ GIAI CẤP, DÂN TỘC
VÀ NHÂN LOẠI HIỆN NAY
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội tuy nhiên
do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tính chất toàn cầu hoá, đa đạnghoá quan hệ giữa các quốc gia dân tộc cho nên vấn đề giai cấp, dân tộc và nhân loại hiện nay
có những diễn biến phức tạp Đòi hỏi chúng ta phải có tư duy mới về vấn đề này, ở chỗ:
- Hiện nay vấn đề đấu tranh giai cấp, dân tộc, nhân loại luôn gắn với cuộc đấu tranhgiữa hai khuynh hướng phát triển dân tộc (đó là dân tộc tư sản và dân tộc vô sản) và cuộcđấu tranh giữa hai giai cấp đối lập (tư sản và vô sản)
- Giải quyết vấn đề giai cấp dân tộc phải gắn với những vấn đề toàn cầu
- Trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh dân tộc đang được đặt ra trựctiếp
- Quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại là quan hệ biện chứng không thể tách riêng từngnhân tố để giải quyết, trong khi giải quyết vấn đề này cũng là đồng thời để giải quyết vấn đềkia, tách rời hoặc tuyệt đối hoá mặt nào, nhân tố nào cũng đều sẽ dẫn tới hậu quả khó lường
- Tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể mà trong từng giai đoạn lịch sử có thể xác định vấn đềnào nổi lên
*Quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại trong cách mạng Việt Nam hiện nay
- Đặt vấn đề giai cấp trong quan hệ khăng khít với mục tiêu thực hiện đại đoàn kết toàndân tộc
- Giải quyết mối quan hệ có mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với sự pháttriển bình đẳng các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam
- Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò nền tảng của liênminh công - nông - Trí thức trong việc giải quyết vấn đề giai cấp và dân tộc ở nước ta,chống lại các khuynh hướng dân tộc cực đoan
- Mở rộng quan hệ quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.Đảng ta xac định: Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộngđồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hộitrên thế giới” (84)
- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế
Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực
và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợpcủa đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả Trong hộinhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệuquả và lợi ích quốc gia (102)
-