1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG ôn THI CAO học CHUYÊN NGÀNH TRIẾT môn CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG

55 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương ôn thi cao học 2014 (Chủ nghĩa duy vật biện chứng)
Trường học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Thể loại Đề cương ôn thi
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 501,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC 2014 (CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG) VẤN ĐỀ 1 TRIẾT HỌC LÀ GÌ? 1 1 TRIẾT HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC a Khái niệm Triết học Triết học là một hình thái ý thức xã hội.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC 2014 (CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG)

VẤN ĐỀ 1 TRIẾT HỌC LÀ GÌ?

1.1 TRIẾT HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC

a Khái niệm Triết học

Triết học là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ khi xã hội phân chia giai cấp, có sựtách biệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIIIđến thế kỷ thứ VI tr.CN với những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử ở Ấn Độ cổ đại,Trung Quốc cổ đại, Hylạp và LaMã cổ đại

Nghĩa xuất phát của thuật ngữ “triết học” theo tiếng Hán là “triết”- có nghĩa là trí, bao hàm

sự hiểu biết, sự nhận thức sâu rộng và đạo lý

Theo quan niệm của Ấn Độ: Triết học là darshana có nghĩa là chiêm ngưỡng (tri thức dựatrên lý trí - con đường suy ngẫm dẫn dắt…) tức con đường suy ngẫẫ̃m để con người đạt tới

“chân lý thiêng liêng”, đến với lẽ phải

Thuật ngữ “triết học” nguyên nghĩa tiếng Hy Lạp là philossophia- nghĩa là “yêu thích sựthông thái” Theo nghĩa đó, triết học là hình thái cao nhất của tri thức Nhà triết học là nhàthông thái có khả năng tiếp cận chân lý, làm sáng tỏ bản chất của mọi sự vật

Như vậy, tất cả các khái niệm gốc cổ xưa về triết học, nói lên triết học bao gồm toàn bộ trithức lí luận của nhân loại Thực chất là chưa xác định rõ và đầy đủ về đối tượng, nhiệm vụ vànội dung của triết học

Hiện nay, theo quan điểm mácxít, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học làhình thức đặc thù của tư duy bao gồm các học thuyết, học phái phản ánh thế giới bằng một hệthống lí luận thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật Trong lịch sử tư tưởng triết học đãxuất hiện các học thuyết triết học như: triết học Ấn Độ, triết học Trung Quốc, triết học Hy Lạp

- LaMã hay học thuyết bản thể (bản thể luận), học thuyết nhận thức (nhận thức luận), họcthuyết đạo đức (đạo đức học), mỹ học, lôgíc học Lịch sử triết học cũng đã xuất hiện các họcphái triết học như: triết học duy vật, triết học duy tâm, triết học siêu hình, triết học duy vật biệnchứng Trong các học phái đó có thể có nhiều môn phái khác nhau

Với tư cách là một khoa học, triết học là hệ thống quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Triết học khác với các khoa học khác ở tính đặc thù của hệ thống tri thức khoa học vàphương pháp nghiên cứu Tri thức triết học mang tính khái quát cao dựa trên sự trừu tượng hoá

và sâu sắc về thế giới, về bản chất cuộc sống con người Phương pháp nghiên cứu của triết học

là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm vềchỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lí luận Điều đó chỉ có thể thực hiệnbằng cách triết học phải dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bảnthân tư tưởng triết học

Không phải mọi triết học đều là khoa học Song các học thuyết triết học đều có đóng góp ítnhiều, nhất định cho sự hình thành tri thức khoa học triết học trong lịch sử; là những vòngkhâu, những mắt khâu trên “đường xoáy ốc” vô tận của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại.Trình độ khoa học của một học thuyết triết học phụ thuộc vào sự phát triển của đối tượngnghiên cứu, hệ thống tri thức và hệ thống phương pháp nghiên cứu

Trang 2

b Đối tượng nghiên cứu của triết học

Với tư cách là một khoa học, triết học có đối tượng nghiên cứu của mình Đối tượng củatriết học là một vấn đề trong lịch sử triết học từ trước đến nay vẫn đang tranh luận Có cảnhững câu trả lời khẳng định và phủ định xung quanh các câu hỏi: triết học có đối tượng haykhông? có đối tượng chung của triết học qua mọi thời đại hay không? có đối tượng chung củatriết học duy vật và triết học duy tâm không? có đối tượng chung của các học thuyết triết họctrong lịch sử không? đối tượng của triết học có khác đối tượng của khoa học cụ thể hay không

và nếu có thì khác nhau như thế nào?

- Thời cổ đại, do khoa học chưa phát triển, nhà triết học chính là nhà khoa học, nhà báchkhoa, thông thái trên các lĩnh vực, triết học bao hàm toàn bộ tri thức khoa học của nhân loại

Do vậy, triết học là khoa học của mọi khoa học Mặc dù các học thuyết triết học đều có cáckhách thể nghiên cứu riêng như: các yếu tố thế giới, nguyên tử, khối lượng, tồn tại, ý niệm…song thực chất đối tượng của triết học chưa phân biệt được với đối tượng của khoa học cụ thể

- Thời trung cổ, ở Châu Âu tôn giáo ngự trị, thế giới quan duy tâm tôn giáo thống trị trongđời sống tinh thần của xã hội, kìm hãm sự phát triển của các khoa học Triết học phát triển mộtcách khó khăn trong môi trường hết sức chật hẹp, trở thành “nô bộc” của thần học có nhiệm vụgiải thích kinh thánh Các nhà thần học cho rằng tôn giáo và triết học có điểm chung là đều đitìm chân lý Song trí tuệ của Chúa là cao nhất, chân lý của lòng tin là không cần chứng minh.Triết học là một bộ phận của thần học

- Thế kỷ XV-XVI, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đã tạo ra thời kỳ Phục Hưngvăn hoá, trong đó có triết học Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt là yêu cầu của sản xuấtcông nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành, nhất là khoa học thực nghiệm đã ra đời vớitính cách là những khoa học độc lập Sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa; những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn; những thành tựu của khoa học tự nhiên,khoa học xã hội và nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học Do các khoahọc cụ thể phát triển, dần dần tách khỏi triết học nên ngược lại triết học dần dần tách khỏi cáckhoa học cụ thể và phát triển thành các bộ môn riêng biệt, đó là bản thể luận, nhận thức luận,lôgíc học, triết học lịch sử, mỹ học, đạo đức học, tâm lý học Lúc này xuất hiện tư tưởng chorằng các khoa học cụ thể đã là triết học, còn triết học không có vai trò gì, không cần thiết,không có đối tượng riêng

- Thế kỷ XVII-XVIII và đầu thế kỷ XIX, là thời kỳ cả triết học duy vật và triết học duytâm đều phát triển mạnh Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thựcnghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và đạttới những đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII ở Anh, Pháp, HàLan, vớinhững đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiúý thức (Pháp),Xpinôda (HàLan) Các học thuyết triết học tiêu biểu: triết học tự nhiên, triết học xã hội vàđỉnh cao là triết học nhân bản của Phoiơbắc nửa đầu thế kỷ XIX Mặt khác, tư duy triết họccũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen,đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức

Sự phát triển của các khoa học cụ thể đã từng bước làm mất đi vai trò của triết học là

“khoa học của các khoa học” mà triết học Hêghen là hệ thống triết học cuối cùng mang thamvọng đó Hêghen xem triết học của ông là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đócác ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học

-Sự phát triển kinh tế - xã hội và của khoa học đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời củatriết học Mác Triết học Mác đã đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của khoa học”,xác định được đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất

và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tựnhiên, xã hội và tư duy Tuy vậy, nhiều học thuyết triết học hiện đại phương Tây xác định đốitượng nghiên cứu riêng của mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa,chú giải văn bản Chính vì vậy mà vấn đề triết học với tính cách là một khoa học và đối tượngcủa nó đã và đang gây ra cuộc tranh luận kéo dài trong lịch sử triết học đến nay

Trang 3

1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

a Đối tượng của triết học Mác - Lênin

Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đãdẫn đến sự ra đời của một hệ thống triết học hoàn toàn mới - triết học Mác - Lênin - đỉnh caocủa tư duy triết học nhân loại, một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị và triệt để, vũ khí tưtưởng sắc bén của giai cấp vô sản

Đoạn tuyệt triệt để với tham vọng trở thành “khoa học của mọi khoa học”, triết học Mác Lênin xác định đối tượng nghiên cứu của mình là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ýthức trên lập tr¬ường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chungnhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

-Đối tượng của triết học Mác - Lênin và đối tượng của các khoa học cụ thể là thống nhấtnhưng không đồng nhất, chúng khác nhau nhưng lại quan hệ mật thiết với nhau Sở dĩ như vậy

là vì, những quy luật chung nhất mà triết học Mác - Lênin nghiên cứu và những quy luật đặcthù của mỗi khoa học cụ thể không loại trừ nhau, mà trái lại, liên quan chặt chẽ, tác động đồngthời trong từng hiện tượng, từng quá trình cụ thể của thế giới vật chất Những quy luật chungnhất luôn được biểu hiện thông qua các quy luật đặc thù, hay nói cách khác, những quy luậtđặc thù là biểu hiện của các quy luật chung nhất trong một lĩnh vực cụ thể của thế giới vật chất.Mối quan hệ tương hỗ và sự liên minh chặt chẽ giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học

cụ thể, do đó là một hệ quả tất yếu bắt nguồn từ đối tượng nghiên cứu của chúng

b Chức năng của triết học Mác - Lênin

- Chức năng thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí của con người trong thếgiới đó Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học Mác - Lênin đem lại thế giớiquan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng sản

Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng Trước hết, hệ thống quanđiểm duy vật mácxít là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiệnthực Đây chính là “cặp kính” triết học để con người xem xét, nhận dạng thế giới, xét đoán mọi

sự vật, hiện tượng và xem xét chính mình Nó giúp cho con người cơ sở khoa học đi sâu nhậnthức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích ý nghĩa của cuộc sống

Thế giới quan duy vật biện chứng còn giúp con người hình thành quan điểm khoa họcđịnh hướng mọi hoạt động Từ đó giúp con người xác định thái độ và cả cách thức hoạt độngcủa mình Trên một ý nghĩa nhất định, thế giới quan cũng đóng một vai trò của phương phápluận Giữa thế giới quan và phương pháp luận trong triết học Mác - Lênin có sự thống nhấthữu cơ với nhau

Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người Thếgiới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực Trình độ phát triển vềthế giới quan là một tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng

xã hội nhất định

Các khoa học đều góp phần giúp con người hình thành thế giới quan đúng đắn Trong đó,thế giới quan triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan của conngười phát triển như một quá trình tự giác

Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thếgiới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giớiquan duy vật biện chứng là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượngtiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng,phản động

Trang 4

- Chức năng phương pháp luận

Phương pháp luận là hệ thống về những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, nhữngcách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn Phương pháp luận cũng cónghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp Triết học Mác - Lênin thực hiện chức năng phươngpháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn

Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng được thể hiện trước hết là phương phápchung của toàn bộ nhận thức khoa học Phương pháp luận duy vật biện chứng trang bị cho conngười hệ thống những nguyên tắc, những quy tắc, những yêu cầu, những chỉ thị của hoạt độngnhận thức và thực tiễn

Triết học Mác - Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù quy luậtlàm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp

độ phạm trù, quy luật

- Các chức năng khác của triết học Mác - Lênin

Ngoài hai chức năng cơ bản là thế giới quan và phương pháp luận, triết học Mác - Lênincòn có các chức năng khác như: chức năng nhận thức; giáo dục; chức năng dự báo khoa học;chức năng đánh giá - phê phán

Triết học Mác - Lênin thực hiện chức năng nhận thức.Việc trang bị một hệ thống tri thứctriết học sẽ giúp cho con người có khả năng bao quát dưới hình thức lý luận chung nhất khotàng tri thức nhân loại Hệ thống tri thức triết học sẽ giúp cho con người nâng cao khả năngtích hợp các tri thức của khoa học cụ thể và là cơ sở để nhận thức sâu sắc hệ thống tri thức đó.Triết học Mác - Lênin thực hiện chức năng giáo dục con người, hướng con ngườiđến các giá trị chân, thiện, mỹ Trên cơ sở thế giới quan khoa học, con người sẽ có mộtnhân sinh quan tích cực

Các quy luật của triết học là quy luật chung nhất, phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tưduy, được khái quát dựa trên cơ sở những kiến thức của khoa học cụ thể Do vậy, quy luật củatriết học mang trong mình chức năng dự báo khoa học, chỉ đạo, định hướng cho các khoa học

cụ thể tiếp tục đi sâu khám phá bản chất thế giới

Với thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, triết học Mác - Lênin là chuẩnmực khoa học để phê phán mọi thế giới quan duy tâm, sai lầm và phương pháp siêu hình Với

tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho nhận thức

và thực tiễn, triết học Mác - Lênin không chỉ có khả năng tích hợp được kiến thức khoa học cụthể mà còn làm chuẩn mực để đánh giá về mặt triết học các kiến thức khoa học cụ thể và phêphán các quan điểm sai lầm, duy tâm, phản động trong các khoa học cụ thể

Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là một đơn thuốc vạn năng có thể giải quyếtđược mọi vấn đề Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triếthọc con người cần phải có tri thức khoa học cụ thể và kinh nghiệm hoạt động xã hội Trongnhận thức và hoạt động thực tiễn không được xem thường hoặc tuyệt đối hoá triết học Nếuxem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động,sáng tạo trong công tác Nếu tuyệt đối hoá vai trò triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều và dễ

bị vấp váp, thất bại Bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng sẽ giúpmỗi người tránh được những sai lầm do chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hìnhgây ra

Trang 5

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VỚI CÁC KHOA HỌC CỤ THỂ; VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

*Mối quan hệ giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể

Vấn đề quan hệ giữa triết học nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng với các khoahọc cụ thể, từ lâu vẫn là một trong những tiêu điểm của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.Hiện nay, vấn đề này vẫn được các đại diện của triết học Mác - Lênin và của triết học tư sảngiải quyết theo những lập trường đối lập nhau về nguyên tắc

- Quan điểm của các nhà triết học tư sản về vấn đề này có thể chia thành hai khuynhhướng cơ bản

Khuynh hướng thứ nhất chính là sự tiếp tục của quan niệm “truyền thống” có từ thời cổđại, xem triết học là “khoa học của mọi khoa học” Theo đó, họ đem đối lập triết học với cáckhoa học cụ thể, tuyệt đối hoá vai trò của triết học, coi nó là khoa học duy nhất có quyền xétđịnh mọi khoa học khác

Khuynh hướng thứ hai nảy sinh từ thời Phục Hưng (thế kỷ 15 - 16) gắn liền với quá trìnhcác khoa học cụ thể từng bước tách khỏi triết học và quá trình hiện thực hoá sự thống trị củaphép siêu hình Theo đó, các nhà triết học đem các khoa học cụ thể đối lập với triết học, xemmỗi khoa học cụ thể tự nó đã là triết học, do đó, triết học nói chung trở thành thừa!

Trên thực tế, cả hai khuynh hướng trên đây đều mang tính cực đoan và bị chính sự pháttriển của khoa học và thực tiễn bác bỏ

- Trái lại, trong khi xác định vai trò của triết học, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lêninluôn khẳng định và luận chứng cho sự gắn bó chặt chẽ giữa triết học nói chung và triết họcMác - Lênin nói riêng với các khoa học cụ thể

Khác với tất cả các hệ thống triết học khác, triết học Mác - Lênin đã khắc phục những vậtchướng ngại trước đây vẫn ngăn cách giữa triết học và các khoa học cụ thể Mối liên hệ vữngchắc và có hiệu quả giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể được xây dựng trên cơ

sở sự “đồng thuận” giữa chúng về những đặc điểm chủ yếu

Đặc điểm căn bản của triết học Mác - Lênin là ở khả năng cải tạo thế giới mang tính cáchmạng của nó Cội nguồn của sức mạnh ấy là ở chỗ, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đãthực sự trở thành nguyên tắc căn bản của triết học Mác - Lênin Sự đoạn tuyệt với chức nănggiải thích thế giới một cách đơn thuần của triết học cũ, thực hiện liên hệ với thực tiễn, dựa vàothực tiễn, phục vụ thực tiễn cách mạng vừa đòi hỏi vừa cho phép triết học Mác - Lênin thựchiện sự liên minh chặt chẽ và có hiệu quả với các khoa học khác

Sáng tạo là đặc trưng bản chất của mọi khoa học, đồng thời cũng là một đặc trưng mới trongtriết học do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập Việc gắn liền triết học với thực tiễn cách mạng là cơ

sở của tính sáng tạo của triết học Mác - Lênin Triết học Mác - Lênin không phải là một tổng hợpcác chân lý tuyệt đối, bất biến, mà trái lại, nó là một khoa học đòi hỏi không ngừng được bổ sung,phát triển cùng với thực tiễn cuộc sống Dựa vào những thành tựu do các khoa học cụ thể đưa lại,triết học Mác - Lênin không ngừng hoàn thiện về nội dung và hình thức, phát triển cơ cấu lôgíc vàcông cụ đặc trưng của mình, do đó thực hiện ngày càng có hiệu quả những chức năng của mìnhđối với các khoa học khác và đối với thực tiễn đang không ngừng phát triển Đặc điểm này củatriết học Mác - Lênin đã gạt bỏ được một trong những trở ngại chủ yếu trên con đường dẫn tới sựliên minh, gắn bó bình đẳng giữa triết học và các khoa học khác

Trang 6

Một trở ngại lớn thường ngăn cản sự liên minh giữa triết học với các khoa học khác là domâu thuẫn giữa tính đảng của các hệ thống triết học cũ với tính khách quan khoa học của nó.Tính đảng của triết học, trước hết và chủ yếu là tính phe phái - duy vật hoặc duy tâm Nhưngtrong xã hội có đối kháng giai cấp, tính đảng của triết học được biểu hiện tập trung ở tính giaicấp, với việc nó luôn thể hiện ý chí và phục vụ lợi ích của những giai cấp, những đảng pháichính trị nhất định Vì thế, trong các hệ thống triết học cũ, các nhà triết học thường phải lựachọn hoặc là phải hy sinh tính khoa học để bảo vệ tính đảng, hoặc là phải che đậy tính đảngbằng việc viện dẫn một cách thiên lệch các thành tựu khoa học

Chỉ có triết học Mác - Lênin mới công khai tính đảng vô sản của mình Nó vừa là vũ khí

tư tưởng sắc bén của giai cấp vô sản, đồng thời là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học

Sự thống nhất về lợi ích giữa giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động trở thành nhân

tố quyết định để trong triết học Mác - Lênin, tính đảng không những không mâu thuẫn mà cònhoàn toàn đồng thuận với tính khách quan khoa học của nó Tất nhiên, tính đảng vô sản củatriết học Mác - Lênin quyết định tính khách quan khoa học của nó Thực tế cho thấy, tính đảngcủa triết học Mác càng được đề cao thì tính khách quan khoa học của nó càng có điều kiệnphát triển và ngược lại

Mối liên hệ giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể được tạo dựng trên cơ sở sựphân chia các đối tượng và các chức năng chuyên biệt giữa chúng Theo đó, các khoa học cụthể nghiên cứu những đối tượng riêng lẻ, những thuộc tính, hiện tượng riêng lẻ, những qui luật

về sự vận động, phát triển của từng lĩnh vực của hiện thực Để bảo đảm cách giải quyết đúngđắn những nhiệm vụ chuyên ngành của mình, các khoa học cụ thể phải dựa vào một thế giớiquan khoa học, một hệ thống những quan điểm, nguyên tắc xuất phát đúng đắn cho mọi hoạtđộng Đó cũng chính là chức năng chuyên biệt của triết học Mác - Lênin Ngược lại, để nghiêncứu được thế giới như một chỉnh thể, nghiên cứu những thuộc tính chung, phổ biến của chúng,vạch ra được những qui luật vận động, phát triển chung nhất của tồn tại, triết học Mác - Lêninkhông thể không dựa vào những thành tựu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau do các khoa học cụthể cung cấp

Sự gắn bó giữa triết học và khoa học cụ thể là một tất yếu, nhưng hiện thực hoá sự gắn bó

ấy là một quá trình Những cuộc “xung đột” giữa triết học và các khoa học cụ thể đ từng vàvẫn có thể xảy ra, nhưng nguyên nhân thực sự của nó không xuất phát từ bản thân triết học haykhoa học cụ thể, mà do những chủ thể của nó hiểu và vận dụng không đúng thực chất mốiquan hệ này

*Vai trò của triết học Mác - Lênin đối với đời sống xã hội

- Triết học Mác - Lênin là thế giới quan khoa học, phương pháp luận cách mạng để nhậnthức và cải tạo thế giới

- Là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trong đấu tranh cách mạng nhằm xoá bỏ chủnghĩa tư bản xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

- Triết học Mác - Lênin là cơ sở để các Đảng Cộng sản đề ra đường lối và phương phápcách mạng đúng đắn

Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyếtcác vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn Để có thể tìm lờigiải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những trithức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trựctiếp ở mỗi con người Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không nhữngkhó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mangtính giáo điều

Trang 7

Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai tháicực sai lầm:

+ Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp

cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động vàsáng tạo trong công tác

+ Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máymóc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình

cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại

Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủnghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trựctiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng

-

VẤN ĐỀ 2 VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

2.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẠM TRÙ VẬT CHẤT TỪ CHỦ NGHĨA DUY VẬT TRƯỚC MÁC ĐẾN TRIẾT HỌC MÁC; TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN ĐẾN ĐỊNH NGHĨA CỦA V.I.LÊNIN VỀ VẬT CHẤT

Vật chất là phạm trù cơ bản, xuất phát điểm của triết học Việc trả lời vật chất là gì cũngnhư việc thừa nhận hay bác bỏ nó có liên quan đến việc giải quyết vấn đề triết học Xungquanh vấn đề này luôn luôn thể hiện những quan điểm khác nhau, giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm, giữa giữa chủ nghĩa duy vật cũ và giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng

a Quan điểm duy tâm, tôn giáo

*Quan điểm tôn giáo: Thiên chúa giáo cho rằng, chúa trời sinh ra thế giới trong vòng 7

ngày Quan điểm này là duy tâm thần bí, thiếu cơ sở khoa học, nhằm phủ nhận sự tồn tại củathế giới vật chất

*Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm:Chủ nghĩa duy tâmnói chung, phủ nhận sự tồn tại

khách quan của vật chất; vật chất chỉ là do lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra là cái bóng, hoặc làhình ảnh của (ý niệm ; ý niệm tuyệt đối; chúa trời; thượng đế ), hoặc là sản phẩm phức hợpcủa các cảm giác

- Platôn: Vật chất bắt nguồn từ “ý niệm”; sự vật cảm tính là cái bóng của “ý niệm” Conngười chỉ nhận thức được cái bóng của sự vật, còn bản thân sự vật thật chỉ có linh hồn bất tửmới biết được…

- Hêghen: Vật chất là do “ý niệm tuyệt đối” sinh ra; giới tự nhiên là kết quả của sự tha hoácủa “ý niệm tuyệt đối”, là hình thức tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối”

- Béccơly: “vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp của cảm giác”; và “tồn tại nghĩa

là được cảm biết”

b Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của

thế giới vật chất, giải thích sự vận động, phát triển của thế giới vật chất như một hiện tượng tựthân, bác bỏ vai trò sáng thế của tinh thần, thượng đế

Trang 8

*Thời cổ đại:Họ đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của nó, - những sự vật hữu

hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài

Talét: vật chất là nước; Hêraclít: vật chất là lửa

*Thời kỳ Phục hưng (XV - XVI) và cận đại (XVII - XVIIII): do sự thống trị của quan

điểm siêu hình và cơ học cổ điển Niutơn, khiến các nhà khoa học đồng nhất vật chất với khốilượng; coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học; nguồn gốc vận độngnằm ngoài vật chất

- Phranxi Bêcơn (1561-1621): có sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Ông cho rằngkhoa học không biết một cái gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tự nhiên…vận độngcủa vật chất thành sự lặp lại vĩnh viễn bất biến…

- Tômát Hốp xơ (1588-1679): giới tự nhiên là tổng số các vật thể khác nhau về kích thước,

vận động của vật chất là do có sự tác động lẫn nhau của vật này lên vật khác mà sinh ra vậnđộng

*Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: khi xuất hiện các phát minh mới trong khoa học tự

nhiên, con người có được hiểu biết căn bản hơn, sâu sắc hơn về nguyên tử: nguyên tử khôngphải là phần tử nhỏ nhất, nó bị phân chia dẫn đến cuộc khủng hoảng vật lý học

Đánh giá:

- Thành công: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Dùng vật chất để

giải thích vật chất chứ không dựa vào lực lượng tinh thần

+ Hạn chế: Đi tìm vật thể giản đơn nhất cấu tạo nên vật chất Do đó họ đã đồng nhất với

vật thể cụ thể , với thuộc tính của nó

+ Nguyên nhân: Trình độ khoa học thấp kém, phương pháp nghiên cứu trực quan siêu

hình đã dẫn đến sai lầm

*Cuộc khủng hoảng vật lý học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X, một loại sóng điện từ có bước sóng từ 0,01

-100.10-8 cm

- Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ, đã bác bỏ quanniệm về sự bất

biến của nguyên tử.

- Năm 1897, Tômxơnphát hiện ra điện tử (êléctrôn) và chứng minh được nó là một trong

những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Nhờ phát minh này, lần đầu tiên trong khoa học, sự

tồn tại hiện thực của nguyên tử được chứng minh bằng thực nghiệm

- Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là bất

biến, mà thay đổi phụ thuộc vào tốc độ vận động của nó

- Năm 1905, Anhxtanh phát minh ra thuyết tương đối hẹp và năm 1916, ông đưa ra thuyết

tương đối tổng quát, chứng minh được không gian, thời gian, khối lượng không phải là bất biến, không thể đặc trưng chung cho vật chất.

Như vậy, những quan niệm đương thời về vật chất là nguyên tử, khối lượng đã sụp đổ

trước khoa học Đây chính là cơ hội để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng, cho rằng vật chất đã “tiêutan”, nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã sụp đổ Các nhà khoa học có quan điểm duy vật lâmvào cuộc khủng hoảng về thế giới quan

=>Từ đó xuất hiện yêu cầu cần có sự khái quát về mặt triết học đối với những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, đưa ra định nghĩa khoa học về vật chất, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật

Chính trong hoàn cảnh này V.I.Lênin đã xuất hiện Bằng tư duy triết học thiên tài Ông

đã chỉ rõ: Đây chỉ là “thời kỳ ốm đau ngắn ngủi”, “chứng bệnh của sự trưởng thành” Đánh

giá về cuộc khủng hoảng vật lý học,

Trang 9

Lênin chỉ rõ:

+ Thực chất của cuộc khủng hoảng vật lý học là cuộc khủng hoảng Thế giới quan, làm

đảo lộn những quan niệm cũ của khoa học tự nhiên về thế giới

+ Nguyên nhân của sự khủng hoảng nằm ngay trong bước nhảy vọt của nhận thức con

người khi chuyển từ nhận thức thế giới vĩ mô sang nhận thức thế giới vi mô

+ Con đường thoát ra khỏi khủng hoảng là phải thay chủ nghĩa duy vật siêu hình bằng

chủ nghĩa duy vật biện chứng

Như vậy, đến đây đã có đủ điều kiện chín muồi để khắc phục cuộc khủng hoảng thế giới quan.

c Quan điểm của C.Mác và Ph.Ănghen về vật chất

Thời kỳ của C.Mác và Ph.Ănghen do cuộc đấu tranh lý luận cũng như sự phát triển củakhoa học tự nhiên chưa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất.Song hai ông đã đưa ra các tư tưởng hết sức quý báu về phạm trù vật chất:

- Không thể quy vật chất vào một vật thể cụ thể nào

- Thuộc tính chung của mọi dạng vật chất là tồn tại khách quan, tức là không lệ thuộc vào

ý thức của con người

- Muốn hiểu vật chất người ta phải đem nó đối lập với ý thức

Những tư tưởng thiên tài trên đây đã có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học đươngthời và là cơ sở trực tiếp để V.I.Lênin kế thừa, phát triển học thuyết duy vật biện chứng về vậtchất sau này

d Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc cách mạng khoa học tự nhiên, kế thừa nhữnggiá trị truyền thống của chủ nghĩa duy vật, những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen

V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa khoa học về vật chất:“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác”

*Phương pháp định nghĩa của V.I.Lênin

- Định nghĩa theo cách mà các nhà triết học duy vật trước đây vẫn định nghĩa Tức là quyvật chất về một bản nguyên nào đó như: Vật chất là nước, lửa, không khí, nguyên tử… Cáchđịnh nghĩa này rơi vào siêu hình

- Định nghĩa thông qua giống khác biệt về loài Đó là phương pháp đem quy khái niệmcần định nghĩa về một khái niệm rộng hơn đã biết và chỉ ra yếu tố đặc trưng của nó như trongtoán học thường dùng

Ví dụ: Hình bình hành là một tứ giác có các cặp cạnh đối song song và bằng nhau từng đôimột (Hình tứ giác đã biết)

Nhưng vật chất là vô cùng vô tận, phạm trù vật chất là một khái niệm rộng đến cùng cực,không có phạm trù nào có thể rộng hơn phạm trù vật chất nên phương pháp này không thể ápdụng được

- Định nghĩa theo phương pháp phát sinh Chỉ rõ nguồn gốc phát sinh của đối tượng

Ví dụ: Tam giác là một hình được tạo bởi 3 đoạn thẳng gấp khúc khép kín

Vật chất là vốn có, không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi nên phươngpháp này không thể định nghĩa nổi

- Qua nghiên cứu nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng cuối cùng Lênin đã đưa raphương pháp định nghĩa vật chất thông qua mối quan hệ với mặt đối lập với nó là ý thức, qua

đó chỉ ra thuộc tính đặc trưng “tồn tại khách quan” để phân biệt vật chất với ý thức Đây làphương pháp duy nhất đúng để định nghĩa một phạm trù có ngoại diên rộng lớn như vật chất

Trang 10

Theo Lênin, định nghĩa vắn tắt: Vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan bênngoài ý thức.

*Nội dung định nghĩa

- Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan

+ Đây là sự xác định “góc độ” của việc xem xét để phân biệt vật chất với tư cách là phạmtrù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thểcủa các đối tượng và các dạng vật chất khác nhau:

Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, khôngsinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều cógiới hạn, nó sinh ra và mất đi để chuyển hoá thành cái khác Vì thế, không thể quy vật chất nóichung về vật thể, cũng không thể đồng nhất vật chất nói chung với vật thể cụ thể như các nhàtriết học cổ đại và cận đại đã làm

+ Với tư cách là phạm trù triết học, phạm trù vật chất phải thể hiện thế giới quan và hướngđến sự giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Khác với phạm trù triết học, phạm trù của cáckhoa học cụ thể chỉ phản ánh một sự vật, một đối tượng cụ thể, giới hạn trong phạm vi mộtngành khoa học nhất định

+ Thực tại khách quan là một thuộc tính của thế giới vật chất, phản ánh khả năng tự thântồn tại, ở ngoài và độc lập với ý thức của loài người

+ Thực tại khách quan được Lênin dùng để chỉ vật chất (hay vật chất là thực tại kháchquan) chủ yếu là chỉ tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức của loài người Ởđây Lênin đã quy giản khái niệm vật chất về khái niệm thực tại khách quan

Như vậy, vật chất với tư cách là phạm trù triết học thì đi nghiên cứu các quy luật chungnhất của thế giới vật chất cả (tự nhiên - xã hội - tư duy) Như vậy, phạm vi nghiên cứu của vậtchất là rộng hơn của các khoa học tự nhiên, đây là cơ sở để phê phán tư duy siêu hình

(Nếu thế giới vật chất mới chỉ có thuộc tính tồn tại khách quan thì chưa đủ chưa phân biệtđược giữa duy vật và duy tâm Vì thế, cần nghiên cứu thêm các nội dung tiếp)

- Thực tại khách quan (vật chất) luôn được đem lại cho con người trong cảm giác

+ Thực tại khách quan ấy là cái “được đem lại cho con người trong cảm giác” Nghĩa lànhững khách thể của thực tại khách quan, trong quan hệ với chủ thể, khi tác động vào giácquan của chủ thể thì đem lại cho chủ thể những cảm giác về chúng

+ Có được sự tác động vào giác quan của con người, đó chính là thuộc tính phảnánh của vật chất

Như vậy có hai điểm cần chú ý:

-> Một là, khẳng định mọi dạng vật chất đều có thuộc tính phản ánh và vật chất tác độngvào giác quan gây nên cảm giác, nhờ cảm giác mà ta biết được vật chất Do đó, muốn có cảmgiác, trước hết phải có vật chất (thực tại khách quan) tác động Điều này đồng nghĩa với khẳngđịnh vật chất có trước, cảm giác (ý thức) có sau

-> Hai là, tất cả những gì mà cảm giác đem lại cho ta đều do thực tại khách quan quy định;tất cả những gì thông qua giác quan chúng ta cảm biết được đều là những cái phải có trong

Trang 11

thực tại khách quan, và chính chúng quy định nội dung của cảm giác, ý thức Điều này đồngnghĩa với khẳng định vật chất quyết định ý thức.

=>Thuộc tính thứ hai này khẳng định đã là vật chất thì đều có thuộc tính phản ánh, còn cái

gì mà không có thuộc tính phản ánh thì không phải là vật chất -> ví như lực lượng siêu nhiên,chúa thượng đế… vì không có thuộc tính phản ánh cho nên con người cũng không nhận thứcđược về hình thù, kết cấu, quy luật vận động… như thế nào

Với nội dung này, Lênin đã giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học: vật chất cótrước -> vừa làm cơ sở phê phán chủ nghĩa duy tâm cho rằng: chúa, thượng đế có trước ý thức

có sau -> và làm cơ sở nghiên cứu nội dung thứ ba của định nghĩa:

- Thực tại khách quan (vật chất) được cảm giác của con người phản ánh hay nói cách khác con người có thể nhận thức được thế giới

+ Thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng, mà được biểu hiện thông quacác dạng cụ thể; bằng cảm giác (ý thức), con người có thể nhận thức được vật chất với nhữngphương pháp khác nhau: chép lại, chụp lại, phản ánh

+ Thực tại khách quan (vật chất), do đó, vừa là nguồn gốc, vừa là đối tượng của cảm giác,của ý thức, có trước ý thức và quyết định nội dung khách quan của ý thức

Như vậy, với nội dung này, Lênin đã giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triếthọc; vừa chứng minh được khả năng nhận thức của con người, vừa bác bỏ “thuyết không thểbiết” phủ nhận khả năng nhận thức của con người

Tóm lại, nội dung định nghĩa vật chất của Lênin chỉ ra rằng, chỉ những khách thể nào hội

tụ đầy đủ ba đặc trưng bản chất trên đây mới thuộc là vật chất Hay nói cách khác, tổng hợp cả

ba đặc trưng bản chất đó, Lênin biểu đạt bằng thuật ngữ “thực tại khách quan” và gọi nó là vậtchất Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Lênin đã đưa ra một định nghĩa kinh điểnmang tính cách mạng, khoa học về phạm trù nền tảng của chủ nghĩa duy vật

*Ý nghĩa

- Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết đúng đắn, khoa học vấn đề cơ bản của triếthọc, khắc phục được tính trực quan siêu hình máy móc trong quan niệm về vật chất của chủnghĩa duy vật cũ Do đó, làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, trở thànhchủ nghĩa duy vật biện chứng tạo cơ sở khoa học trong quan niệm duy vật trong lĩnh vực xãhội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời tạo cơ sở thống nhất giữa chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Là cơ sở khoa học và là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm(cả kháchquan và chủ quan) và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả, đảm bảo sự đứng vững củachủ nghĩa duy vật trước sự phát triển mới của khoa học tự nhiên

- Định nghĩa vật chất của Lênin cũng trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa họccho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất, động viên cổ vũ họ, tin ở khả năngnhận thức của con người, tiếp tục đi sâu vào khám phá những thuộc tính mới của vật chất Dovậy, nó đã có tác dụng đưa khoa học tự nhiên (nhất là vật lý học) thoát ra khỏi khủng hoảng ởcuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 để tiếp tục đi lên

- Ngày nay, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn ngày càng phát triển vớinhững khám phá mới mẻ như: nhân bản vô tính, tìm ra bản đồ gen người… càng khẳng địnhtính đúng đắn của quan niệm duy vật biện chứng về vật chất Định nghĩa vật chất của Lêninvẫn giữ nguyên giá trị Nó vẫn là tiêu chuẩn để phân biệt thế giới quan duy vật và thế giới quanduy tâm, là cơ sở xác định nguyên tắc tính khách quan trong xem xét sự vật hiện tượng

*Vận dụng

- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức Do

đó, trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới phải xây dựng nguyên tắc khách quan trong xem

Trang 12

xét sự vật hiện tượng, phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quyluật khách quan.

- Vật chất là cái gây lên cảm giác của con người, mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng quachỉ là sự phản ánh của nó Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn phải phát huy tính năng động chủquan trong nhận thức và cải tạo thế giới, chống tư tưởng hữu khuynh, duy ý chí, trông chờ ỷnại vào khách quan

- Vật chất là vô cùng vô tận, do vậy nhận thức và cải tạo phải xây dựng phương pháp xemxét biện chứng, chống tư tưởng siêu hình, định kiến trong xem xét đánh giá con người, sự vậthiện tượng

Trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đặc biệt qua tâm dến việc xuất phát từ thực tiễncuộc sống và cách mạng Việt Nam để đề ra đường lói, xác định chủ trương giải pháp.Trongquân sự, phải phản ánh đúng bản chất quy luật vận động của chiến tranh và đấu tranh vũ trangcủa quá trình xây dựng quân đội, để có đường lối xây dựng quân đội phù hợp

2.2 NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC; VẤN ĐỀ Ý THỨC VÀ VÔ THỨC:

Nghiên cứu nguồn gốc, bản chất ý thức thức là những vấn đề hết sức phức tạp của triếthọc, là một trong những nội dung trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy trong lịch sử triết học Việc giải quyết thấu đáo về ý thức, nguồn gốc, bản chất của

nó góp phần giải quyết thấu đáo vấn đề cơ bản của triết học có ý nghĩa hình thành thế giớiquan và là tiêu chí để phân chia các trường phái triết học; đồng thời có ảnh hưởng đến cáckhoa học tự nhiên Quán triệt quan điểm của triết học Mác - Lênin về vấn đề này có ý nghĩa tolớn cả về mặt lý luận và về thực tiễn

a Nguồn gốc của ý thức: *Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Ý thức là cái không phải

của con người, không phụ thuộc vào con người Đó là là một lực lượng siêu tự nhiên, tồn tại ởđâu đó mà con người không thể biết có sức mạnh tuyệt đối và toàn năng, sáng tạo và chi phốitất cả (linh hồn do chúa ban tặng)

- Platôn: Tìm nguồn gốc của ý thức, từ sự hồi tưởng của linh hồn bất tử

- Hêghen: Nguồn gốc của ý thức là “ý niệm tuyệt đối” do ý niệm tuyệt đối quy định

- Béccơli - Hium - Makhơ: Nguồn gốc của ý thức là do cảm giác sinh ra hoặc do phức hợpcảm giác, hoặc do yếu tố phức hợp yếu tố sinh ra

*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận nội dung khách quan của ý

thức và nguồn gốc của ý thức có trong tự nhiên, bác bỏ tính chất thần bí, siêu tự nhiên của ýthức Song, họ còn hạn chế quan niệm ý thức như một sản phẩm thuần tuý của một dạng vậtchất thuần tuý Cũng có trường hợp lẫn lộn, đồng nhất vật chất với ý thức, xoá nhoà ranh giớigiữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm

- Đêmôcrít: Ý thức là do các nguyên tử đặc biệt (hình cầu, nhẹ, linh động…) cấu thành

- Phoiơbắc: Thừa nhận ý thức là sản phẩm đặc biệt của óc người Song do không thấy đượcbản chất xã hội của con người, nên ông không thấy được yếu tố xã hội - lịch sử của ý thức

Những sai lầm, hạn chế nói trên của các nhà duy vật trước Mác có nguyên nhân bắt nguồn

từ điều kiện lịch sử đương thời, một mặt do các ngành khoa học còn kém phát triển, mặt khác

do bị phương pháp siêu hình chi phối Tất cả các sai lầm, hạn chế trong quan niệm về ý thứccủa chủ nghĩa duy tâm cũng như chủ nghĩa duy vật cũ đều được các giai cấp thống trị dùnglàm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần đối với quần chúng nhân dân

Đứng vững trên lập trường duy vật, với phương pháp biện chứng, triết học Mác - Lênin đã

có quan niệm đúng đắn về ý thức

*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 13

Ý thức là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ 1 hình thức phản ánh thế giới khách quan củadạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất là não người, là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Ý thức của con người là sảnphẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội.

Trang 14

- Nguồn gốc tự nhiên: Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là một thuộc tính

của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng sống

có tổ chức cao là bộ óc người

Con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất, từ vô cơ đếnhữu cơ, từ đơn bào đến đa bào, từ động vật bậc thấp đến bậc cao Nên chỉ có bộ óc người làsản phẩm phát triển cao nhất của vật chất có cấu tạo rất tinh vi, là cơ quan vật chấtvật chất của

ý thức Hoạt động của ý thức chỉ diễn ra trong bộ não người, trên cơ sở hoạt động sinh lý thầnkinh của bộ não người

Ý thức là chức năng của bộ óc người, là thuộc tính của bộ não, là sự phản ánh thế giớikhách quan vào bộ não người Phản ánh là thuộc tính kháchquan vốn có của mọi dạng vật chấtvật chất Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của 1 hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chấtkhác trong quá trình tác động qua lại của chúng Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trìnhphát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạnphát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người ý thức là ý thức củacon người, nằm trong con người, không thể tách rời con người

Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất, nội dungcủa nó là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh ý thức là sự phản ánh thế giớibên ngoài vào trong bộ óc người Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ riêng bộ óc ngườithôi thì chưa thể có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan vàqua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra

Như vậy, bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tựnhiên của ý thức

- Nguồn gốc xã hội: Để ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng,

không thể thiếu được, song chưa đủ Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nhữngtiền đề, nguồn gốc xã hội

+ Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành con người và xã hội loài người nhờhoạt động lao động và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngũ Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xãhội của ý thức

Lao động:là hoạt động đặc thù của con người, nhờ lao động mà năng lực phản ánh của bộ

óc người ngày càng phát triển

Loài vật tồn tại nhờ vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dưới dạng trực tiếp Cònloài người thì khác hẳn Những vật phẩm cần thiết cho sự sống thường không có sẵn trong tựnhiên Con người phải tạo ra những vật phẩm ấy Chính trong quá trình lao động đã từng bướchoàn thiện con người, làm biến đổi con người và làm cho con người ngày càng nhận thức sâusắc hơn về thế giới

Thông qua lao động làm cho thế giới khách quan bộc lộ bản chất quy luật để con ngườinhận thức ngày càng phát triển và hoàn thiện, khả năng tư duy trừu tượng ngày càng cao Hoạtđộng lao động đã đưa lại cho bộ não người năng lực phản ánh sáng tạo về thế giới

Quá trình lao động sản xuất, con người hình thành nhu cầu quan hệ, trao đổi kinhnghiệm, giao tiếp Do đó, lao động còn là cơ sở hình thành và phát triển ngôn ngữ

Ngôn ngữ:(tiếng nói và chữ viết) là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để con

người giao tiếp trong xã hội, là phương tiện để giao lưu tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác,giúp loài người và mỗi người nhanh chóng hình thành phát triển ý thức

+ Lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu để biến bộ não của vượn thành bộnão con người, biến phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức

Trang 15

- Mối quan hệ giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức

Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhấtbiện chứng với nhau Chúng là cơ sở, tiền đề cho nhau tồn tại phát triển, trong đó nguồn gốc tựnhiên là điều kiện cần, nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để hình thành ý thức của con người.Như vậy, ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xãhội Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức, là thực tiễn xã hội ýthức là 1 hiện tượng xã hội, đây là cơ sở khoa học để phê phán chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩaduy vật siêu hình về ý thức

*Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong xem xét, cải tạo ý thức phải toàn diện, trên cơ sở nguồn gốc xã hội phải quan tâmđúng mức đến nguồn gốc tự nhiên

- Trong hoạt động thực tiễn, việc xây dựng ý thức con người phải chăm lo cả hai mặt, cảthể lực và tinh thần, phải tạo môi trường xã hội đưa con người vào hoạt động, được giao lưu,được thông tin

- Ý thức người là sự phản ánh tích cực, chủ động sáng tạo; để phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo, phải phát huy bằng nhiều cách khác nhau như: tạo môi trường, cơ chế, chính sách

- Tránh tuyệt đối hóa, hoặc tách rời các nguồn gốc với nhau, đồng thời kiên quyết đấutranh chống quan điểm coi nhẹ hoặc phủ nhận nguồn gốc xã hội

b Bản chất của ý thức

Từ việc làm rõ nguồn gốc của ý thức, các nhà lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rabản chất của ý thức Xung quanh vấn đề bản chất ý thức có nhiều quan điểm khác nhau Dokhông hiểu được nguồn gốc ra đời của ý thức, nên cả chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vậttrước Mác đều không hiểu được bản chất của ý thức:

*Chủ nghĩa duy tâm: Quan niệm ý thức như 1 thực thể độc lập duy nhất, là cái có trước

sinh ra vật chất

*Chủ nghĩa duy vật tầm thường: coi ý thức là 1 dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản

ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất

Cả hai quan niệm trên đều sai lầm không phản ánh đúng bản chất của ý thức

*Chủ nghĩa duy vật biện chứng: khẳng định ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan

vào trong đầu óc con người một cách tích cực, chủ động, sáng tạo Bản chất của ý thức là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan

- Ý thức là hình ảnh của sự vật, là sự phản ánh thế giới khách quan được thực hiện trongnão người, gắn liền hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có tính định hướng, có lựa chọnnhằm sáng tạo ra những tri thức về sự vật hiện tượng của thế giới khách quan

- Nội dung của ý thức do thực tại khách quan quy định Thực tại khách quan giống nhưbản chính, còn ý thức giống như bản sao Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan thông qualăng kính chủ quan của mỗi người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người

- Ý thức là phản ánh chủ quan của thế giới khách quan nhưng là sự phản ánh mang tínhsáng tạo, tích cực về thế giới khách quan

+ Phản ánh của ý thức là sự sáng tạo do nhu cầu thực tiễn quy định

+ Phản ánh của ý thức là tích cực chủ động sáng tạo vì phản ánh bao giờ cũng dựa trênhoạt động thực tiễn xã hội và là sản phẩm của quan hệ xã hội, chịu sự chi phối chủ yếu của cácquy luật xã hội do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con ngườiquy định Do vậy, ý thức mang bản chất xã hội

- Sự phản ánh của ý thức mang dấu ấn của chủ thể phản ánh

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, qua quá trình phản ánh của ý thức là quá trìnhcái vật chất di chuyển vào óc người và được cải biến trong đó Do đó, sự phản ánh của ý thứcphụ thuộc vào bản thân chủ thể trong quá trình phản ánh thế giới khách quan

Trang 16

+ Sự phản ánh phụ thuộc vào kinh nghiệm của chủ thể; kinh nghiệm ở đây chính là quátrình hoạt động thực tiễn lâu năm, người hoạt động thực tiễn lâu năm, đúc kết được nhiều kinhnghiệm thì phản ánh thế giới có hiệu quả hơn, nhận thức thế giới 1 cách đúng đắn hơn.

+ Sự phản ánh phụ thuộc vào lập trường giai cấp của chủ thể Trong xã hội có giai cấp đốikháng, chủ thể phản ánh luôn chịu sư chi phối bởi lợi ích giai cấp

*Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ tồn tại xãhội gắn với phẩm chất năng lực và lập trường giai cấp của chủ thể Đồng thời phát huy tínhnăng động chủ quan, chống chủ quan duy ý chí, tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều xarời thực tiễn

- Để phát triển ý thức con người cần phải chăm lo bồi dưỡng hệ thống phương pháp khoahọc, tri thức khoa học, lập trường quan điểm cách mạng, giáo dục đúng các lợi ích và chăm lođời sống vật chất tinh thần, coi trọng và phát huy vai trò công tác tư tưởng

- Phê phán quan điểm duy vật cơ giới máy móc cho rằng “đa thành phần kinh tế tất yếuphải đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”

c Vấn đề ý thức và vô thức

- Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong,chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí

- Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều khiển, nằm ngoài phạm vicủa lý trí hoặc chưa được con người ý thức đến

- Những tác động được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành thói quen tới mức chúng như một

sự tự động hóa cả khi không có sự chỉ đạo của lý trí

- Là trạng thái tâm lý về chiều sâu điều chỉnh trạng thái tâm lý hành vi ứng xử của conngười “chưa có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự kiểm tra, kiểm soát của lý trí”

- Biểu hiện của vô thức thành các hiện tượng khác nhau như: những giấc mơ, thèm khát,mặc cảm, trực giác, những dục vọng ham muốn bị đè nén lâu ngày…

- Mỗi hiện tượng vô thức đều liên quan đến hoạt động, có vai trò, khả năng riêng, gópphần nhận thức, ý thức, sáng tạo

Trang 17

*Vai trò của ý thức và vô thức trong cuộc sống

Ý thức và vô thức có vai trò quan trọng trong cuộc sống Chức năng của ý thức bao gồmnhững gì chúng ta nhận biết một cách tự giác, những điều chúng ta tự nguyện và hiểu rõ "mộtcách có ý thức" rằng chúng ta nên làm, dựa trên cơ sở nhận thức lý tính, tri thức, giá trị, lôgíc

và các giác quan thông thường Ý thức cho phép chúng ta lựa chọn những gì chúng ta lĩnh hội,tập trung và kiêm soát được Ý thức giúp chúng ta ghi nhớ và cho phép chúng ta chỉ quan tâmđến những gì liên quan đến mình, loại trừ những thông tin không cần thiết Ý thức cũng giúpchúng ta biết dừng lại, phản ánh, suy ngẫm về bản thân và sử dụng những bài học trong quákhứ để cân nhắc những hồi đáp khác nữa, đánh giá và hình dung được hiệu quả của chúngtrong tương lai

Ở phần còn lại, vô thức ghi nhớ một cách vô thức tất cả những trải nghiệm của cuộc đời

chúng ta: những gì chúng ta đã từng nhìn thấy, cảm nhận hay những việc chúng ta đã lừng làm

- những điều tốt và xấu, những niềm vui và nỗi đau Tất cả đều được lưu trữ trong vô thức.Chúng ta cũng có thể tìm được trong ngân hàng ký ức khổng lồ này những niềm tin, quanđiểm và truyền thống văn hóa vủa mình

*Mối quan hệ giữa ý thức và vô thức

Ý thức và vô thức là hai lĩnh vực, hai hình thức, hai cấp độ phản ánh trong đời sống.Nhưng ý thức và vô thức có mối quan hệ chặt chẽ và phức tạp: vừa xung đột, kiềm chế, vừa bổsung, hỗ trợ, chuyển hóa cho nhau

- Ý thức kiểm duyệt, kiềm chế hành vi được thúc đẩy bởi cái vô thức

Có nghĩa là, trong mỗi hành vi của con người, nếu con người vẫn đang thực hiện khả năng

ý thức của mình thì con người có thể kiềm chế, kiểm duyệt hành vi được thúc đấy bởi cái vôthức

Chẳng hạn, ngồi trong lớp học nóng nực chúng ta muốn đi ra ngoài chơi cho thoải mái,nhưng nhờ ý thức được nghĩa vụ của bản thân và những hậu quả có thể xay ra nếu ta bỏ giờhọc mà chúng ta vẫn ngồi lại lớp Như vậy trong ví dụ này ta thấy vô thức khiến chúng tamuốn đi ra ngoài chơi cho thoải mái, nhưng ý thức giúp ta nhận thức được rằng hành vi củamình là không nên, có thể sẽ gây hậu quả xấu nên ta không đi nữa mà ngồi trong lớp

- Ý thức có thể giải tỏa, biểu hiện thông qua vô thức

Trong đời sống hằng ngày chúng ta thường nói: “có tật giật mình” Ở đây, “tật” dùng đểchỉ một điểm yêu, một thông tin bất lợi nào đó mà chủ thể muốn che giấu (tức là có thể ý thức)thế nhưng nó lại được bộc lộ thông qua “giật mình”- một phản ứng do vô thức điều khiển

Trong giao tiếp, những phản ứng cảm xúc biêu hiện qua ánh mắt, nét mặt, giọng nói, cử chỉ,

những lời nói bột phát tưởng như vô tình ở người đối thoại có thê ẩn chứa những thông tin mà

chúng ta quan tâm Trong khoa học điều tra hình sự, đây chính là cơ sở để các nhà điều tra xây

dựng những phương pháp, những thủ thuật xét hỏi trong trường hợp đối tượng khai báo khôngthành khẩn

Để hiểu rõ hơn về khía cạnh này, chúng ta có thể lấy ví dụ cụ thể trong đời sống: B là mộthọc sinh nghiện chơi điện tử Do một lần không có tiền để thỏa mãn ham muốn của mình, B

đã mở tủ lấy trộm tiền của bố mẹ và sử dụng hết Vì hành vi đó mà mỗi lần nghe bố mẹ hỏixem mình có còn tiêu vặt không (bố mẹ B vẫn chưa biết chuyện), B đã “thót tim” và trá lời ấpúng vì lo sợ bị bố mẹ phát hiện Trong ví dụ này, ta thấy mặc dù B đã luôn ý thức phải giấuchuyên mình ăn cắp, nhưng vẫn để lộ sự lo lắng bị phát hiện thông qua trạng thái “thót tim”,trả lời ấp úng chính là phản ứng cảm xúc do vô thức điều khiển

Trang 18

- Ý thức và vô thức có thể chuyên hỏa cho nhau

Một hiện tượng vốn lúc đầu nằm ở lĩnh vực vô thức nhưng dần dần có thể được chúng ta ý

thức Ngược lại, một hiện tượng vốn ban đầu được ý thức nhưng sau đó có thể chuyển sang

lĩnh vực vô thức Cũng do sự chuyển hóa từ ý thức sang vô thức mà chúng ta có thể quên đinhững chuyện buồn, những kí ức mà gợi lại sẽ gây cảm xúc khó chịu

Đơn giản có thể hiểu như sau: trẻ em tư duy chủ yếu bằng vô thức, lớn lên mới bổ sungdần dần ý thức Vô thức có từ khi lọt lòng mẹ hay có thể từ khi còn ở trong bụng mẹ Do vậycác bác sĩ thường khuyên các bà mẹ nghe nhạc cổ điển nhẹ nhàng, nhìn ngắm những bứctranh phong thủy vì thai nhi tiếp thu thông tin về thế giới qua ngưoi mẹ ngay từ khi đang ởtrong bụng mẹ, thông qua hoạt động vô thức của não Khi bắt đầu đi học, chúng ta học số đếm,

số nhân, sốchia… chẳng hạn như bảng cửu chương 2x2=4, 5x5=25 ý thức đã dần hình thànhtrong con người chúng ta và đã trở thành vô thức thông qua hoạt động học tập lặp đi lặp lại từnão Biểu hiện của sự chuyển hóa từ ý thức sang vô thức này là khi một ai đó hỏi ta 2x2 bằngbao nhiêu, nay 5x5 bằng bao nhiêu thì ta không cần phải nhớ lại hay không cần xem lại bảngcửu chương nữa mà ta có thể trả lời ngay 2x2=4 và 5x5=25 không cần đắn đo suy nghĩ nữa,không cần sự giảm của ý thức nữa

Việc học bảng cửu chương là 1 hành vi có ý thức và khi chuyển hóa sang vô thức đó là sự trả lời những gì mình đã học 1 cách tự nhiên mà không cần phải nhớ, tư duy lại Còn vô thức

có thể chuyên hóa thành ý thức không, ta hãyxét ví dụ sau: một đứa trẻ thích một món quà gì

đó và đòimẹ muacho bằng được bằng cách chỉ tay vào món quà đó và khóc nhưng nókhôngbiết được rằng vì sao nó lại thích, muốn món quà đó Nhưng khi lớn lên thì nó mới ýthức được nó cần vật đó khôngvà vì sao nó lại cần Như vậy hành động đòi mua quà của đứa

trẻ là hành vi đòi hỏi của đứa trẻ là vô thức bởi nó không thể ý thức được hành vi của mình.

Nhưng khi nó đã lớn lên thì nó đã ý thức đượcvấn đề, nó đã có sự đánh giá chọn lựa cho của

riêng nó đối với món quà đó Nó biết vì sao nó thích và nó có nên mua không, hành vi có ý

thức thể hiện sự đánh giá, chọn lựa của con người đối với đối tượng

Như vậy, giữa ý thức và vô thức không tồn tại một ranh giới rõràng Chúng không ngừnggiải tỏa, chuyển hóa lẫn nhau và có mối quan hệ chặt chẽ này chính là cơ chế giúp đời sốngtinh thần của chúng ta cân bằng, không căng thăng quá tải

2.3 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ TÍNH THỐNG NHẤT VẬT CHẤT CỦA THẾ GIỚI; LUẬN ĐIỂM CỦA LÊNIN VỀ Ý NGHĨA TUYỆT ĐỐI VÀ Ý NGHĨA TƯƠNG ĐỐI CỦA SỰ ĐỐI LẬP GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

2.3.1 Tính thống nhất vật chất của thế giới

*Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần là cái

có trước, quyết định vật chất; bản chất của thế giới là ý thức, tinh thần Các nhà duy tâm đãtruy tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới từ ý thức, tinh thần

*Quan điểm của tôn giáo: Chia thế giới thành ba bộ phận: thiên đường, địa ngục, trần

gian Các bộ phận của thế giới thống nhất ở chúa, thượng đế, những đấng sáng thế

*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác:Tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới từ

chính thế thế giới, nhưng có hạn chế cơ bản là quy vật chất về những dạng cụ thể giống nhau,thống nhất với nhau, cùng bị chi phối bởi một số quy luật nhất định Vì vậy không phản ánhđược tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực

Ví dụ: Đêmôcrit (nguyên tử), Talet (nước), Hêraclít (lửa)…

Hạn chế chung:các quan điểm trên đều là quan điểm duy tâm thần bí, hoặc siêu hình, thiếu cơ sở khoa học.

Trang 19

*Quan điểm của triết học Mác- Lênin

Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của khoa học, chủ nghĩa

duy vật biện chứng chứng minh rằng:Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

- Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chấttồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người; thế giới vật chất muôn hìnhmuôn vẻ, nhưng đều thống nhất ở tính vật chất (tính tồn tại khách quan của vật chất), nghĩa làthế giới có một thuộc tính chung duy nhất là tồn tại khách quan

- Hai là, mọi sự vật hiện tượng của thế giới vật chất đều có mối liên hệ vật chất với nhau,biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, dovật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giớivật chất

- Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không

bị mất đi Thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyểnhoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

*Những cơ sở khoa học và thực tiễn cho luận điểm trên

- Căn cứ vào những thành tựu của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng có cơ

sở khẳng định rằng: các sự vật hiện tượng đều có cùng bản chất vật chất, thế giới thống nhất ởtính vật chất và thông qua tính vật chất

+ Thiên văn học, quang phổ học, vũ trụ học đã khẳng định không hề có một thế giới siêu

tự nhiên nào ngoài thế giới vật chất

+ Hóa học hiện đại đã chứng minh thế giới hữu cơ không có bản chất thần bí, tách biệt vớithế giới vô cơ mà được cấu tạo từ những thành phần vô cơ, phát triển từ vô cơ Sự khác nhaugiữa chúng chỉ khác nhau ở trình độ và kết cấu

+ Thuyết tiến hóa của Đácuyn đã chứng tỏ rằng thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ là nhữngbậc thang tiến hóa của thế giới vật chất Bác bỏ quan niệm thế giới vật chất là sự sáng tạo củamột lực lượng siêu nhiên

+ Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, kết hợp với những thành tựu của thiênvăn học cơ học lượng tử đã chứng tỏ rằng thế giới thống nhất ở tính vật chất Không có sựvật hiện tượng nào là hư vô mà chỉ có các sự vật hiện tượng vật chất, có nguồn gốc vật chất.+ Xã hội loài người suy cho cùng là một cấp độ đặc biệt của tổ chức vật chất và là cấu tạocao nhất của cấu tạo vật chất Hoạt động có ý thức của con người không làm mất đi tính kháchquan của đời sống xã hội và các quan hệ xã hội

Như vậy, thế giới bao gồm cả tự nhiên, xã hội về bản chất là vật chất, thế giới thống nhất ở

tính vật chất Ăngghen viết: “ Tính thống nhất thực sự của thế giới là tính vật chất của nó và tính chất này đã được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo, làm trò ảo thuật,

mà bằng một sự phát triển lâu dài và kho khăn của triết học và khoa học tự nhiên”

- Căn cứ vào đời sống thực tiễn của con người: con người không thể sáng tạo ra vật chấtbằng ý thức, mà chỉ có thể cải biến thế giới vật chất theo những quy luật vốn có của nó

Tóm lại, thế giới về bản chất là vật chất, thống nhất ở tính vật chất Thế giới vật chất cónguyên nhân tự nó, vĩnh hằng và vô tận

*Ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng:

- Cần khẳng định nguyên tắc về một thế giới có thể nhận thức được (quan điểm duy vậttriệt để); chống hoài nghi, bi quan, định mệnh và thái độ thụ động, tiêu cực trước hiện thực

- Tuân thủ nguyên tắc khách quan Trong nhận thức và cải tạo thế giới phải xuất phát từhiện thực khách quan, tôn trọng và vận dụng đúng quy luật khách quan Chống quan điểm chủquan duy ý chí

Trang 20

Vận dụng quan điểm này, trên cơ sở khái quát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam trongnhững năm cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI của Đảng rút ra bốn bài học kinh nghiệm chủ yếu, trong đó bài học thứ tư là: Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

Đánh giá thành tựu sau 20 năm đổi mới, Đại hội X của Đảng đã rút ra 5 bài học kinh

nghiệm, trong đó bài học thứ ba là: “Đổi mới phải vì lợi ích nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới.”

Đại hội XI khẳng định: “Phát huy và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực tri thức của conngười Việt Nam và khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại”

2.3.2.Luận điểm của lênin về ý nghĩa tuyệt đối và ý nghĩa tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức (tự n/c)

có mất đi để chuyển hóa thành cái khác), vừa có tính thuộc tính (thuộc tính tồn tại khách quan,

có trước, độc lập, bên ngoài ý thức) vừa có tính thực thể (tồn tại dưới dạng các SVHT cụ thể)

- Ý thức chẳng qua chỉ là một thuộc tính của vật chất – thuộc tính phản ánh, thuộc tínhphản ánh phát triển ở trình độ cao nhất là ý thức Ý thức chỉ có ở con người là kết quả của sựtác động qua lại giữa thế giới khách quan vào bộ óc người (một dạng vật chất đặc biệt), của laođộng và ngôn ngữ, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh hiện thựckhách quan vào bộ óc người 1 cách năng động, sáng tạo, có mục đích

* Tính tương đối: Thể hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa chúng có mối

quan hệ biện chứng luôn thống nhất với nhau: Vật chất là cái có trước và quyết định ý thức, ýthức là cái có sau, phụ thuộc vật chất song ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lạivật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người ( trình bày mqh này)

2.4 QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC; QUAN HỆ KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN

2.4.1 Quan hệ vật chất và ý thức

Vật chất và ý thức là 2 phạm trù rộng lớn nhất, có quan hệ biện chứng với nhau Tuy nhiênmỗi phạm trù có vị trí vai trò không ngang bằng nhau Xung quanh vấn đề này, trong lịch sửtriết học luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm.Việc nắm vững 2 phạm trù này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa chỉ đạohoạt động thực tiễn, nhất là trong giải quyết vấn đề thực tiễn khách quan - chủ quan trong lĩnhvực quân sự

a Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Cho rằng ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính

thứ hai; ý thức (linh hồn, ý niệm) nảy sinh và quyết định vật chất.Họ tuyệt đối hóa vai trò ýthức; cho rằng ý thức là sáng tạo ra tất cả

- Platôn: có hai thế giới, thế giới các sự vật cảm biết (vật chất) và thế giới ý niệm Thế giới

ý niệm có trước và sinh ra thế giới các sự vật cảm biết

- Hêghen: khởi nguyên của thế giới là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”, mọi sựvật hiện tượng trong thế giới vật chất đều là sự “tha hoá” của “ý niệm tuyệt đối”, do “ý niệmtuyệt đối” sinh ra

Trang 21

- Béccơli nhà triết học duy tâm chủ quan cho rằng “cảm giác” là tính thứ nhất, có trước vàquyết định vật chất; vật chất là tính thứ hai, là “phức hợp của cảm giác”.

b Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình:

Khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ 2 Tuy nhiên họ lại không thấyđược sự tác động trở lại của đối với vật chất (tuyệt đối hóa vai trò của vật chất, hạ thấp vai tròtích cực của ý thức đối với vật chất)

- Đêmôcrít: Ý thức ( linh hồn) cũng do nguyên tử tạo nên

- Phogơtô: Óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật

- Phoiơbắc: Khẳng định tính khách quan của vật chất của giới tự nhiên, ý thức là thuộc tínhcủa một dạng vật chất có tổ chức cao là óc người, là sự phản ánh của thế giới khách quan.Song ông chưa thấy vai trò của ý thức với vật chất, với giới tự nhiên

=> Như vậy, cả chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước Mác đều chưa thấy đượcmối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của ý thức (tinhthần), hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của vật chất Xét về mặt thế giới quan họ hoặc là duy tâmhoặc là duy vật siêu hình Xét về mặt phương pháp luận sẽ dẫn đến sai lầm rơi vào chủ quanduy ý chí, bất chấp quy luật khách quan, hoặc là thụ động ngồi chờ, ỷ lại

c Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất và ý thức

Xuất phát từ thế giới quan, phương pháp luận biện chứng, triết học Mác - Lênin đã khắcphục triệt để những sai lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình, đưa

ra quan điểm hết sức đúng đắn về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Vật chất và ý thức là hai hiện tượngkhác nhau về bản chất, nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó vật chất cótrước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức; ý thức có tính độc lập tương đối có tác động tolớn trở lại vật chất

*Khái niệm vật chất và ý thức

*Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức

-Vật chất quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức: Vật chất là cái vốn có, tồn tại khách

quan độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Nhờ quá trình vận động tiến hóa trongthế giới vật chất đã sinh ra bộ não người-cơ quan vật chất của ý thức Não người là 1 dạng vậtchất có kết cấu đặc biệt, là cơ quan phản ánh để hình thành nên ý thức, ý thức tồn tại phụ thuộcvào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan

-Vật chất quyết định nội dung của ý thức:Bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới

khách quan vào não người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Do vậy, nội dungcủa vật chất như thế nào thì ý thức phản ánh như thế

-Vật chất quyết định sự vận động biến đổi của ý thức: Thế giới vật chất luôn vận động và

biến đổi không ngừng, mà ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, do đó khi thế giới vật chấtluôn vận động và biến đổi thì ý thức cũng vận động và biến đổi theo

*Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất

-Bản chất sự phản ánh của ý thức mang tính sáng tạo tích cực Nó có thể tác động trở lại

vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, cải tạo biến đổi hiện thực khách quan

-Chiều hướng tác động:Ý thức có thể tác động trở lại vật chất theo 2 chiều hướng, nó có

thể thúc đẩy hoặc kìm hãm 1 mức độ nhất định các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thếgiới khách quan Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạtđộng thực tiễn của con người trong cải tạo thế giới và ngược lại, ý thức sẽ kìm hãm hoạt độngcải tạo của con người

-Mức độ tác động của ý thức: Phụ thuộc vào trình độ, nội dung ý thức mà chủ thể phản

ánh về thế giới vật chất, mức độ thâm nhập của ý thức vào lực lượng vật chất và việc ý thứcchỉ đạo hoạt động thực tiễn (việc nắm bắt quy luậtkhách quan, xác định mục tiêu, phươnghướng, nội dung, biện pháp và ý chí, quyết tâm thực hiện mục tiêu đó)

Trang 22

-Vai trò sáng tạo, tích cực của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới hiện thực,

phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa vào sự phản ánh thế giới vật chất và cácđiều kiện vật chất khách quan

*Ý nghĩa phương pháp luận

- Khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất - ý thức, đồng thời là

cơ sở khoa học để đấu tranh phê phán các quan điểm duy tâm sai lầm phản khoa học

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tôn trọng khách quan, xuất phát từ thực tếkhách quan không được chủ quan nôn nóng, duy ý chí, đồng thời phải phát huy nỗ lực chủquan, không chông chờ ỷ nại

- Ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt độngthực tiễn của con người, vì vậy phải thấy được vai trò tích cực của nhân tố ý thức trong việc sửdụng có hiệu quả các điều kiện vật chất hiện có Phải phát huy tính năng động chủ quan của ýthức con người

- Tránh tuyệt đối hóa vai trò duy nhất của vật chất trong quan hệ giữa vật chất và ý thức(chống thái độ trông chờ, thụ động…); chống tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, đánh giá khôngđúng vai trò của các điều kiện vật chất trong hoạt động thực tiễn…

- Là cơ sở khoa học để giải quyết mối quan hệ giữa khách quan-chủ quan

2.4.2.Quan hệ khách quan và chủ quan

Vấn đề trung tâm, cốt lõi suy đến cùng phản ánh sự khác nhau và đối lập về nguyên tắcgiữa triết học Mác -Lênin và các trường phái triết học khác trong việc giải quyết vấn đề cơ bảncủa triết học là ở việc làm rõ, luận giải mối quan hệkhách quan và chủ quan trong thực tiễnsinh động của con người Trong lĩnh vực quân sự, việc quán triệt và vận dụng sáng tạo quanđiểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ khách quan-chủ quan trên đây luôn có ý nghĩarất quan trọng Nó giúp cho các chủ thể, một mặt tránh được chủ nghĩa chủ quan, mặt khácbiết cách phát huy tính năng động chủ quan trong lĩnh vực đặc biệt này của thực tiễn

- Khách quan: là phạm trù dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại độc lập không lệ thuộc vào ý

thức của chủ thể, hợp thành 1 hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên và trực tiếp quy định mọihoạt động của chủ thể

Nói đến khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc

vào chủ thể hoạt động Theo đó, khách quan bao gồm: điều kiện khách quan, khả năng khách quan, quy luậtkhách quan Tuy nhiên, không phải mọi điều kiện, khả năng, và quy luật khách quan bất kỳ, mà chỉ có những điều kiện, khả năng và quy luật khách quanhợp thành 1 hoàn cảnh hiện thực thường xuyên tác động đến mọi hoạt động của 1 chủ thể xác định.

- Chủ quan: là tất cả những yếu tố hợp thành những phẩm chất, năng lực nhận thức trong

hoạt động thực tiễn của chủ thể tạo nên tính năng động, sáng tạo chủ thể trong nhận thức và cảitạo hiện thực khách quan

Thuộc về chủ quan, trước hết bao gồm tất cả những gì cấu thành và phản ánh trình độ pháttriển về phẩm chất và năng lực của chủ thể nhất định Đó là phẩm chất tư duy, trình độ hiểubiết, tình cảm, ý chí, nguyện vọng và thể chất của chủ thể

=> Như vậy, 2 phạm trù khách quan và chủ quan không đồng nhất với 2 phạm trù vật chất

và ý thức Bởi vì, 2 phạm trù vật chất và ý thức dùng để khái quát bản chất và mối quan hệ giữa 2 hiện tượng chung nhất của thế giới, từ đó để xác định 1 thế giới quan nhất định - duy vật hoặc duy tâm Trong khi đó, phạm trù khách quan và chủ quan dùng để khái quát bản chất mối quan hệ giữa thế giới bên ngoài hiện thực với sức mạnh bên trong của 1 chủ thể nhất định

trong toàn bộ hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới đó

Khách quan không đồng nghĩa với vật chất: trong hoạt động của con người phạm vi kháchquan có thể xác định được Trong khách quan, không chỉ có hiện tượng vật chất mà còn cóhiện tượng tinh thần, những hiện tượng đó không lệ thuộc vào ý thức

Trang 23

Chủ quan không đồng nhất với ý thức: chủ quan không chỉ là trạng thái bên trong chủ thể

mà còn là năng lực tổ chức thực tiễn của chủ thể

*Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan - chủ quan

Khách quan và chủ quan là hai mặt, 2 yếu tố không thể tách rời nhau trong mọi hoạt độngcủa mỗi chủ thể, giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau nhau nhưng có vai trò khônggiống nhau Trong đó khách quan là tính thứ nhất quyết định chủ quan, chủ quan là tính thứhai tác động trở lại khách quan

Khách quan là tính thứ nhất, là cơ sở, tiền đề, xuất phát điểm, là cái giữ vai trò quyết định suy đến cùng đối với chủ quan

- Vì vật chất quyết định ý thức nên trong thực tiễn khách quan quyết định chủ quan, cụ thể:

+ Mọi hoạt động của con người chỉ là sự phản ánh và thực hiện những nhu cầu đã chínmuồi của đời sống xã hội

Ví dụ: Lao động sản xuất làm ra của cải vật chất

+ Những nhiệm vụ mà con người phải giải quyết đều do lịch sử đề ra và quy định nộidung, biện pháp giải quyết nó

+ Hoạt động chủ yếu của con người là phát hiện và vận dụng những quy luật khách quan

để tạo ra những điều kiện và hoàn cảnh cần thiết cho đời sống xã hội

- Biểu hiện sự quyết định

+ Quyết định sự ra đời của cái chủ quan: Tức là quyết định sự nảy sinh ý định của chủ thể

Ví dụ: Căn cứ vào tình hình địch - ta, điều kiện thời tiết, khí hâu, địa hình… mà người chỉhuy đề ra phương án tác chiến tối ưu để đánh thắng kẻ thù

+ Quyết định nội dung của chủ quan Tức là quyết định mục đích, kế hoạch, phương pháp,biện pháp cải tạo khách quan

Ví dụ: Căn cứ vào đối tượng cụ thể để người chính trị viên đề ra mục đích, yêu cầu, nội dung,phương pháp tiến hành giáo dục chính chị cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị một cách có hiệu quả.+ Quyết định phạm vi, giới hạn thành công của chủ quan: Tức là phạm vi, giới hạn thànhcông của chủ quan phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, khả năng khách quan và phụ thuộcvào khách thể

+ Quyết định sự biến đổi của chủ quan: Tức là chủquan phải biến đổi phù hợp với sự biếnđổi, phát triển của khách quan

Ví dụ: Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược từ “đánh nhanh thắng nhanh”sang “đánh chắcthắng chắc” trong chiến dịch Điện Biên phủ của quân ta

Chủ quan không hoàn toàn thụ động mà có vai trò to lớn trong việc biến đổi, cải tạo cái khách quan thông qua hoạt động thực tiễn

- Biểu hiện và vai trò cái chủ quan

+ Con người có thể tác động vào điều kiện khách quan, tạo ra những điều kiện khách quan

có lợi phục vụ cho hoạt động của mình

Ví dụ: Đắp đê, quai sông lấn biển, trồng rừng…

+ Trên cơ sở nhận thức quy luật khách quan và những điều kiện hoạt động của nó, conngười có thể điều chỉnh sự tác động của quy luật khách quan theo mục đích của mình

Trang 24

Ví dụ: Trong thời kỳ chống Mỹ xâm lược, mặc dù trình độ lực lượng sản xuất của ta cònthấp, nhưng chúng ta vẫn phải tổ chức sản xuất tập thể để tập trung sức người, sức của cho sựnghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

*Ý nghĩa phương pháp luận

Việc nghiên cứu mối quan hệkhách quan - chủ quan theo lập trường của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng có ý nghĩa chỉ đạo rất sâu sắc đối với hoạt động của chúng ta

- Trong mọi trường hợp khách quan luôn là nhân tố giữ vai trò quy định suy đến cùng, nên

trong nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng khách quan - nghĩa là phải luôn xuất phát

từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động, phải tôn trọng vàhành động theo quy luậtkhách quan

Đồng thời kiên quyết khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí - lấy ý chí chủ quan áp đặt chothực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực

- Do vai trò chủ động của nhân tố chủ quan nên trong nhận thức và thực tiễn phải trên cơ

sở tôn trọng khách quan mà phát huy cao độ tính năng động chủ quan - nghĩa là trên cơ sở cái

khách quan đã được nhận thức mà phát huy cao nhất mọi phẩm chất và năng lực của chủ thểvào việc nghiên cứu, phát hiện,lựa chọn ra con đường, những biện pháp,hình thức, bước đi,những công cụ, phương tiện phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động

Đồng thời phê phán, đấu tranh khắc phục tư tưởng thụ động, ỷ lại, bó tay, phó mặc trướckhó khăn của hiện thực cuộc sống

- Nắm vững quan điểm của triết học Mác -Lênin về mối quan hệkhách quan - chủ quancho phép chúng ta khẳng định: trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nghiêmtúc vận dụng mối quan hệ này vào việc xác định đường lối, mục tiêu, phương hướng vàphương pháp cách mạng

Ví dụ: Đại hội VI của Đảng, với tư tưởng nhìn thẳng vào sự thật (nhận thức giản đơn vềnhững qui luật khách quan của chủ nghĩa xã hội) và bài học “lấy dân làm gốc”

ĐHội VII với nhận định “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm QL khách quan”.Đại hội VIII với chủ trương “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho

sự phát triển nhanh và bền vững”, vừa “cần tránh sai lầm chủ quan nóng vội trong công nghiệphoá, hiện đại hoá”, vừa phải biết “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường,phát huy tài trí của người Việt Nam

Đại hội IX với bài học đổi mới “phải dựa vào dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp vớithực tiễn và luôn luôn sáng tạo”

Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồngthời là chủ thể phát triển”

- Khách quan trong quân sự là tổng thể tình hình, khả năng và các quy luật chuẩn bị và

tiến hành chiến tranh Đây là những yếu tố quan trọng mà cán bộ và chiến sĩ lấy làm điểm xuấtphát cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình

- Chủ quan trong quân sự là tổng hợp những phẩm chất chính trị tinh thần, đạo đức, tri

thức, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của chủ thể quân sựphản ánh quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh

- Mối quan hệ khách quan-chủ quan trong hoạt động quân sự

Trang 25

Trên cơ sở khách quan-chủ quan trong hoạt động thực tiễn, vận dụng trong lĩnh vực quân

sự khẳng định: khách quan-chủ quan trong hoạt động quân sự có mối quan hệ biện chứng vớinhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó khách quanquân sự quyết định chủ quanquân sự, chủquanquân sự tác động trở lại khách quan

- Khi vận dụng cần chú ý:

+ Nhận thức rõ hoạt động quân sự là hoạt động đặc biệt khác với các lĩnh vực khác Tronghoạt động quân sự diễn biến nhanh chóng, phức tạp thường xuyên, liên tục, vai trò của nhân tốchủ quan ở đây là vô cùng to lớn Do vậy, yêu cầu giải quyết mối quan hệkhách quan-chủquan trong lĩnh vực quân sự phải nhanh chóng, chính xác, kịp thời và đồng bộ (bởi hoạt độngquân sự diễn ra trong điều kiện vô cùng nguy hiểm, từng phút từng giây sinh mạng của cácchủ thể luôn bị đe dọa, nó lại diễn ra trong một không gian rộng lớn, với sự tham gia của nhiềuyếu tố, nhiều lực lượng phương tiện…và sự chuyển hóa giữa thắng và bại, mất và còn, ưu thế

a Khái niệm phép biện chứng

* K/n: Phép biện chứng là phương pháp xem xét đánh giá sự vật hiện tượng trong mối

liên hệ qua lại, trong sự ràng buộc, trong sự vận động và phát triển của chúng.

* Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

- Phép biện chứng tự phát thời cổ đại.

Đó là phép biện chứng dựa trên sự cảm thụ trực tiếp thế giới vật chất xung quanh.Những kết luận mà nó rút ra mới chỉ là những tư tưởng mộc mạc, thô sơ, rời rạc, chưa trởthành hệ thống và cũng chưa có cơ sở khoa học chắc chắn

Đại biểu tiêu biểu đó là Hêraclít ông cho rằng: Thế giới là sự thống nhất của các mặt đối

lập, thế giới luôn vận động biến đổi không ngừng

Với câu nói nổi tiếng: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”

- Phép biện chứng duy tâm

PBC duy tâm cho rằng: thế giới vật chất do lực lượng siêu nhiên, đấng tối cao, do ý niệm,

ý niệm tuyệt đối sinh ra và quyết định sự vận động biến đổi của thế giới

Đại biểu tiêu biểu của phép biện chứng duy tâm là Hê-ghen Ông đã là người đầu tiênxây dựng phép biện chứng thành một hệ thống Tuy nhiên phép biện chứng của Hê – Ghen làphép biện chứng duy tâm

Trang 26

Hạn chế: Phép biện chứng duy tâm không xuất phát từ thế giới hiện thực mà từ thế giớitinh thần nên phép biện chứng này là duy tâm.

- Phép biện chứng duy vật của Mác –Ăng ghen

“Phép biện chứng duy vật là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động

và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”

Định nghĩa này được hiểu trên các nội dung sau:

+ Phép biện chứng duy vật là một khoa học:

Trong phép biện chứng duy vật, thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng thốngnhất hữu cơ với nhau, vì vậy nó khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng tự phátthời cổ đại và phép biện chứng duy tâm Phép biện chứng trở thành PBCDV và CNDV trởthành CNDVBC và là một khoa học, một triết học cách mạng nhất, hoàn bị nhất

+ Phép biện chứng duy vật xác định được đối tượng nghiên cứu của nó.

Đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật là những quy luật phổ biến của sựvận động và phát triển của tự nhiên xã hội và tư duy

+Kết cấu của phép biện chứng duy vật.

PBCDV được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm: 2 nguyên lý, 3 quy luật cơ bản; 6cặp phạm trù cơ bản

b Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

Khi giải quyết vấn đề tồn tại của thế giới như thế nào, có vận động và phát triển haykhông đã nảy sinh hai phương pháp đối lập nhau: Phương pháp Biện chứng và Phương phápsiêu hình

- Phương pháp siêu hình cho rằng sự vật hiện tượng tồn tại ở trạng thái tĩnh; cô lập tách rời, không có sự liên hệ, không có sự vận động và phát triển VD: Thầy bói xem voi

- Phương pháp biện chứng khẳng định: Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn vận động biến đổi và phát triển, giữa chúng luôn có mối liên hệ tác động và ảnh hưởng lẫn nhau.

Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp tư duy cứng nhắc; phương pháp biệnchứng là phương pháp tư duy mềm dẻo, linh hoạt

c Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

- Biện chứng khách quan: Là biện chứng của sự vật, hiện tượng khách quan mang tính chất tự thân, vốn có của SVHT, theo các quy luật khách quan

- Biện chứng chủ quan: Là biện chứng gắn với các chủ thể đó là con người

3.2 NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN, Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

3.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứngduy vật, nguyên lý này cho ta một bức tranh toàn cảnh về thế giới vật chất, thế giới vật chấtmuôn hình muôn vẻ, rất đa dạng và phong phú nhưng chúng luôn liên hệ ràng buộc tác độngqua lại lẫn nhau Nắm vững nguyên lý này là cơ sở trực tiếp xác định quan điểm toàn diện, lịch

sử, cụ thể trong nhận thức và hành động thực tiễn, cải tạo hiện thực khách quan.Theo Ănghen

“phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”.

Thế giới các sự vật hiện tượng muôn hình, muôn vẻ, rất đa dạng và phong phú, giữa chúngluôn liên hệ với nhau hay cô lập tách rời Trả lời cho câu hỏi trên có nhiều quan điểm khácnhau

a Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm:Thừa nhận sự liên hệ tác động qua lại giữa các sự

vật hiện tượng và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng song hiểu cơ sở của sự liên hệ, tác động

Trang 27

qua lại và sự vận động, chuyển hoá của các mối liên hệ là do các lực lượng siêu nhiên hay ở ýthức, cảm giác của con người.

- Hêghen: cho ý niệm tuyệt đối là cơ sở của mối liên hệ giữa các

- Béccơli: cảm giác của con người là cơ sở của mọi sự vật hiện tượng

b Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình:

Nhìn chung, quan điểm siêu hình phủ nhận sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, có chăngthì cũng chỉ là những mối liên hệ bề ngoài, ngẫu nhiên Tuy cũng có người thừa nhận sự liên

hệ và tính đa dạng của nó, nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hìnhthức liên hệ khác nhau

Tức là các sự vật, hiện tượng tồn tại tách rời nhau hết cái này đến cái kia, cái này bên cạnhcái kia, giữa chúng không có sự liên hệ hoặc có chăng cũng chỉ là liên hệ bề ngoài, ngẫu nhiên

và không có sự chuyển hoá lẫn nhau của các hình thức liên hệ

Ví dụ: giới vô cơ và giới hữu cơ không có liên hệ gì với nhau, tồn tại độc lập, không liên

hệ với nhau Xã hội chỉ là sự cộng lại của những con người đơn lẻ, Quan điểm này đã khôngthể đứng vững trước sự phát triển của khoa học tự nhiên.(Thuyết tế bào)

c Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:

Xem xét sự vật hiện tượng trong sự liên hệ ràng buộc tác động qua lại lẫn nhau, quy định,chuyển hoá lẫn nhau

*Nội dung của nguyên lý:Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều tồn tại trong 1 chỉnh thể

thống nhất, thông qua các mối liên hệ và quan hệ chằng chịt giữa chúng với nhau, rằng buộc

và tác động lẫn nhau Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại 1 cách cô lập, tách rời với các sựvật hiện tượng khác

- Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ phổ biến nhất của hiện thựckhách quan, quy định sự tồn tại và phát triển của các sự vật hiện tượng; không đi vào nghiêncứu các liên hệ phổ, quan hệ cụ thể như các khoa học khác Đó là liên hệ phổ giữa các mặt đốilập, lượng-chất, chung-riêng…mà các quy luật, các cặp phạm trù của phép biện chứng đã phảnánh

* Liên hệ là gì? Liên hệ là 1 phạm trù triết học chỉ nương tựa, phụ thuộc, rằng buộc, tác động

qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề cho nhau và quy định lẫn nhau của các sự vật hiện tượng

- Sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào, những đặc điểm và đặc trưng cùng sự phát triểncủa nó tùy thuộc vào toàn bộ sự liên hệ, quan hệ của nó đối với các sự vật hiện tượng khác

- Sự vật hiện tượng thay đổi thì sự liên hệ, quan hệ của chúng cũng thay đổi và việc thayđổi hoàn toàn những mối liên hệ, quan hệ mà trong đó sự vật hiện tượng đang tồn tại có thểdẫn đến sự thay đổi hoàn toàn sự vật hiện tượng ấy

- Liên hệ, nó là vốn có của sự vật hiện tượng nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quancủa con người, không có sự vật hiện tượng nào đứng cô lập tách rời không có mối liên hệ, mốiliên hệ đó xuất phát từ cấu trúc bên trong của sự vật hiện tượng, từ tính thống nhất của thế giớivật chất Sự vật chỉ tồn tại khi nó có mối liên hệ

Ví dụ: Động thực vật phải liên hệ với môi trường sống…

*Tính chất của sự liên hệ:

Một mối liên hệ cụ thể có thể mất đi, nhưng sự liên hệ nói chung của thế giới thì không thểmất đi Do đó, liên hệ vừa mang tính khách quan, vừa mang tính phổ biến, tồn tại cả trong tựnhiên, xã hội và tư duy

Ngày đăng: 11/12/2022, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w