Thế giới khách quan luôn luôn vận động và phát triển đòi hỏi những lý luận về nhận thức và thực tiễn cũng cần phải linh hoạt thay đổi theo cho phù hợp, làm động lực để phát triển đất nướ
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
TÊN ĐỀ TÀI: Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn, vận dụng phân tích mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn
con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Họ và tên sinh viên
Mã số sinh viên
Lớp, hệ đào tạo
: Trần Thảo Quy : 030337210198 : MLM306_211_D24
CHẤM ĐIỂM
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn 1
1.1 Khái niệm về nhận thức và thực tiễn 1
a Thực tiễn 1
b Nhận thức 2
1.2 Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn 3
a Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 3
b Tác động của nhận thức đối với thực tiễn 4
2 Thực trạng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn trên con đường quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 5
a Từ thực tiễn để nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 5
b Từ nhận thức đến thực tiễn trong con đường đi lên chủ nghĩa xã hội 7
3 Giải pháp 8
4 Kết luận 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 2
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 6Ngày nay, với sự phát triển toàn cầu của nhân loại, Việt Nam ta cũng đang ngày một phát triển với những bước đi vô cùng vững chắc, đạt được những thành tựu to lớn, vai trò và vị thế của đất nước luôn được củng cố và ngày càng nâng cao trên trường quốc tế Để đạt được chúng, đòi hỏi chúng ta phải có được nhận thức thực sự đúng đắn
về chính đất nước mình, về điều kiện lịch sử, những nguồn lực tiềm năng mà Việt Nam đang nắm giữ ở mỗi giai đoạn, đồng thời cũng phải có những chính sách, đường lối phù hợp, đúng đắn được vận dụng vào thực tiễn nhằm khai thác một cách hiệu quả nhất những nguồn lực đó Vấn đề về nhận thức và thực tiễn đó được thể hiện rõ hơn bao giờ hết ở thời kỳ đất nước ta lựa chọn quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa mà sắp tới đây sẽ được đưa ra để bàn luận Thế giới khách quan luôn luôn vận động và phát triển đòi hỏi những lý luận về nhận thức và thực tiễn cũng cần phải linh hoạt thay đổi theo cho phù hợp, làm động lực để phát triển đất nước về mọi mặt, đạt được những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ cụ thể, xây dựng một Việt Nam thực sự dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh Vậy thì ở thời kỳ đổi mới này, lúc khoa học, kỹ thuật và công nghệ đang phát triển cực kỳ mạnh mẽ, chúng ta phải làm gì để có thể nhận thức đúng đắn đồng thời vận dụng chúng vào thực tiễn để Việt Nam có thể bắt kịp thế giới mà không bị tụt hậu
về phía sau Đầu tiên và trên hết chúng ta phải làm rõ được vấn đề lớn chính là mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn
1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn
1 1 Khái niệm về nhận thức và thực tiễn
a Thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ. 1
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, thực tiễn có những đặc trưng sau:
Là hoạt động vật chất – cảm tính: tức là những hoạt động con người dùng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên nhằm biến đổi chúng; là những hoạt động mà con người có thể cảm giác được, có thể quan sát một cách trực quan được
Thực tiễn diễn ra trong xã hội, trải qua những giai đoạn khác nhau cụ thể, công cụ sản xuất và cách thức sản xuất cũng thay đổi và không giống nhau, trong hoạt động thực tiễn những kinh nghiệm được con người truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính vì thế mà thực tiễn mang tính lịch sử – xã hội
Giáo trình Triết học Mác – Lênin (2019), NXB Hà Nội, tr.143
Trang 7Bên cạnh đó, thực tiễn còn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên để phục
vụ con người, con người thông qua hoạt động thực tiễn, chủ động tác động đến tự nhiên, xã hội và cải tạo thế giới một cách tích cực nhằm đáp ứng, phục vụ và thỏa mãn nhu cầu của chính mình
Qua đó ta có thể thấy, hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản, phổ biến của con người, là phương thức cơ bản để con người quan hệ với thế giới Thực tiễn tồn tại dưới ba hình thức cơ bản bao gồm:
Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức xuất hiện sớm nhất và cơ bản nhất, là hoạt động con người dùng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để biến đổi chúng tạo
ra của cải vật chất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động thực tiễn thể hiện sự kết hợp giữa trí óc và các hoạt động xã hội nhằm biến đổi, cải tạo và phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội… tạo ra môi trường dân chủ, văn minh, tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển
Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn, con người chủ động tạo ra những điều kiện không có sẵn trong tự nhiên để tiến hành thực nghiệm khoa học theo mục đích đã đặt ra, từ đó áp dụng những thành tựu khoa học này vào sản xuất vật chất, chính trị – xã hội Ngày nay, khi khoa học công nghệ
đã và đang phát triển một cách mạnh mẽ thì hoạt động thực tiễn này cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng
Các hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, mỗi hoạt động đều giữ chức năng và vai trò riêng biệt Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hai hình thức kia và hai hình thức còn lại thì có ảnh hưởng ngược lại tới sản xuất vật chất
b Nhận thức
Nhận thức là quá trình phản ảnh biện chứng hiện thực khách quan vào bộ óc của con người một cách tích cực, năng động, sáng tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn C Mác
và Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết duy vật biện chứng về nhận thức, dựa trên các nguyên tắc cơ bản bao gồm:
Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan bên ngoài, độc lập với ý thức của con người
Trang 8Thừa nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan, công nhận không có gì mà con người không thể nhận thức được mà đó chỉ là cái con người chưa nhận thức được
Nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo, có vận động và phát triển, có bổ sung, hoàn thiện đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều,
từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn Trong quá trình nhận thức luôn nảy sinh quan
hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận, giữa nhận thức thông thường và nhận thức khoa học. 2
Luôn lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức, là cơ sở
để kiểm tra chân lý
1.2 Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn
a Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là khởi nguồn xuất phát của nhận thức, thực tiễn luôn đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ cho nhận thức
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức:
Thực tiễn cung cấp những dữ liệu, tài nguyên cho nhận thức của con người, thông qua đó con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho các sự vật hiện tượng bộc lộ ra những thuộc tính, đặc điểm của mình từ đó con người chủ động xây dựng nhận thức cho mình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính
Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển cho nhận thức, thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học Bằng thực tiễn, con người có thể nhận thức được thế giới ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn, rèn luyện các giác quan ngày càng phát triển và hoàn thiện, đồng thời nâng cao năng lực tư duy và trí tuệ của con người Bên cạnh đó hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo ra các loại máy móc, phương tiện để hỗ trợ con người giúp quá trình nhận thức được mở rộng và chính xác hơn như kính hiển vi, máy tính… 3
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Nhận thức của con người từ ban đầu đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn, thực tiễn luôn đặt ra vấn đề và đòi hỏi con người phải
2 Giáo trình Triết học Mác – Lênin (2019), NXB Hà Nội, tr.142
Giáo trình Triết học Mác – Lênin (2019), NXB Hà Nội, tr.146
Trang 9nhận thức và đồng thời áp dụng chúng vào trong thực tiễn, nhằm cải tạo, phục vụ và soi đường cho thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động thực tiễn Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý: Tri thức mà con người có được là kết quả của quá trình nhận thức, tuy nhiên vẫn chưa thể xác định độ chính xác của nhận thức đó Nhận thức luôn xuất phát từ thực tiễn nên việc kiểm tra tính đúng đắn của
nó nhất định buộc phải quay trở lại dựa vào thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo, tiêu chuẩn để kiểm tra Chỉ thực tiễn mới có khả năng vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa các tư tưởng qua đó khẳng định được chân lý hoặc phủ định sai lầm. 4
b Tác động của nhận thức đối với thực tiễn
Mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, các hoạt động thực tiễn làm tiền đề, cơ sở cho nhận thức và nhận thức cũng sẽ tác động ngược trở lại thực tiễn Dựa vào thực tiễn, nhận thức tìm ra được bản chất, quy luật của các sự vật hiện tượng, phản ánh rõ ràng các hoạt động thực tiễn trong thế giới khách quan, để từ nhận thức đã có được ta quay trở lại thực tiễn để kiểm tra tính đúng đắn nhằm sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp Lý luận nhận thức sẽ tác động đến thực tiễn theo hai hướng như sau:
Tích cực: nếu lý luận hay tri thức đúng đắn, phù hợp với thực tiễn thì nó sẽ trở thành kim chỉ nam vạch ra đường lối cho thực tiễn, thúc đẩy, điều chỉnh, tạo điều kiện để thực tiễn phát triển và đạt được hiệu quả trong quá trình hoạt động
Tiêu cực: nếu tri thức không đúng đắn, không phù hợp với thực tiễn thì nó sẽ khiến quá trình hoạt động thực tiễn trở nên trì trệ, không hiệu quả, mất phương hướng phát triển và thậm chí dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề
Qua đó làm rõ được nhận thức và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Thực tiễn luôn có xu hướng vận động và phát triển, luôn đề ra những vấn đề, yêu cầu mới cấp thiết đòi hỏi nhận thức cũng phải vận động để tìm ra tri thức, chân lý phù hợp Thực tiễn làm nền tảng, cơ sở cho quá trình nhận thức, giúp con người nhận thức được thế giới, qua đó nâng cao khả năng nhận thức của con người Nhận thức phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích để nhận thức và sau đó quay trở lại chính thực tiễn để kiểm tra tính đúng đắn, từ đó có thể thay đổi, bổ sung cho hoàn thiện, thích hợp với thực tiễn để có thể tác động đến thực tiễn một
4 Giáo trình Triết học Mác – Lênin (2019), NXB Hà Nội, tr.148
Trang 10cách tích cực, góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển và đạt được nhiều thành tựu Bên cạnh việc luôn coi trọng thực tiễn cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn
mà xem nhẹ vai trò của nhận thức hay ngược lại, quan trọng hóa vai trò của nhận thức
mà hạ thấp vai trò của thực tiễn sẽ khiến con người ta rơi vào chủ nghĩa thực dụng, luôn trong tình trạng mất phương hướng, mò mẫm hay rơi vào chủ nghĩa giáo điều hàn lâm, chủ quan duy ý chí, xa rời thực tiễn
2 Thực trạng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn trên con đường quá
độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thực tiễn luôn ở tư thế vận động và phát triển, luôn đề ra những vấn đề, nhu cầu đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và nhận thức cho chuẩn xác để đưa ra những tri thức, lý luận phù hợp Nhận thức, lý luận là cả một quá trình tích lũy, phản ánh hiện thực khách quan, bắt nguồn từ thực tiễn, nhận thức phải luôn đi đôi với hành động, phải được áp dụng vào trong thực tiễn và thực tiễn là tiêu chuẩn, thước đo để nhận thức, lý luận quay trở lại kiểm tra độ chính xác của mình từ đó đưa ra những đường lối, phương châm hoạt động thích hợp với điều kiện khách quan Hiểu biết rõ về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà Nước ta đã vận dụng vô cùng đúng đắn và hiệu quả trong thời kỳ đất nước Việt Nam lựa chọn con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Vậy thì Đảng ta đã nhận thức vấn đề như thế nào và áp dụng vào thực tiễn ra sao, đã làm được gì và chưa làm được gì ở giai đoạn đấy
a. Từ thực tiễn để nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng toàn bộ tiến trình của lịch sử loài người là sự kế tiếp nhau giữa các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp đến cao, xen giữa những thời kỳ
đó là thời kỳ quá độ chuyển tiếp Tuy nhiên sự phát triển giữa các hình thái là vô cùng phong phú, đa dạng, quanh co và phức tạp, có khả năng rút ngắn hoặc bỏ qua những giai đoạn phát triển nhất định, bản chất chính là bỏ qua một hay một vài hình thái kinh
tế – xã hội phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, tính chất của từng quốc gia.5 Vậy nên việc lựa chọn từ phong kiến chúng ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách quan Vậy thì Đảng ta đã dựa vào đâu để có thể nhận thức và đưa ra quyết định như vậy?
5 Giáo trình Triết học Mác – Lênin (2019), NXB Hà Nội, tr.173
Trang 11Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975 thành công, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, hoàn thành công cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ phong kiến, đây cũng là lúc chúng ta lựa chọn và tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước Chủ nghĩa tư bản có sự phát triển vượt bậc đặc biệt trong lĩnh vực phát triển lực lượng sản xuất, phát triển mạnh mẽ trong khoa học – công nghệ, nhờ vào đó mà ta có thể thấy những nước tư bản trên thế giới hiện nay có sức phát triển mạnh mẽ, vươn lên xếp vào những vị trí hàng đầu trên thế giới Tuy nhiên Đảng ta đã chỉ rõ bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa là áp bức bóc lột, là tư hữu về sản xuất, mâu thuẫn giai cấp vô cùng gay gắt, là một xã hội bất công, không đảm bảo được tính công bằng, dân chủ mà nhân dân
ta muốn hướng đến và nó không khác gì so với chế độ phong kiến Chúng ta đã trải qua những năm tháng phong kiến vô cùng khốn khổ cuối cùng chúng ta cũng hoàn thành được xứ mệnh giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập tự do dân chủ cho nhân dân, xóa bỏ áp bức bóc lột và mục tiêu cốt yếu chính là hướng đến một xã hội độc lập,
tự do, công bằng, dân chủ, văn minh đặt lên hàng đầu Vậy thì chúng ta không thể tiến lên chế độ chủ nghĩa tư bản, một lần nữa đưa đất nước trở vào lầm than, nhân dân một lần nữa bị tầng lớp thống trị áp bức bóc lột không biết bao giờ mới có thể đấu tranh giải thoát, đồng thời mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh sẽ khó mà có thể hoàn thành Chính vì thế mà Đảng và Nhà Nước ta đã lựa chọn con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa phù hợp với điều kiện của đất nước ở hiện tại, phù hợp với thực tiễn và đồng thời đấy cũng chính là nguyện vọng chính đáng của dân tộc, của toàn thể nhân dân cả nước, tiến đến mục tiêu đất nước dân chủ của dân, do dân và vì dân
Tiếp đến, sau khi đã đưa ra lựa chọn tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà Nước
ta tiếp tục nhận thức về điều kiện của Việt Nam để đề ra những chính sách, mục tiêu cho quá trình quá độ, chuyển tiếp này Đây là một quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi chúng ta phải thay đổi trong nhận thức và tư duy một cách triệt để, khó khăn hơn khi
ta phải chuyển đổi từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp mà không có quá trình chuyển tiếp để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kỹ thuật – công nghệ như ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản Đảng ta đưa ra chủ trương cải tạo một xã hội có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến