BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT DÂN SỰ 1 ĐỀ BÀI: SỐ 17 Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT DÂN SỰ 1
ĐỀ BÀI: SỐ 17
Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế
mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy
định của pháp luật, và giải quyết các yêu cầu.
Hà Nội, 2022
Trang 2Danh sách các thành viên:
Trang 3MỤC LỤC
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
I Tóm tắt bản án 5
II Những điểm chưa hợp lý trong bản án sơ thẩm 7
1 Xác định nguồn gốc đất 7
2 Xác định công sức tôn tạo, quản lí đất 8
III Quan điểm về việc giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật 8
IV Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 12
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM Nhóm: 04
Lớp: N02.TL1
Đề số 17: Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc giải quyết
tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản
án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật, và giải quyết các yêu cầu:
1 Từ bản án, quyết định đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dạng tình huống dài tối đa 1 trang A4 (giãn dòng 1.5, cỡ chữ 14, không giãn đoạn, không giãn chữ).
2 Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quyết định hoặc bản án sơ thẩm
mà nhóm đã sưa tầm và giải thích vì sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp?
3 Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật.
4 Từ việc phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành.
1 Kế hoạch làm việc của nhóm
- Họp phân chia công việc
- Tìm hiểu những kiến thức liên quan đến vấn đề được giao
- Tổng hợp những tư liệu thu thập được và đưa ra bàn luận trong nhóm
- Xây dựng bố cục bài
- Tổng hợp ý kiến xây dựng được thành một bài hoàn chỉnh và trình bày trong word theo những yêu cầu của bộ môn
- Làm powerpoint trình bày bài trong buổi thuyết trình
Trang 52 Phân chia công việc và họp nhóm
Tiến độ
thực hiện (Đúng hạn)
nổi tưởng
1 Nguyễn Ngọc Trọng
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
2 Nguyễn Tiến Tùng
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
3 Lý Thị Viên
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
4 Phan Xuân Vũ
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
5 Phùng Hải Yến
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
6 Nguyễn Tuấn Anh
Thảo luận, đưa ra ý
kiến , trình bày ppt
7 Hoàng Thị Thu Hoài
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
8 Đoàn Quang Huy
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
9 Đỗ Thị Thu Huyền
Thảo luận, đưa ra ý
kiến, thuyết trình
Thảo luận, đưa ra ý
word
11 Nguyễn Hoàng Linh
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
12 Vũ Phương Linh
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
Trang 6Thảo luận, đưa ra ý
A
word
14 Nguyễn Thị Hải Oanh
Thảo luận, đưa ra ý
kiến, trình bày ppt
15 Lê Hữu Phước
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
16 Yialeng Chaphialee
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
17 Nguyễn Văn Tùng
Thảo luận, đưa ra ý
kiến
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Nhóm trưởng (Đã ký) Nguyễn Thị Hải Oanh
2
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
3
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Chê đinh thưa kê la mọt trong nhưng chê đinh đạc biẹt quan trong trong phap luạt dan sư Trong đó, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế Tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế ở nước ta được xem là loại án dân sự phổ biến, phức tạp, kéo dài và khó giải quyết do hầu hết các vụ án đều liên quan đến nhiều người, nhiều thế hệ Một vụ án tranh chấp thừa kế từ lúc thụ lý đến khi giải quyết xong có thể kéo dài nhiều năm, phải xét xử nhiều lần ở nhiều cấp xét xử khác nhau Xuất phát từ những lý do trên, nhận thấy việc xác định đúng di sản thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp về di sản
thừa kế, nhóm chúng em xin lựa chọn đề bài số 17: “Hãy sưu tầm một bản án
sơ thẩm của Toà án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật, và giải quyết các yêu cầu”.
I Tóm tắt bản án
Nguyên đơn: ông Vũ Đắc H Bị đơn: anh Vũ Đức X (con của em trai ông X) Năm 1977, ông H được mẹ giao cho quản lý phần đất có diện tích 470,2 m2 (được 2 bố mẹ ông H sử dụng từ năm 1954) tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: khu D, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang Năm 1979, ông H đi công tác, mẹ ông chết Ông nhờ vợ chồng em trai mình là bố mẹ của anh X trông nom mảnh đất Năm 1986, bố mẹ anh X tự ý xây dựng các công trình trên mảnh đất,
họ nói với ông H là: “Tao mượn đất của mày, khi nào mày về thì anh sẽ mua cho miếng đất khác hoặc chia mỗi anh em một nửa đất” Năm 1991, bố mẹ anh X tự
ý đi kê khai và được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho mảnh đất 470,2m2 Năm
1998, bố anh X chết, mẹ anh tiếp tục quản lý, sử dụng mảnh đất này và được đứng tên trong Giấy chứng nhận QSDĐ năm 2003 Năm 2006, ông H xin mẹ
anh X chia 1/2 diện tích mảnh đất 470,2 m2 nhưng không được đồng ý Cùng năm đó, mẹ anh X sang tên phần đất này cho vợ chồng anh và được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Ông H đề nghị Tòa án chia thừa kế đối với phần đất 470,2m2 là di sản của bố mẹ mình Anh X cho rằng thửa đất đó là
Trang 9di sản của bố mẹ để lại cho anh chứ không phải của ông bà nội nên từ chối yêu cầu của ông H Năm 2017, ông H nộp đơn khởi kiện vụ án chia thừa kế Tuy nhiên, sau khi anh X hỗ trợ 30.000.000 đồng để ông H mua một thuở đất khác thì ông đã rút lại đơn khởi kiện và cam kết không tranh chấp Khi ông H nộp đơn khởi kiện lại vụ án do thấy quyền lợi của mình không được đảm bảo, anh X không nhất trí vì những phần tài sản trên mảnh đất tranh chấp do bố mẹ anh và anh xây dựng từ năm 1986 đến năm 2006 Tuy nhiên, anh X không thể cung cấp bằng chứng về số tiền xây dựng các tài sản trên đất cho Tòa án Anh X cũng không rõ công sức cụ thể của cha mẹ để tôn tạo lại mảnh đất này là bao nhiêu Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thành viên trong gia đình cũng khẳng định mảnh đất là di sản thừa kế của bố mẹ ông H - là ông bà nội của anh
X chưa được phân chia Khẳng định những nội dung trình bày ở trên là đúng và các thành viên cũng không đề nghị gì về quyền lợi UBND huyện T thì khẳng định: Việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho bố mẹ anh X năm 1991, cấp đổi Giấy chứng nhận QSDĐ cho mẹ anh X năm 2003 và việc mẹ anh X tặng cho vợ chồng anh mảnh đất đó năm 2006 được thực hiện đúng quy định của pháp luật Quy định của pháp luật được áp dụng: Điều 95; Điều 100; Điều 166; Điều
167 Luật đất đai; Điều 613; Điều 623; Điều 649; Điều 650; khoản 1, khoản 2 Điều 651; Điều 652; khoản 1, khoản 3 Điều 658; khoản 2 Điều 660 của BLDS; khoản 5 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 165; khoản 02 Điều 219; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 của BLTTDS; Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/06/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm quán Tòa án nhân dân tối cao; phần I Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số: 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm đ khoản 01 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DSST ngày 30/7/2018 của TAND huyện T, tỉnh Bắc Giang quyết định: Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản thừa kế là
5
Trang 10thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24 có diện tích 470,2m2; đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đắc H về việc hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số: AG 812935812935
do UBND huyện T cấp ngày 23/11/2006 cho vợ chồng anh X
II Những điểm chưa hợp lý trong bản án sơ thẩm
1 Xác định nguồn gốc đất
Qua lời cung cấp: Chị Dương Thị L, anh Dương Ngọc C, chị Dương Thị
Kh, anh Dương Ngọc T, anh Dương Ngọc T1, anh Dương Đình A đều và là con của bà Vũ Thị Ch, ông Dương Ngọc M2 (là cháu ngoại của cụ Vũ Đắc Th3, cụ Ngô Thị C); anh Vũ Đắc Th là con ông Vũ Đắc M, bà Nguyễn Thị Ph (cháu nội của cụ Vũ Đắc Th3, cụ Ngô Thị C) Các anh chị đều khẳng định thửa đất số 25,
tờ bản đồ số 24, có diện tích đất 470,2m2 này là di sản thừa kế của cụ Th3 và cụ
C chưa được phân chia
Tại Biên bản xác định tài sản chung ngày 10/01/2016, các cháu nội và cháu ngoại của cụ Th3 và cụ C đều thừa nhận: Khi cụ Th3 và cụ C chết có để lại di sản là thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24, có diện tích đất là 470,2m2 tại khu Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang
Một số người cao niên tại địa phương làm chứng: trong khu Đ, thị trấn C như ông Ngô Văn Ch5, bà Ngô Thị Th5, ông Ngô Văn D cũng đã xác nhận cho ông phần đất do vợ chồng anh X đang quản lý, sử dụng là của bố mẹ ông để lại Đánh giá đây là một trong những tình tiết quan trọng vì đây là những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người cao niên hiểu biết khá rõ về nguồn gốc đất nhưng lại không được tòa án xác minh
Qua biên bản họp gia đình Năm 2006: Ông Vũ Đắc H đã đề nghị chia thừa
kế phần đất 470,2m2 mà cụ Th3, cụ C để lại Khi họp gia đình, ông H đã đưa ra nội dung đề nghị bà H1 chia cho ông H một phần đất để ông H làm nhà nhưng
bà H1 không đồng ý Do cụ Th3 chết từ năm 1962, cụ C chết từ năm 1979, đối chiếu quy định của pháp luật thì thời hiệu chia thừa kế của cụ Th3 và cụ C đã hết nên buổi họp gia đình về nội dung này đã không thành Qua biên bản làm việc thì ta thấy sự gián tiếp công nhận về nguồn gốc đất, bà H không chia đất
Trang 11cho ông H vì vấn đề thời hiệu chia di sản thừa kế đã hết chứ không phải do đất không phải của cha ông để lại
Không kiểm tra nguồn gốc đất tại cơ quan đăng kí quyền sử dụng đất Qua một số căn cứ trên cũng như bản án sơ thẩm, ta nhận thấy tòa án đã thiếu trách nhiệm trong việc xác định nguồn gốc mảnh đất để xác minh xem đó
có phải là di sản để lại chưa được chưa thừa kế hay không Tòa án đã kết luận mảnh đất này không phải di sản để lại của cụ C và cụ Th3, việc này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
2 Xác định công sức tôn tạo, quản lí đất
Mảnh đất 470,2m2 đất, tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24, địa chỉ thửa đất tại Khu Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang được ông L1, bà H1 và anh X có công sức tôn tạo, quản lí và sử dụng đất liên tục từ năm 1984 Trong thời gian này, gia đình ông L1, bà H1 và anh X đã san lấp, cải tạo hiện trạng đất, xây dựng các công trình như nhà, công trình phụ và trồng cây Quan trọng hơn, đây đều là những vấn đề quan trọng nhưng không được tòa án lấy ý kiến, xác nhận
III Quan điểm về việc giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật
Để phù hợp với quy định của pháp luật, tòa án cần xử lý như sau: Hợp đồng tặng cho đất đai giữa bà H1 và vợ chồng anh X, chị Th1 phải bị vô hiệu
CƠ SỞ PHÁP LÝ
Điều 194 BLDS 2015 quy định về quyền định đoạt của chủ sở hữu
Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Điều 195 BLDS 2015 quy định về quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo
ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.
7
Trang 12Điều 617 BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ của người quản lý di sản:
Điều 650 BLDS 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp
luật
NỘI DUNG Theo điều 194 và 195, ta thấy chỉ có chủ sở hữu tài sản mới có quyền định đoạt tài sản mà thửa đất đang tranh chấp không hoàn toàn thuộc sở hữu của bà H1 Vậy nên bà H1 không có quyền định đoạt mảnh đất qua việc tặng cho vợ chồng anh X và chị Th1
Bà H1 khai rằng mảnh đất lúc đầu thuộc sở hữu của chồng mình là ông L1, sau khi ông L1 chết thì mảnh đất thuộc quyền sở hữu của bà và đương nhiên là
bà H1 có quyền định đoạt mảnh đất như việc tặng cho con của mình là anh X và chị Th1 Song tòa án chưa có sự điều tra rõ ràng nguồn gốc của mảnh đất mà chỉ dựa vào lời khai của bên bị đơn mà công nhận mảnh đất thuộc quyền sở hữu của
bà H1 mà mảnh đất không phải của cụ Th3 và cụ C để lại Sau khi điều tra lại, các lời khai của nhiều nhân chứng bao gồm cả hàng xóm và các con cháu của cụ Th3 và cụ C đều cho rằng mảnh đất là do cụ Th3 và cụ C chết để lại Qua xác minh xác minh tại UBND xã C, ông Vũ Đắc V1 là Phó chủ tịch và bà Đặng Thị L5 là công chức địa chính UBND xã C đã cho Tòa án biết: Ông Vũ Đắc L1 đã
có Đơn đăng ký quyền sử dụng đất gửi UBND tỉnh Hà Bắc có nội dung: Đề nghị UBND tỉnh Hà Bắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình đối với thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, xứ đồng số 4, diện tích đất là 452m2 cùng với đó là “Đơn xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của ông
Vũ Đắc L1 ngày 05/3/1990 đã ghi rõ: “Nguồn gốc của thửa đất số 664, tờ bản đồ
số 6, xứ đồng số 4, diện tích đất là 452m2 là của cha ông để lại”
Cụ Th3 và cụ C chết không để lại di chúc vậy mảnh đất phải được chia thừa kế theo pháp luật được quy định ở điều 650
Phải xác định vợ chồng cụ Th3 và cụ C có nghĩa vụ nào phải thực hiện không trước khi chia di sản
Toà không có quyền bác yêu cầu khởi kiện của ông H tại vì ông H cũng là con của cụ Th3 và cụ C Vậy nên ông H cũng có quyền được hưởng thừa kế theo
Trang 13pháp luật, và được một phần của mảnh đất Việc bác yêu cầu khởi kiện của ông
H là vô căn cứ, chưa điều tra rõ nguồn gốc của mảnh đất
Ta nhận thấy trên thực tế vợ chồng bà H1, vợ chồng anh X có công sức tôn tạo, duy trì mảnh đất trong thời gian dài Có công sức, đóng góp thể hiện qua việc tôn tạo, san lấp vùng trũng lầy, xây dựng công trình kiên cố Nên khi tiến hành chia di sản thừa kế của cụ Th3 và cụ C cho bà H1 và vợ chồng anh X Hiện nay, đối với những tranh chấp đất đai Tòa án căn cứ dựa trên án lệ số 02/2016/AL về việc xác định công sức đóng góp để xác định công sức đóng góp, bảo quản, giữ gìn đất đai Đối tượng muốn nói đến ở đây là gia đình bà H1
và vợ chồng anh X
Theo như án lệ 02/2016/AL thì ta có một số vấn đề cần lưu ý: Xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất Đầu tiên tiến hành thẩm định giá quyền sử dụng đất
Tiếp theo tiến hành xác định phần giá trị tài sản được tăng thêm so sánh với giá trị tài sản nếu không được giữ gìn, tôn tạo
Cuối cùng lấy phần giá trị tăng thêm đó để chia theo công sức đóng góp của từng cá nhân Nếu không xác định được công sức đóng góp thì chia đều
Ở trường hợp này thì cũng không sử dụng được vấn đề thời hiệu ở điều 623 BLDS 2015 vì vấn đề người quản lí di sản đã vi phạm nghĩa vụ của người quản lí
di sản ở điều 617 trong việc định đoạt tài sản không phải của mình bằng việc xác lập quyền sở hữu và tặng cho người khác
Qua đây, nhóm nhận định hướng giải quyết:
+ Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh X chị
Tl1 + Chia lại di sản theo pháp luật
+ Xem xét công sức tôn tạo của bà H1 và vợ chồng anh X chị Tl1 và trích 1 phần di sản trả cho công lao của họ
IV Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành
Tranh chấp đất đai luôn là một đề tài nóng hổi trong đời sống hiện nay, PL
ra đời với các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó trong việc giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội hiện
9
Trang 14nay, đặc biệt là vấn đề tranh chấp đất đai Tuy nhiên không phải ai cũng hoàn hảo và pháp luật cũng vậy, nó cũng xuất hiện một vài điểm bất cập, thiếu sót
Do vậy, chúng tôi đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện như sau:
Thứ nhất, do hệ thống pháp luật phải có sự đồng bộ, thống nhất từ trên
xuống dưới Vậy nên, việc hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về đăng
ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng cần phải được đặt trong tổng thể định hướng sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện pháp luật đất đai trong một tổng thể thống nhất, đồng bộ chính sách, pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan, từ Hiến pháp đến
Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai và các quy định pháp luật có liên quan về tài sản gắn liền với đất trong các Luật, như: Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Quản lý và sử dụng tài sản công, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Quy hoạch; Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng,…
Thứ hai, các nhà làm luật cần xây dựng các quy định pháp luật về đăng ký
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta theo tư duy, nhận thức mới
về quyền sử dụng đất trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được quy định trong Hiến pháp 2013 Do vậy, quyền sử dụng đất được khẳng định là một loại quyền tài sản, được luật pháp bảo hộ Tính minh bạch về quyền tài sản đất đai là một trong những yếu tố cơ bản, nền tảng để xây dựng và phát triển một thể chế thị trường đất đai hiệu quả Theo đó, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cũng thuộc phạm trù đăng ký tài sản (bất động sản, động sản và quyền tài sản) theo phạm vi, đối tượng điều chỉnh về đăng ký tài sản là bất động sản và quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự, trong Luật Đất đai và các quy định pháp luật có liên quan về tài sản gắn liền với đất,
Thứ ba, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển của công
nghệ số, việc áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật vào xây dựng pháp luật hiện hành cũng là một ý tưởng không tệ Vì vậy, các nhà làm luật cũng cần xây dựng các quy định pháp luật về đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng